Trương Nhân Tuấn – Về bài nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt trong Hội thảo Hè 2010 tại Philadelphia, Hoa Kỳ (1)
17/08/2010 | 12:00 chiều | 11 Comments
Category: Quan hệ Việt-Trung
Thẻ: Hoàng Sa-Trường Sa > Vũ Quang Việt
Bài nghiên cứu của Tiến Sĩ Vũ Quang Việt đã được chính thức công bố trên trang nhà Thời Đại Mới vào ngày 12 tháng 8 năm 2010, với nhan đề: “Tranh chấp Biển Đông Nam Á đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế“, dài khoảng 100 trang giấy A4, nội dung tóm lược có thể theo dõi ở hai bài tác giả trả lời phỏng vấn BBC vào cuối tháng 7-2010[1] và RFA vào đầu tháng 8–2010[2].
Như nhan đề của nó đã nói, bài nghiên cứu này đề nghị một giải pháp hòa bình và công lý, nhằm giải quyết tranh chấp Biển Đông (mà TS Vũ Quang Việt gọi là biển Đông Nam Á) trên nền tảng lịch sử chủ quyền và công pháp quốc tế. Bài có ba phần, Phần I. Bối cảnh – Sự trỗi dậy của một cường quốc quân sự. Phần II: Xem xét lại những yêu sách dựa trên “chủ quyền lịch sử”. Phần III: Đi tìm giải pháp hòa bình và công lý.
Về tác giả, TS Vũ Quang Việt là thành viên sáng lập nhóm Hội thảo Hè, gồm những trí thức, học giả… có thể gọi là tiêu biểu của người Việt trong và ngoài nước hiện nay. Bài nghiên cứu này được trình bày tại Hội thảo Hè với chủ đề “Tranh chấp Biển Đông Nam Á và vấn đề an ninh con người” (Southeast Asian Sea Conflicts and Human Security), tổ chức từ ngày 29 đến 31 tháng 7 năm 2010 tại tiểu bang Philadelphia, Hoa Kỳ. Mặc dầu có lời rào đón của TS Vũ Quang Việt rằng bài nghiên cứu thể hiện quan điểm cá nhân, nhưng vì tác giả là thành viên sáng lập nhóm Hội thảo Hè và cũng là thành viên của Ban Tổ chức năm nay, nên bài nghiên cứu của ông có tầm quan trọng đặc biệt.
Theo ý kiến cá nhân tôi, bài nghiên cứu này, mà nội dung thể hiện qua các bài phỏng vấn trên BBC và RFA nêu trên, đã có tác động tai hại đến hồ sơ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Nó gây cho người đọc (hay nghe) một cảm giác hoài nghi về nền tảng lịch sử chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa (và Hoàng Sa, trong chừng mực nhất định). Về cơ sở pháp lý cũng vậy, nó cũng tạo nên một nỗi hoang mang về hồ sơ chứng minh quyền chủ quyền của Việt Nam ở các đảo thuộc Trường Sa.
Ở bài này tôi chỉ góp một số ý kiến về bài nghiên cứu của TS Vũ Quang Việt trên ba phương diện: 1/ công pháp quốc tế, 2/ lịch sử chủ quyền và 3/ nhận định về một phương pháp giải quyết tranh chấp biển Đông.
Tôi cũng hy vọng sẽ được tham khảo ý kiến của những nhà nghiên cứu, những học giả khác.
*
1. Về công pháp quốc tế
Bài nghiên cứu của TS Vũ Quang Việt bỏ sót, hay chỉ nói một cách sơ lược, một giai đoạn lịch sử pháp lý quan trọng, có thể gọi là khúc quanh về pháp lý, có thể xác định được ai nắm chủ quyền đích thực tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là giai đoạn thành hình các hiệp ước hòa bình mà Nhật Bản đã phải ký kết với các nước mà trước đó Nhật đã gây chiến. Điển hình là Hòa ước San Francisco ngày 8 tháng 9 năm 1951, cũng như Hòa ước Trung-Nhật ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952. Ngoài ra cũng phải nhắc lại các tuyên bố hay thỏa ước liên hệ đến Hòa ước San Francisco ở trên như Hội đàm tại Caire 23 đến 26 tháng 11 năm 1943, Mật ước Yalta 11-2-1945[3] , tối hậu thư Potsdam[4] gởi cho Nhật Bản ngày 26 tháng 7 năm 1945 cũng như các điều kiện mà Nhật Bản chấp nhận đầu hàng[5], Thỏa ước Pháp-Trung ký tại Trùng Khánh ngày 28 tháng 2 năm 1946, v.v…
Các kết ước hay tuyên bố này quan trọng vì nó xác định số phận (điều kiện chuyển nhượng) của các vùng lãnh thổ, hải đảo mà Nhật đã chiếm của các nước khác từ trước Thế chiến II, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratleys) của Việt Nam lúc đó đang dưới quyền bảo hộ của Pháp. Nội dung của các tuyên bố hay hiệp ước này không thể không xem xét nếu muốn tìm hiểu một cách đúng đắn lịch sử chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hòa ước San Francisco 1951 được thương thảo và ký kết giữa phe bại trận là Nhật Bản với phe chiến thắng là các nước Đồng minh, trong khoảng thời gian chiến tranh Đại Hàn đang bùng nổ mà cuộc chiến này là cuộc đụng độ đầu tiên giữa hai khối tự do và cộng sản, mở đầu cho chiến tranh lạnh. Vì thế Hòa ước San Francisco mang âm hưởng chính trị, kết quả của nó đầy toan tính chiến lược hơn là một hòa ước đúng nghĩa.
Việt Nam là một thành viên ký kết vào Hòa ước San Francisco. Vào thời điểm đầu hàng, 14-8-1945, Nhật đã có tuyên chiến với 46 nước, trong đó không có Việt Nam. Từ thời điểm này đến ngày mở đầu Hội nghị San Francisco ngày 4 tháng 9 năm 1951 thì hội nghị đón nhận thêm 9 nước khác (tuyên bố chiến tranh với Nhật). Các nước này đa phần là các nước đã bị Nhật chiếm đóng lúc chiến tranh, nhưng vì các lý do như đang ở tình trạng dưới quyền bảo hộ của một nước khác, không tự chủ về ngoại giao, do đó đã không có phản ứng đúng lúc. Một trong 9 nước đó là Việt Nam.
Như thế Nhật Bản phải ký hòa ước với tất cả các nước mà họ đã gây chiến (hay tuyên bố chiến tranh), trong đó có Việt Nam. Các điều khoản của hòa ước quan trọng vì nó đề cập đến việc bồi thường chiến tranh mà Nhật đã gây ra cho các nước liên hệ.
Đối với Việt Nam, việc tham dự hội nghị với tư cách một nước độc lập, có tuyên bố chiến tranh với Nhật, thì tầm quan trọng không chỉ ở việc có quyền đòi hỏi bồi thường, mà tiếng nói của Việt Nam về số phận của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị cũng có giá trị quyết định nếu không gặp sự phản đối.
Nhưng quan hệ giữa Nhật và Pháp vào lúc chiến tranh cũng quan trọng không kém vì Việt Nam là thuộc địa của Pháp. Pháp đứng về phía các nước có tuyên chiến với Nhật rất trễ, chỉ vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, sau khi bị Nhật tước vũ khí và tuyên bố chấm dứt sự can thiệp của Pháp tại Đông Dương. Nhưng vị trí của Pháp trong các nước Đồng minh cũng được trọng vọng, nhất là sau khi Nhật đầu hàng, vì được Anh ủng hộ. Thái độ của Pháp trong thời gian sau 1945 cũng có ảnh hưởng quyết định lên chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Về các điều khoản liên hệ đến lãnh thổ của Hòa ước San Francisco (điều 2), Nhật phải từ bỏ mọi đòi hỏi chủ quyền tại: (a) Triều Tiên, và công nhận nền độc lập của xứ này, (b) đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, (c) quần đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline cũng như các đảo khác đã nhượng cho Nhật qua Hiệp ước Portsmouth năm 1905, (d) tại các đảo đã được giao cho Hội Quốc Liên quản lý và theo quyết định của Hội đồng Bảo an ngày 2 tháng 4 năm 1947, e/ vùng Bắc cực, (f) các quần đảo Spratly (Trường Sa) và quần đảo Paracels (Hoàng Sa).
Như thế, ngoại trừ Triều Tiên và các đảo đã được Hội Quốc Liên quản lý trước đó đã được xác định rõ số phận, các đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline, vùng Bắc cực và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì không xác định là sẽ giao cho nước nào quản lý.
Điều đáng ghi nhận là điểm mờ về pháp lý này đã được Pháp đề nghị và được chấp thuận tại hội nghị. Tức là Pháp đã đề nghị trước hội nghị là các vùng đất ghi trên sẽ không nói rõ nước nào sẽ quản lý sau này.
Một số giải pháp về số phận các vùng đất nói trên được đề nghị tại hội nghị như sau:
(a) Các vùng đất đó thuộc quyền quản lý của tất cả các nước có tuyên bố chiến tranh với Nhật, tức hình thức “cộng đồng quản lý” (condominium). Việc chuyển nhượng chủ quyền trên thực tế đã được thực hiện trong lúc Nhật ký kết Tuyên bố Potsdam đầu hàng vô điều kiện. (Phía Pháp có hai lập trường. Lập trường thứ nhất chia sẻ đề nghị này. Lập trường thứ hai là đề nghị (c) phía dưới).
(b) Các vùng đất này thuộc quyền quản lý của các nước ký kết vào Hòa ước. Đề nghị này bị Liên Xô chống đối; Ấn Độ và hai nước Trung Hoa thì đòi hỏi “cộng đồng quản lý” trên những vùng lãnh thổ của Nhật.
(c) Các vùng đất này trở thành đất vô chủ (terrae derelictae).
(d) Các vùng đất này trở thành đất vô chủ, người ta có thể chiếm hữu. Điều này hàm ý, những nước tham chiến đang chiếm đóng tạm thời tại các vùng lãnh thổ đó có thể chiếm đóng vĩnh viễn và tuyên bố chủ quyền.
Lý ra, Hòa ước San Francisco phải theo nội dung Hội đàm Caire[6] tháng 11 năm 1943, được công bố ngày 1 tháng 12 năm 1945, gọi là Tuyên bố Caire, giữa đại diện ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa là Theodore Roosevelt, Winston L.S. Churchill và Tưởng Giới Thạch (蒋介石). Hội đàm này xác định quyền lợi của Trung Hoa để nước này đứng về phía Đồng minh tuyên bố chiến tranh với Nhật. Các điều kiện để Trung Hoa đứng về phía Đồng minh được xác định rõ rệt trong Tuyên bố. Nội dung tóm lược những vùng lãnh thổ mà Nhật phải trả lại là:
– Tất cả những đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm từ sau Thế chiến I;
– Trả lại cho Trung Hoa những vùng mà Nhật đã cướp của Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ (澎湖諸島);
– Tất cả các vùng lãnh thổ mà đế quốc Nhật đã chiếm bằng vũ lực;
– Nhân dân Hàn Quốc lấy lại chủ quyền đất nước mình trong một thời gian nhất định.
Tuyên bố cũng nhấn mạnh: “Tam đại cường quốc đồng minh có mục tiêu chấm dứt sự xâm lược của Nhật Bản mà không nhằm vào việc bành trướng về lãnh thổ.”
Ghi nhận quan trọng khác là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã không được xem là lãnh thổ của Trung Hoa, bởi vì những vùng lãnh thổ của Trung Hoa bị Nhật “cướp” đã được xác định rõ rệt trong tuyên bố là Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Ghi nhận khác là Liên Xô cũng đã ký nhận nội dung Tuyên bố Caire. Nhưng vì đến năm 1951 thì có đến 2 nước Trung Hoa, một ở Đài Loan và một ở lục địa. Do đó nội dung điều 2 của Hòa ước San Francisco không xác định giao các đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ lại cho phe nào. Hòa ước San Francisco cũng không có sự hiện diện của hai phe Trung Hoa, vì không thể mời bên này bỏ bên kia. Do đó, hội nghị chấp nhận để Nhật có toàn quyền lựa chọn phe để ký hòa ước. Rốt cục Nhật đã chọn phe Trung Hoa Dân quốc để ký hòa ước. Hòa ước Trung-Nhật được ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952, trong đó khoản nói về lãnh thổ được lặp lại nguyên văn nội dung điều (2) của Hòa ước San Francisco: Nhật từ bỏ chủ quyền tại các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Hoàng Sa, Trường Sa nhưng không xác định là trả cho phe nào.
Rốt cục đề nghị (d) đã được mặc nhiên chấp thuận. Tức là phe lâm trận nào chiếm ở đâu thì sẽ tuyên bố chủ quyền ở đó. Đài Loan và quần đảo Bành Hồ đã được thực hiện như vậy.
Về phía Pháp, do đã toan tính trước, Pháp liền ký kết với Trung Hoa Hiệp ước Trùng Khánh (Tchong Quing) ngày 28 tháng 2 năm 1946. Theo đó quân đội Trung Hoa sẽ rời Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946 để quân Pháp vào thay thế. Đổi lại, Pháp tuyên bố hủy bỏ tất cả các quyền lợi và tô giới của Pháp tại Trung Hoa đồng thời cam kết dành sự ưu đãi về kinh tế cho Trung Hoa, như nhượng tuyến đường xe lửa Vân Nam – Hải Phòng, dành ưu đãi về kinh tế, kiều dân Trung Hoa sống tại Việt Nam được hưởng qui chế ưu đãi đặc biệt.
Trong khi đó, phía nam vĩ tuyến 16, vì lý do chiến lược, Anh cũng đồng ý nhượng quyền lại cho Pháp.
Về thái độ của Anh về chủ quyền của Pháp tại Trường Sa, mặc dầu nước này đã có tuyên bố chủ quyền tại quần đảo Trường Sa từ các năm 1877, nhưng đã tuyên bố không giành chủ quyền với Pháp[7].
Sau khi quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa năm 1946, Pháp đã gởi quân đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để khẳng định chủ quyền. Tại Hoàng Sa và Trường Sa, quân đội Pháp-Việt đã có mặt từ tháng 5 năm 1946. Đến tháng 10-1946, quân Pháp ra đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa, đóng mốc mới, khẳng định lại chủ quyền.
Như thế, hành động của Pháp phù hợp hoàn toàn theo đề nghị (d) về việc giải quyết các vùng đất do Nhật từ bỏ. Pháp đã khẳng định lại chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, dưới sự mặc nhiên chấp thuận của Hoa Kỳ và Anh.
Sự chấp thuận của Anh thể hiện qua bức thư của Bộ Ngoại giao Anh gởi chính phủ Úc ngày 24 tháng 10 năm 1950[8], theo đó Anh, vì quyền lợi chiến lược, phải giao các đảo này cho Pháp, không thể giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Phi hay bất cứ một nước nào khác, nhất là Trung Quốc.
Sự chấp thận của Hoa Kỳ thể hiện qua hai hành động:
Thứ nhất: Ngày 6 tháng 11 năm 1946, Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố nước này chuẩn bị đặt các hải đảo trong Thái Bình Dương do Nhật chiếm trước kia dưới sự kiểm soát của UNO, với Hoa Kỳ đóng vai trò quản lý. Ngày 2 tháng 4 năm 1947, Hội đồng Bảo an ra nghị quyết chấp thuận đề nghị của Hoa Kỳ. Như thế, số phận các đảo trong Thái Bình Dương đã được giải quyết nhiều năm trước khi có Hòa ước San Francisco. Chiếu theo nghị quyết trên, Hoàng Sa và Trường Sa xem như đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không lên tiếng gì về chủ quyền hai quần đảo này, vì lúc đó hai quần đảo này đã do Pháp quản lý. Điều này cho thấy Hoa Kỳ mặc nhiên chấp thuận Pháp có chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Thứ hai: Theo tài liệu của tổ chức GATO (General Agreement On Tariffs And Trade) tiền thân của WTO, ngày 16-4-1951, trong đó sắp xếp theo địa lý các vùng trao đổi thuơng mại với Hoa Kỳ, Hoàng Sa và Trường Sa đã được cơ quan này xếp vào lãnh thổ của Việt Nam[9]. Việc này cho thấy Hoa Kỳ đã chấp nhận chủ quyền của Pháp tại Hoàng Sa và Trường Sa một cách rõ rệt.
Mặt khác, tại Hội nghị San Francisco, đại diện Quốc gia Việt Nam là ông Trần Văn Hữu, đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này và không bị một sự chống đối nào. Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách một nước độc lập, có tuyên chiến với Nhật, do đó có tư cách pháp nhân để đưa ra ý kiến của mình về số phận các vùng đất mà Nhật Bản đã buộc bị từ bỏ. Việt Nam đã ký kết Hòa ước, Nhật Bản cam kết bồi thường cho Việt Nam 39 triệu đô la tương đương giá trị hàng hóa và công trình xây dựng. Nếu việc bồi thường đã chấp thuận thì việc tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa đương nhiên là có giá trị pháp lý. Nhưng vấn đề là lúc đó Việt Nam không có khả năng tiếp thu hai quần đảo này từ tay Nhật. Vì thế thái độ của Pháp – mặc dầu chỉ vì quyền lợi của Pháp – vô tình cũng có lợi cho Việt Nam, vì Pháp đại diện cho Việt Nam đã tiếp thu, tuyên bố chủ quyền và chiếm đóng thực sự trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Như thế, việc xác định chủ quyền các đảo tại Thái Bình Dương qua Hòa ước San Francisco 1951, mặc dầu không xác định một cách rõ rệt, nhưng đó là sự cố ý có tính toán của các đại cường Anh, Hoa Kỳ và Pháp.
Hội nghị San Francisco diễn ra trong lúc cuộc chiến Triều Tiên đang bùng nổ mãnh liệt, với các bên tham chiến là Liên Xô và Trung Quốc một bên và Hoa Kỳ và các Đồng minh một bên. Các đảo ở Thái Bình Dương đều có vị trí chiến lược quan trọng, do đó Hoa Kỳ không thể để chúng lọt vào phe cộng sản. Trong khi đó, phe Đồng minh lại cần sự ủng hộ của Pháp. Do đó các cường quốc đã dàn xếp để Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Pháp, thay vì về phía Tưởng Giới Thạch như nhiều học giả Trung Quốc đã nghĩ.
Riêng về phe Tưởng Giới Thạch tại Đài Loan, nếu không có cuộc chiến Triều Tiên thì Hoa Kỳ và các nước Đồng minh đã bỏ rơi chính phủ này cho Mao Trạch Đông. Ta đã thấy các đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ lý ra phải được ghi chú rõ rệt, như Tuyên bố Caire 1943 đã cam kết với Tưởng Giới Thạch, chúng thuộc về Trung Hoa Dân quốc. Nhưng kết cuộc Hòa ước San Francisco đã hoàn toàn không ghi như vậy. Đến nay người ta không biết số phận các đảo trên sẽ giao về cho phe Mao hay phe Tưởng.
Phe Tưởng sau khi ký Hiệp ước Trùng Khánh với Pháp tháng 3 năm 1946, đồng ý để cho Pháp thay thế mình trong việc giải giới quân Nhật ở các vùng phía bắc vĩ tuyến 16, vài tháng sau mới thấy bị hớ. Do đó họ tìm cách đổ quân lên đảo Phú Lâm thuộc nhóm An Vĩnh của quần đảo Hoàng Sa, hy vọng giành lại quần đảo này từ tay Pháp. Nhưng những hành động này, như việc đổ quân chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa đều trái công pháp quốc tế, vì đây là hành động xâm chiếm một vùng đất đã có chủ quyền.
Hồ sơ chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về phương diện pháp lý vì thế hết sức vững chắc. Giả sử vấn đề tranh chấp được phân giải trước một tòa án quốc tế, do việc Hòa ước San Francisco không xác định được chủ quyền các vùng lãnh thổ do Nhật từ bỏ sẽ thuộc về ai, việc chiếm đóng không được tòa tiếp nhận là có giá trị về chủ quyền, thì lúc đó hồ sơ về lịch sử sẽ đóng vai trò quyết định. Mà hồ sơ này của Việt Nam, phần lớn các chuyên gia về pháp lý đều công nhận là vững chắc hơn bất kỳ hồ sơ của nước nào.
(Còn 1 kì)
© 2010 Trương Nhân Tuấn
© 2010 talawas
[1]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/07/100729_biendong_conference.shtml
[2] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Interview-Dr-Vu-Quang-Viet-regarding-his-opinions-about-Spratlys-Islands-MLam-08032010195750.html
[3] Mật ước Yalta, ký ngày 11 tháng 2 năm 1945 giữa đại diện của Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô tại Yalta. Theo đó Stalin chỉ chấp nhận tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản sau khi Đức thua trận. Nội dung mật ước liên hệ đến các đòi hỏi của Liên Xô để nước này tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản. Gồm có các khoản: giữ nguyên trạng xứ Ngoại Mông (Mông Cổ); trả lại cho Liên Xô phần phía nam đảo Sakhaline; nhượng cho Liên Xô quần đảo Kouriles. Tuy nhiên, việc thi hành Mật ước Yalta gặp khó khăn vì có mâu thuẫn giữa Liên Xô và Hoa Kỳ trong các buổi họp làm việc “tiền hội nghị” San Francisco 1951. Lập trường của Liên Xô là vấn đề chuyển nhượng chủ quyền lãnh thổ đã được xác định qua nội dung của Mật ước. Lập trường của Hoa Kỳ cho rằng Mật ước chỉ có hiệu lực sau khi một hiệp ước chung cuộc chấm dứt cuộc chiến được ký kết bởi tất cả các nước Đồng minh. Hoa Kỳ chỉ cam kết ủng hộ đòi hỏi của Liên Xô theo tinh thần Mật ước Yalta trong Hội nghị San Francisco. Nhưng Thuợng viện Hoa Kỳ, lúc thông qua Hòa ước San Francisco, đã đính kèm một tuyên bố xác định rằng toàn bộ nội dung Hòa ước không có điều nào dẫn đến việc Hoa Kỳ phải nhìn nhận nội dung Mật ước Yalta 11-2-1945.
[4] Tối hậu thư Potsdam (Tuyên bố Potsdam) của các nước Đồng minh là Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gởi cho Nhật Bản ngày 26 tháng 6 năm 1945, một số điều bó buộc Nhật Bản phải chấp nhận gồm có các việc: thi hành các điều đã xác định theo tuyên bố Caire; lãnh thổ Nhật Bản sẽ chỉ giới hạn trên các đảo Hondo, Hokkaido, Kiousiou và Si Kok cũng như trên một số đảo nhỏ khác sẽ được xác định do các nước đồng minh; Nhật sẽ bị hoàn toàn giải giới và các lực lượng quân đội Nhật sẽ giải ngũ. Liên Xô ký nhận vào Tuyên bố Potsdam ngày 8 tháng 8 năm 1945.
[5] Ngày 10 tháng 8 chính phủ Nhật cho biết họ sẵn sàng chấp nhận các điều kiện của Tối hậu thư Potsdam đòi hỏi vì họ nghĩ rằng nội dung Tối hậu thư không có điều nào xúc phạm đến đặc quyền của Nhật Hoàng. Ngày 11 tháng 8, Hoa Kỳ, nhân danh các nước Đồng minh, xác định lại rằng thẩm quyền của Nhật hoàng và chính phủ Nhật sẽ đặt dưới quyền lãnh đạo tối cao của lực lượng Đồng minh.
Ngày 14-8-1945 Nhật tuyên bố đầu hàng. Ngày 31 tháng 8, tại Yokohama, McArthur thành lập ban Chỉ huy Đồng minh Tối cao. Ngày 2 tháng 9 đại diện Nhật Hoàng ký vào văn bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện với tướng Douglas Mac Arthur tại vịnh Tokyo. Mac Arthur đại diện các nước Đồng minh là Hoa Kỳ, Anh, Trung Hoa và Liên Xô cũng như đại diện cho quyền lợi các nước đã tuyên bố chiến tranh với Nhật. Văn kiện đầu hàng không điều kiện được đại diện 9 nước sau đây ký nhận: Hoa Kỳ, Trung Hoa, Anh, Liên Bang Xô-viết, Úc, Canada, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp, Hòa Lan và Tân Tây Lan. Sự kiện này cần nhắc nhở vì sự hiện diện của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp trong văn bản đầu hàng của Nhật Bản là một sự kiện quan trọng (cho việc khẳng định chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).
[6] Nguyên văn Tuyên nố Caire: President Roosevelt, Generalissimo Chiang Kai-shek and Prime Minister Churchill, together with their respective military and diplomatic advisors, have completed a conference in North Africa. The following general statement was issued:
“The several military missions have agreed upon future military operations against Japan. The three great Allies expressed their resolve to bring unrelenting pressure against their brutal enemies by sea, land and air. This pressure is already rising.
“The three great Allies are fighting this war to restrain and punish the aggression of Japan. They covet no gain for themselves and have no thought of territorial expansions. It is their purpose that Japan shall be stripped of all the islands in the Pacific which she has seized or occupied since the beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and the Pescadores, shall be restored to the Republic of China. Japan will also be expelled from all other territories which she has taken by violence and greed. The aforesaid three great powers, mindful of the enslavement of the people of Korea, are determined that in due course Korea shall become free and independent.
“With these objects in view, the three Allies, in harmony with those of the United Nations at war with Japan, will continue to preservere in the serious and prolonged operations necessary to procure the unconditional surrender of Japan.”
[7] Xem “The French Annexation, and British Abandonment of Spratlies. Abandonment of Territorial Claims: The cases of Bouvet and Spratly Islands”, by Geoffrey Marston. Trong The British Yearbook of International Law 1986, LVII, các trang 337-356 http://fds.oup.com/www.oup.co.uk/pdf/0-19-826215-9.pdf
[8] Xem như trên.
[9] http://www.wto.org/gatt_docs/English/SULPDF/90310007.pdf
Bình luận
11 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Về bài nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt trong Hội thảo Hè 2010 tại Philadelphia, Hoa Kỳ (1)”)
[…] lambamblog Chính trị, xã hội Biển đảo, Hoàng San, Trường Sa Để lại phản hồi (Xem kì 1) […]
Ông Hoàng Trường Sa giới thiệu bài viết “TÌNH HÌNH CHIẾM ĐÓNG TẠI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA ” của Trần Đổ Cẩm, trong đó viết:
Tháng 12 năm 1973, Tiểu Khu Phước Tuy biệt phái một đơn vị Địa Phương Quân ra Quần Đảo Trường Sa, đồn trú trên các đảo Trường Sa và Nam Yết. (Năm 1974)Để đề phòng quân Trung Cộng tiến xa hơn về hướng Trường Sa, VNCH tăng cường thêm nhiều Chiến Hạm tuần tiễu cũng như quân trú phòng tại các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, An Bang và các đảo lớn phụ cận .
Điều này phù hợp với một sự kiện ông Nguyễn Tiến Hưng kể trong cuốn “Tâm tư Tổng thống Thiệu” mới xuất bản. Theo đó, tướng Murray của Mỹ đặt vấn đề vài chiến hạm của hải quân VNCH thả neo ở Trường Sa “ không kể chi phí tiếp liệu, nguyên tiền xăng nhớt cũng tốn trên nửa triệu đô la một năm “(sách dẫn trang 124). Nhưng ông Thiệu vẫn cho tàu hải quân tiếp tục thả neo ở Trường Sa.
Bạch thư của Việt Nam Cộng Hòa về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1975, bản tiếng Anh viết về tình hình Trường Sa từ 1956 đến 1963, giống như những gì tôi đã dẫn từ Wikipedia, và với nhiều chi tiết hơn:
“ From 1956 on, in the face of Chinese and Philippine groundless pretenses, the Republic of Vietnam’s Navy began to launch various operations to reassert control over the Truong Sa Islands. Crewmembers erected sovereignty steles on almost all of them and built poles to hoist the Vietnamese flag.
The cruiser Tuy Dong (HQ-04) was assigned these missions in August 1956. In 1961, the two cruisers Van Kiep and Van Don landed on the islands of Song Tu Tay (South-West Cay) Thi Tu, Loai Ta and An Bang. Two other islands, Truong Sa (Spratly proper) and Nam Ai (Nam Yit) were visited the following year by the cruisers Tuy Dong and Tay Ket. Finally, in 1963, all of the sovereignty steles on the main islands were systematically rebuilt by crew members of the three vessels Huong Giang, Chi Lang and Ky Hoa:
– May 19, 1963 steles on Truong Sa Island (Spratly proper)
– May 20, 1963 steles on An Bang Island
– May 22, 1963 steles on Thi Tu and Loai Ta Islands
– May 24, 1963 steles on Song Tu Dong (North East Cay) and Song Tu Tay (South West Cay) “.
Một điều tôi đọc thấy là tên “Trường Sa” được vua Tự Đức đặt vào năm 1867 (theo bài viết của Dzurek thấy ghi chú dẫn từ Samuels, Marwyn S. trong quyển “Contest for the South China Sea”, trang 43-44). Bài này cũng nói nhà Nguyễn không còn chú ý nhiều đến quần đảo Trường Sa từ khi Pháp chiếm Nam kỳ và tách Nam kỳ ra khỏi phần lãnh thổ VN còn lại. Cho dù chưa tìm được chứng cứ vững chắc, nhưng qua những ghi chép như thế, có thể nói Trường Sa là của VN từ thời Nguyễn.
Bài viết của Daniel J. Dzurek ghi những sự kiện về VNCH chiếm đóng Trường Sa không khác các tài liệu dẫn trên:
“On 20 July 1973 the government in Saigon awarded eight offshore tracts, including several near the western edge of the Spratly islands. South Vietnam incorporated ten Spratly islands into Phuc Tuy province on 6 September 1973, and sent troops to Spratly Island and Namyit Island. Eventually, Saigon forces occupied five or six islands.
In April 1975 troops from Hanoi seized six of the Spratly islands that South Vietnamese troops
had occupied earlier that year “.
Ông Nguyễn Nhã viết: “Ngày 22 tháng 8 năm 1956, lục hải quân Việt Nam Cộng Hoà đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ngày 22 tháng 8 năm 1956, lực lượng hải quân của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ”. Có lẽ nên hiểu năm 1956 hải quân VNCH đổ bộ lên một số đảo ở TS, dựng cờ, lập bia chủ quyền, và sau đó rút về.
Bác Trương Nhân Tuấn,
Tôi chỉ nói khi Nhật từ bỏ chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ trong HĐ San Francisco thì chủ quyền chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ đó trở về với “chủ cũ”.
Tôi không nói và không nghĩ rằng Nhật có thẩm quyền để quyết định những chủ cũ đó là ai.
Chủ cũ là ai thì là do những nước có tuyên bố chủ quyền trước khi Nhật tuyên bố chủ quyền quyết định, hay những nước này yêu cầy Tòa xử.
Đối với Trường Sa thì trong những nước này không có Trung Quốc, Phi, Bru, Mỹ. Chỉ có Anh và Pháp, nhưng hành vi của Anh coi như đã chấp thuận với tuyên bố của Pháp.
Vì vậy đối với Trường Sa thì chủ cũ chỉ có thể là Pháp và Việt Nam.
Mà trên thực tế cũng không có chuyện Nhật trao chủ quyền đối với HS, TS cho bất cứ nước nào trước HĐ SF, và sau HĐ SF thì Nhật không còn quyền hay thẩ quyền gì đối với HS, TS để mà trao cho ai hay nói là của ai.
Cho nên không thể có chuyện Nhật trao HS, TS cho TQ (trong văn cảnh chủ quyền), như phía TQ hay mạo nhận, hay như TS Vũ Quang Việt viết.
Tác giả Trần Đỗ Cẩm, trong bài TÌNH HÌNH CHIẾM ĐÓNG TẠI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA đăng trên trang Web của Tổng Hội Hải Quân Hàng Hải VNCH, đã cho biết thêm một số chi tiết khác như sau:
“VI. TRƯỜNG SA DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Khi người Pháp trao trả nền độc lập cho Việt Nam, mặc dù trong thời kỳ phôi thai của một quốc gia mới được thành lập, Việt Nam đã xác nhận chủ quyền tại hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điển hình vào ngày 6 và 7 tháng 9 năm 1951, Việt Nam đã tham dự Hội Nghị Quốc Tế tại San Francisco cùng với 50 quốc gia khác. Trong hội nghị này, Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã chánh thức lên tiếng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có một quốc gia nào phản đối. Như vậy, mặc nhiên chủ quyền của Việt Nam đã được quốc tế công nhận. Đến thời Đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng ký sắc lệnh số 193-NV vào ngày 22 tháng 10 năm 1956 sát nhập Quần Đảo Trường Sa vào lãnh thổ Phước Tuy. Từ năm 1960 đến năm 1967, Hải Quân VNCH phái nhiều chiến hạm thường xuyên tuần tiễu cũng như hoàn tất đặt bia chủ quyền trên nhiều đảo (Song Tử Đông, Song Tử Tây…) trong Quần Đảo Trường Sa. Đến tháng 7 1973, VNCH ký giấy phép cho các công ty ngoại quốc thăm dò và khai thác dầu hỏa gần vùng Trường Sa. Chính vì sự kiện trên nên Trung Cộng bắt đầu phản đối và tranh giành với những luận điệu hoàn toàn vô căn cứ. Tháng 12 năm 1973, Tiểu Khu Phước Tuy biệt phái một đơn vị Địa Phương Quân ra Quần Đảo Trường Sa, đồn trú trên các đảo Trường Sa và Nam Yết. Các đơn vị Địa Phương Quân này thường xuyên được những Chiến Hạm Hải Quân yểm trợ và tiếp tế. Vào tháng 1 năm 1974, Trung Cộng cưỡng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của VNCH sau một trận hải chiến dữ dội. Để đề phòng quân Trung Cộng tiến xa hơn về hướng Trường Sa. VNCH tăng cường thêm nhiều Chiến Hạm tuần tiễu cũng như quân trú phòng tại các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, An Bang và các đảo lớn phụ cận. Tóm lại, trong khoảng thời gian suốt một phần tư thế kỷ, các chiền sĩ Hải Quân VNCH đã chu toàn bổn phận và trách nhiệm do Tổ Quốc trao phó. Mặc dù bận rộn hành quân tiêu diệt bọn Cộng sản trong nội địa, máu của họ đã đổ tại các hải đảo để ngăn chận kẻ thù Phương Bắc.”
(Trần Đỗ Cẩm)
Xin ghi lại các ý kiến về năm VNCH gửi quân ra chiếm đóng các đảo Trường Sa để dễ nhận thấy sự khác biệt. Nếu cần, chúng ta lên tiếng đính chính trên trang Wikipedia ghi bên dưới :
1/ Theo ông Hoàng Trường Sa :
a/ Dựa vào tài liệu của Tiến sĩ Nguyễn Nhã, trong bài “Diễn trình lịch sử cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông” như sau:
“Ngày 22 tháng 8 năm 1956, lục hải quân Việt Nam Cộng Hoà đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ngày 22 tháng 8 năm 1956, lực lượng hải quân của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ.”
b/ Dựa vào sách của bà Monique Chemillier-Gendreau: “In 1956 Saigon‘s troops also occupied the Spratlys, or at least some islands, where a boundary-marker denoting Vietnamese sovereignty was erected.”
2/ Theo ông Vũ Quang Việt (trong bài viết đang bàn, không khác trên):
“Tháng 4, 1956, Pháp rút quân khỏi Đông Dương. Pháp chính thức giao lại Paracels (Hoàng Sa) nhưng không giao lại Spratlys (Trường Sa). Quân đội Việt Nam Cộng hòa thay thế quân Pháp ở Paracels, thực chất là đảo Pattle (Hoàng Sa).22 tháng 8, Quân đội Việt Nam Cộng hòa đem quân chiếm một số đảo ở Spratlys (Trường Sa) và sát nhập vào tỉnh Phước Tuy. ”
3/ Theo trang Wikipedia tại:
http://en.wikipedia.org/wiki/Spratly_Islands_dispute
Trang này ghi Việt Nam chiếm đóng các đảo Trường Sa, Sinh Tồn, Sơn Ca năm 1974, và chiếm giữ Nam Yết, Song Tử Tây năm 1975. Theo chuyện kể (có thể “giả tưởng”) về vụ VN chiếm đảo Song Tử Tây từ lính Phi, thì suy đoán được năm VNCH chiếm các đảo ghi trên là do phía Phi đưa ra, nghĩa là không chắc đúng. Như đã nói một lần, trong “Địa lý Biển Đông”, ông Vũ Hữu San cho biết năm 1973, kỷ sư Trịnh Tuấn Anh ra Nam Yết khảo sát thực vật, nên VNCH phải chiếm đảo này trưóc đó.
Cũng trang Web trên ghi các niên biểu VN ra thị sát đảo TS và cắm mốc chủ quyền :
1948-1956: Tomas Cloma, director of the Maritime Institute of the Philippines, claimed sovereignty over much of the Spratly Islands, naming his territory “Kalaya’an” (“Freedomland”). The People’s Republic of China, the Republic of China, France, South Vietnam, the United Kingdom and the Netherlands all issued protests. The Republic of China and South Vietnam launched naval units to the islands, though South Vietnam left no permanent garrison. Later in the year, South Vietnam declared its annexation of the Spratly Islands as part of its Phước Tuy Province.
1961-1963: South Vietnam established sovereignty markers on several islands in the chain
Xét cho cùng, “Trường Sa vô chủ” lả chủ trương căn bản của Phi, vì VN, TQ đều nói mình có (đầy đủ) chứng cứ lịch sử về chủ quyền TS, và Mã Lai, Brunei (nếu muốn) có thể viện dẫn chủ quyền trên vài đảo TS từ thời thuộc Anh mà họ thừa hưởng lại. Phần Phi, nước Mỹ không được Tây Ban Nha giao cho TS khi Phi đổi chủ, và Mỹ không nói gì tới quần đảo này khi trả độc lập cho Phi.
Bác Hòa Nguyễn : Những gì bác ghi lại từ ông Vũ Quang Việt đều đúng, nhưng thiếu. Và điều quan trọng nữa là những tuyên bố của Trung Hoa Quốc Gia có giá trị gì hay không ? Theo tôi thì không có gía trị. Cái « thiếu » của TS Vũ Quang Việt (và của hầu hết các nghiên cứu của VN về HS và TS, kể cả Sách Trắng về chủ quyền) là một « mắc xích bị thiếu » của hồ sơ Việt Nam, là giai đoạn lịch sử 1945-1951. Giai đoạn này rất quan trọng vì có nhiều kết ước quốc tế liên quan đến số phận (chủ quyền) của HS và TS mà chưa thấy ai đào sâu. Hy vọng ý kiến của tôi trong bài này được mọi người xét lại và bổ túc cho hoàn thiện. Tôi có viết trong bài :
« Về phía Pháp, do đã toan tính trước, Pháp liền ký kết với Trung Hoa Hiệp ước Trùng Khánh (Tchong Quing) ngày 28 tháng 2 năm 1946. Theo đó quân đội Trung Hoa sẽ rời Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946 để quân Pháp vào thay thế. Đổi lại, Pháp tuyên bố hủy bỏ tất cả các quyền lợi và tô giới của Pháp tại Trung Hoa đồng thời cam kết dành sự ưu đãi về kinh tế cho Trung Hoa, như nhượng tuyến đường xe lửa Vân Nam – Hải Phòng, dành ưu đãi về kinh tế, kiều dân Trung Hoa sống tại Việt Nam được hưởng qui chế ưu đãi đặc biệt. »
Như thế Trung Hoa đã đánh đổi quyền lợi của họ tại Đông Dương (giải giới và chiếm đóng Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở về bắc, theo phân công của Chỉ Huy Tối Cao quân đội Đồng Minh) với các nhượng quyền kinh tế của Pháp.
Tôi có viết :
« Phe Tưởng sau khi ký Hiệp ước Trùng Khánh với Pháp tháng 3 năm 1946, đồng ý để cho Pháp thay thế mình trong việc giải giới quân Nhật ở các vùng phía bắc vĩ tuyến 16, vài tháng sau mới thấy bị hớ. Do đó họ tìm cách đổ quân lên đảo Phú Lâm thuộc nhóm An Vĩnh của quần đảo Hoàng Sa, hy vọng giành lại quần đảo này từ tay Pháp. Nhưng những hành động này, như việc đổ quân chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa đều trái công pháp quốc tế, vì đây là hành động xâm chiếm một vùng đất đã có chủ quyền. »
Bởi vì tháng 5 năm 1946 Pháp khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa. Tháng 10 năm 1946 tại Trường Sa. Những tuyên bố của Trung Hoa, hay những hành vi chiếm đảo, đều xảy ra sau khi Pháp tuyên bố chủ quyền tại HS và TS, do đó không có giá trị pháp lý.
Vấn đề đáng xét lại là việc tuyên bố chủ quyền của Pháp tại HS và TS có đúng « qui cách » của công pháp quốc tế hay không ?
Theo tôi thì đúng qui cách.
Nghị quyết ngày 2 tháng 4 năm 1947 của LHQ đã đặt tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ, tức bao gồm HS và TS. Nhưng trước đó Pháp đã công bố chủ quyền tại đây rồi, do đó trong quãng thời gian này (1946-1951) chúng ta không thấy HK nhắc nhở gì về số phận HS và TS. Điều này khẳng định tiếp theo qua hòa ước San Francisco 1951. Nội dung hòa ước khẳng định nghị quyết 2-4-1947 của LHQ, tức HK tiếp tục quản lý các đảo ở Thái Bình Dương nhưng không bao gồm HS và TS. Hai quần đảo HS và TS được đưa vào nội dung hòa ước, (là một chi tiết ngạc nhiên đáng ghi nhận vì trong tất cả các kết ước trước đó đều không có nhắc nhở gì về hai quần đảo này) nhưng không xác định HS và TS thuộc về ai, tương tự các vùng lãnh thổ được xác định theo mật ước Yalta giữa đồng minh và Liên Xô hay tuyên bố Caire, giữa đồng minh với Trung Hoa.
Các vùng đất này đã được hội nghị mặc nhiên công nhận là đất « vô chủ », phe lâm chiến nào chiếm vùng đó thì tuyên bố chủ quyền ở đó. Điều này đúng cho Liên Xô khi họ chiếm quần đảo Kouriles và một phần đảo Sakhaline của Nhật, đúng cho Trung Hoa Dân Quốc khi họ chiếm Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, và nó cũng đúng cho Pháp khi tuyên bố (khẳng định) chủ quyền HS và TS.
Bác Dương Danh Huy : Ý kiến của bác tôi cũng có đọc qua ở một số tài liệu của các học giả trong và ngoàinước, là số phận của các vùng đất bị chiếm sẽ trả về cho chủ cũ.
Tôi cho rằng việc này cần phải xét cho kỹ, nếu không VN có thể bị thiệt thòi.
Câu hỏi đặt ra là Nhật có quyền lựa chọn phía (quốc gia) để trả lại đất hay không ?
Theo nội dung hòa ước San Francisco 1951 thì bắt buộc Nhật phải từ bỏ vĩnh viễn, không được đòi hỏi lại chủ quyền ở các vùng đất (hay đảo) mà họ đã từ bỏ. Điều này cũng có nghĩa là Nhật không có quyền có ý kiến gì, kể từ lúc ký hòa ước, về các vùng đất đã từ bỏ.
Điều này lập lại qua hòa ước Trung-Nhật ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952, trong đó khoản nói về lãnh thổ được lặp lại nguyên văn nội dung điều (2) của Hòa ước San Francisco: Nhật từ bỏ chủ quyền tại các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Hoàng Sa, Trường Sa nhưng không xác định là trả cho phe nào.
Một số tài liệu nước ngoài tôi đọc được cho biết là do sự liên thuộc về kinh tế giữa Nhật và và Trung Hoa (lục địa) hiện nay quá lớn, mặt khác, Nhật và lục địa chưa ký hòa ước (mà chỉ ký với Đài Loan), vấn đề bồi thường chiến tranh là một vấn đề rất lớn. Do đó Bắc Kinh có thể gây áp lực (kinh tế và vấn đề bồi thường chiến tranh) lên phía Nhật để Nhật có thể xác định đối tượng mà Nhật trả lại đảo (HS và TS). Mặt khác, một tài liệu tôi đã đọc cho thấy, trước chiến tranh Thế Giới II, quan điểm của Nhật HS thuộc về TQ.
Do đó ý kiến của bác, theo tôi là cần phải cân nhắc thiệt hơn trước khi có một quyết định lựa chọn chung cuộc.
Theo Giáo sư Monique Chemillier-Gendreau, trong cuốn Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands , trang 125-26, thì:
Vào năm 1956, Quân đội Sài Gòn chiếm các đảo ở Trường Sa, hay ít nhất là một số đảo, và dựng bia chủ quyền VN trên TS.
Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1956, một công dân Phi Luật Tân tên Tomas Cloma, tuyên bố đã chiếm đóng toàn bộ Quần đảo TS (qua tư cách của một tư nhân). Một nhóm thám sát Phi gồm 29 người đã đổ bộ lên một đảo, và đặt tên đảo này là Đất Tự do (Freedomland). Từ đó, Phi Luật Tân dần dần nới rộng việc chiếm đóng ở TS, chiếm 3 đảo vào năm 1968 và sau đó chiếm thêm 3 đảo nữa mà họ đặt công sự phòng thủ.
Đài Loan chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba) vào một thời điểm thay đổi tùy theo ta tham khảo tài liệu nào.[92] [Ghi chú của HTS: năm 1971 theo Charles Rousseau, nhưng theo J. V. Prescott thì đó là năm 1956].
Sau đây là nguyên văn từ sách của Bà C-G:
“The Geneva Agreements of 1954 effectively divided Vietnam. The South, below the 17th parallel, included the archipelagos. It was recalled supra how the troops of the Government of Saigon took over from the departing French troops.
They replaced the French troops in the part of the Paracels not occupied by the Chinese, so that between 1956 and 1974 the Crescent group of islands was occupied by South Vietnamese troops, and the Amphitrite group by those of the People ‘s Republic of China. In January 1974, China seized the western Paracels following violent clashes, and from then on the whole of the Paracels was under its military control.[90]
In 1956 Saigon ‘s troops also occupied the Spratlys, or at least some islands, where a boundary-marker denoting Vietnamese sovereignty was erected.
However, in March 1956 a Filipino citizen, Tomas Cloma, claimed to have occupied the entire Spratlys archipelago (in a private capacity). A Filipino expedition landed 29 men on one island, which received the name Freedomland.[91] Since then the Philippines have gradually extended their occupation, occupying three islands in 1968 and subsequently a further three which were then fortified.
Taiwan occupied Itu Aba Island on a date which varies depending on the author consulted.[92]
Thus, between 1956 and 1975, the Spratlys were occupied in part by three States.
In order to evaluate the rights of each party, the facts must, however, be seen in the light of intentions.” (Monique Chemillier-Gendreau)
“Trong phiên họp ngày 11 tháng 10 năm 1946, Uỷ Ban Liên Bộ về Đông Dương thuộc Chính phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định quyền của Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa và thể hiện việc tái chiếm bằng việc xây dựng một đài khí tượng. Theo ý kiến của đại tướng Juin cho rằng “lợi ích cao nhất ” của nước Pháp là phòng ngừa mọi ý đồ của một cường quốc nào muốn chiếm lại các đảo đó là những đảo kiểm soát việc ra vào căn cứ tương lai Cam Ranh, con đường hàng hải Cam Ranh – Quảng Châu – Thượng Hải (Thư số 199/DN/S. col ngày 7 tháng 10 năm 1946 của Đại tướng Juin, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Pháp tại Paris). Mãi đến năm 1935, Trung Quốc mới chú ý đến Trường Sa, gọi là Đoàn Sa sau thời điểm năm 1933.
Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp trên của Trung Hoa Dân Quớ́c và ngày 17 tháng 10 năm 1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Phú Lâm nhưng họ không rút. Pháp gửi một phân đội lính trong đó có cả quân lính “Quốc gia Việt Nam” đến đóng một đồn ở đảo Pattle (Hoàng Sa). Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1947 tại Paris. Tại đây, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề xuất. Ngày 1 tháng 12 năm 1947, Bộ Nội Vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Hoa cho hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Hoa.
Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào hiệp định Patenôtre (1884) với Pháp song Pháp vẫn cho rằng theo hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà còn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Pháp bổ sung quân sự bằng cách đóng quân và thực hiện quản lý trên hai quần đảo. Điều này chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đã được củng cố vững chắc từ thời Pháp thuộc.
Do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà kháng chiến chống Pháp và hải quân Pháp làm chủ Biển Đông, nên với hiệp định ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp còn gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối đầu với Chính quyền Cách Mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên thực tế, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đang làm chủ Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thay mặt nhà nước Việt Nam.
Tháng 4 năm 1949, Đổng lý văn phòng của quốc trưởng Bảo Đại là hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sàigòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa được thành lập ở lục địa Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã rút lui ra Đài Loan. Tháng 4 năm 1950, đồn lính Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc quần đảo Hoàng Sa đã rút lui. Còn đồn lính của Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn còn duy trì. Đến năm 1954, Pháp đã chính thức trao lại quyền quản lý cho Chính phủ Việt Nam.
Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ toạ việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.
Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 8 tháng 9 năm 1951, ký kết hoà ước với Nhật. Ngày 5 tháng 9 năm 1951, họp khoáng đại, ngoại trưởng Gromyko đề nghị 13 khoản tu chính. Khoản tu chính liên quan đến việc Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ một Hội nghị quốc tế.
Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam : « Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam ».
Không một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.” (Nguyễn Nhã)
Bác Hòa Nguyễn thân mến,
Tiến sĩ Nguyễn Nhã, trong bài Diễn trình lịch sử cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đã viết như sau:
“Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, khiến tháng 4-1956 quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông khiến các nước trong khu vực trong đó có Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Philippines cho là cơ hội tốt chiếm đóng trái phép Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam.
Khi ấy, quân đội Quốc Gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam Cộng Hoà đã chiếm đóng các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle). Ngày 1 tháng 6 năm 1956, Ngoại Trưởng Chính Quyền Việt Nam Cộng Hoà Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày hôm sau, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền hạn mà Pháp đã có đối với hai quần đảo trên từ năm 1933.
Ngày 22 tháng 8 năm 1956, lục hải quân Việt Nam Cộng Hoà đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ngày 22 tháng 8 năm 1956, lực lượng hải quân của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ.
Tháng 10 năm 1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba). Ngày 22 tháng 10 năm 1956, sắc lệnh số 143 – NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại « Nam Việt » (Nam Bộ). Trong danh sách các đơn vị hành chánh « Nam Việt » (Nam Bộ) đính kèm theo sắc lệnh có những thay đổi tên mới, trong đó có tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nay được gọi là tỉnh Phước Tuy và đảo Spratly thuộc tỉnh Phước Tuy được gọi là Hoàng Sa cùng tên với quần đảo phía Bắc là Paracels.
Trong khi ấy, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng đã nhanh chóng chiếm giữ đảo Phú Lâm (Ile Boisée), đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa, song hành với việc Đài Loan chiếm giữ đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa [tức là đảo Ba Bình, Itu Aba, ghi chú của HTS]. Một tình hình hết sức phức tạp, đen tối cho chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa & Trường Sa.
…
Ngày 26 tháng 7 năm 1933, Bộ Ngoại Giao Pháp đã có một thông tin đăng trên Công báo Pháp, ghi rõ 6 nhóm hải đảo và tiểu đảo từ nay đã thuộc chủ quyền Pháp quốc, trong đó gồm nhóm Spratley (8°39’ bắc – 111°55 đông) và các tiểu đảo nhỏ xung quanh được chiếm hữu sớm nhất từ ngày 13-4-1930 và đảo Thị Tứ được chiếm cuối cùng vào ngày 12-4-1933. Ngày 21 -12-1933, thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký nghị định số 4762 sát nhập các nhóm hải đảo thuộc quần đảo Pratleys (Trường Sa) vào tỉnh Bà Rịa.
Năm 1938 Pháp cũng thiết lập một bia chủ quyền, một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm vô tuyến tại đảo Itu – Aba (Ba Bình)…
……
Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Cách Mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ở Quảng Trường Ba Đình, chấm dứt chế độ đô hộ của Pháp.
Sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại đô hộ Việt Nam, Quân Tưởng Giới Thạch tiếp quản nơi quân đội Nhật chiếm đóng từ phía Bắc vĩ tuyến 16, cả hai nước Pháp và Trung Hoa đều tiếp tục tranh chấp Hoàng Sa & Trường Sa của Việt Nam, vẫn tiếp tục coi trọng vị trí chiến lược Hoàng Sa & Trường Sa.
Việt Nam bận lo kháng chiến chống Pháp trong khi quân Pháp làm chủ Biển Đông.
Quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946, Pháp trở lại Việt Nam làm chủ Biển Đông, lập tức cử một phân đội bộ binh Pháp đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật từ tháng 5 năm 1946, nhưng đơn vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27 tháng 5 năm 1946, đô đốc D’Argenlieu, cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L’Escarmouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày 26 tháng 10 năm 1946, lợi dụng thời cơ, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của quân thuỷ đánh bộ) xuất phát từ cảng Ngô Tùng ngày 9 tháng 10. Ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc còn gọi là Đoàn Sa chưa phải mang tên Nam Sa (tác giả nhấn mạnh). (Nguyễn Nhã)
(còn tiếp)
Trước hết, tôi nghĩ ông Trương Nhân Tuấn (TNT) cần xem lại mức độ chính xác ở vài điều trong tài liệu ông đưa ra:
1/ theo Trương Nhân Tuấn (bài Kỳ 1): Sau khi quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa năm 1946, Pháp đã gởi quân đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để khẳng định chủ quyền. Tại Hoàng Sa và Trường Sa, quân đội Pháp-Việt đã có mặt từ tháng 5 năm 1946. Đến tháng 10-1946, quân Pháp ra đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa, đóng mốc mới, khẳng định lại chủ quyền.
Theo ông Vũ Quang Việt: Tháng 10/1946 Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố chủ quyền trên Tây Sa (Paracels) và Nam Sa (Trường Sa) và sáp nhập vào tỉnh Quảng Đông. Tháng 12/1946 Đài Loan gửi tàu Thái Bình (Taiping) ra tiếp quản đảo Itu Aba ở Trường Sa từ tay Nhật sau khi Nhật đầu hàng sau Thế chiến. Vào 12 tháng 12, 1946, đảo này được đặt dưới quyền quản lý của tỉnh Quảng Đông.
Theo các tài liệu khác tôi được đọc: Khi THQG chiếm đảo Ba Bình, từ tháng 11-1946 Pháp đưa tàu chiến ra đó nhiều lần. Năm sau, Pháp yêu cầu THQG rút quân ra khỏi đảo đang chiếm, nhưng Pháp không có hành động gì. Đến năm 1948,tàu Pháp không tuần tra quanh các đảo Trường Sa nữa, nhưng cũng năm đó THQG rút phần lớn lính khỏi đảo Ba Bình, và đến năm 1950 thì âm thầm rút hết. Đài Loan chỉ trở lại chiếm đảo Ba Bình năm 1956 khi nhóm người Phi đổ bộ lên đảo này.
Tôi thấy tài liệu tôi ghi trên được nói tới nhiều, như trong bài viết của Todd C. Kelly và trên Wikipidea, nên chắc là chính xác hơn điều ông TNT (và ông VQV) viết. Và nếu chuyện là như thế, việc THQG chiếm Ba Bình từ 1946 đã bị Pháp phản đối, nên kết luận được là bất hợp pháp.
Tài liệu ông TNT nói về đội Bắc Hải tôi rất quan tâm, nhưng thấy cần làm sáng tỏ hơn nữa, để có thể dùng làm chứng cứ lịch sử cho chủ quyền VN trên quần đảo Trường Sa:
Lúc viết tập sách này Lê Quí Đôn là một quan chức của triều đình, tức hưởng bổng lộc của triều đình. Nếu nói rằng tập tài liệu này không phải là “chính sử” thì không công bằng. Bộ sách được hoàn thành chỉ sau ‘Phủ biên tạp lục’ một thời gian ngắn là ‘Đại Việt sử ký tục biên’ (1676-1789) – bộ sử do Quốc sử Viện thời Lê Trịnh tổ chức biên soạn nối tiếp vào quyển XIX sách ‘Đại Việt sử ký toàn thư’. Trong sách, đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Nói một cách khác, các nhà chép sử thời Lê Trịnh sau khi xác định ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục là hoàn toàn đúng sự thật, đã đưa gần như nguyên vẹn nội dung này vào chính sử của triều đại mình.
Bộ ‘Đại Nam thực lục’ (Tiền biên và Chính biên), được xây dựng từ khi nhà Nguyễn mới ra đời và kéo dài cho đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1898).
Trong phần Tiền biên, sách ‘Đại Nam thực lục’ chép về sự việc người đội Hoàng Sa đi Hoàng Sa bị gió dạt vào Quỳnh Châu năm 1754 và giới thiệu khái quát về Vạn Lý Trường Sa, đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải được tổ chức từ thời ‘quốc sơ’ – tức là thời các chúa Nguyễn đầu tiên, không có gì khác với Phủ biên tạp lục…. (TNT)
Tôi chú ý dến chi tiết Bộ ‘Đại Nam thực lục’… kéo dài cho đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1898. Điều này chứng tỏ đội Bắc Hải coi như hoạt động ở vùng Trường Sa từ thời chúa Nguyễn (trước năm 1776 khi Lê Quý Đôn viết Phủ biên tạp lục), và có thể vẫn còn hoạt động cho đến năm 1898 vì được nhắc tới trong Đại Nam thực lục. Tôi có đọc một tài liệu tiếng Anh viết đội Bắc Hải của nhà Nguyễn trong những năm sau 1900 vẫn còn hoạt động, nhưng bây giờ tôi không tìm lại được.
(Ông Vũ Quang Việt lại viết: Đại Nam Thực lục Chính Biên thì không nhắc lại gì đến đội Bắc Hải. Đại Nam Thực lục Chính Biên, đoạn ở trên, có ghi là “đi du lịch đến Bắc Hải”.)
Tôi cũng đồng ý Việt Nam không thể theo quan điểm cho quần đảo Trường Sa là vô chủ (theo lập luận của ông VQV), ai chiếm trước là chủ. Nhưng chúng ta cần tìm được chứng cứ lịch sử vững chắc là người VN đã biết tới, và chính thức vẽ bản đồ Trường Sa. Ông Trương Nhân Tuấn có lý khi cho nếu VN vẽ bản đồ Trướng Sa (chung với Hoàng Sa) là đã coi TS thuộc chủ quyền VN rồi (nhưng bản đồ này bị nghi ngờ về nguồn gốc).
Nếu coi Trướng Sa là vô chủ thì chúng ta chỉ còn đứng ở vị thề của Phi khi họ chỉ có thể tuyên bố chủ quyền TS quá muộn: năm 1971.
Một câu hỏi tôi đã nêu lên vì nghĩ là quan trọng: Việt Nam (VNCH) thật sự chiếm giữ bằng nhân sự các đảo TS từ năm nào? Ông Vũ Quang Việt cho năm 1956 (khi Pháp rút khỏi VN), nhưng không đưa chứng cứ. Tôi nghĩ VN thật sự chiếm đớng năm 1973 (và có thể trước hơn, nhưng không xa vì miền Nam đang chiến tranh). Khi việc chiếm đóng không lâu (không trước Phi), chúng ta càng phải nắm giữ các chứng cứ chủ quyền về lịch sử của VN.
Tôi đồng ý với bác Trương Nhân Tuấn về phần lớn những điểm về chủ quyền đ/v Trường Sa.
Riêng điểm nhỏ dưới đây thì tôi không chắc lắm:
(d) Các vùng đất này trở thành đất vô chủ, người ta có thể chiếm hữu. Điều này hàm ý, những nước tham chiến đang chiếm đóng tạm thời tại các vùng lãnh thổ đó có thể chiếm đóng vĩnh viễn và tuyên bố chủ quyền.
…
Rốt cục đề nghị (d) đã được mặc nhiên chấp thuận. Tức là phe lâm trận nào chiếm ở đâu thì sẽ tuyên bố chủ quyền ở đó. Đài Loan và quần đảo Bành Hồ đã được thực hiện như vậy.
Tôi không nghĩ là đề nghị (d) đã được mặc nhiên chấp nhận. Cụ thể tôi không nghĩ rằng những vùng lãnh thổ mà Nhật từ bỏ chủ quyền trở thành đất vô chủ, mạnh ai nấy chiếm. Tôi nghĩ chúng trở về với “chủ cũ” (trước khi Nhật chiếm), eg, Đài Loan trở lại với TQ, Triều Tiên trở lại với dân tộc Triều Tiên, HSTS trở lại với VN, hay về với nước trước đó tranh chấp với Nhật.
Nói chơi: việc tôi và bác Trương Nhân Tuấn + Hoàng Trường Sa đồng ý với nhau cũng nên là một sự kiện đáng lưu ý cho bác Vũ Quang Việt.