talawas blog

Chuyên mục:

Đỗ Anh Thơ – Những mẩu chuyện kể bên giếng nước (kỳ 3)

16/08/2010 | 1:00 sáng | 3 Comments

Tác giả: Đỗ Anh Thơ

Category: Tạp văn

(Xem kỳ 1 & kỳ 2)

4. Ông thợ hàn nồi tài ba

Trước năm 1954 nhà tôi có một cái bung[1] rất to. Có lẽ nó cùng với khoảng 6-7 cái mâm đồng là tài sản quý giá nhất của gia đình tôi. Tôi nghĩ vậy là vì trong chiến tranh lần thứ II, mặc dù nhà ở sát ngay sân bay Yên Đại của Nhật, nhưng cha tôi vẫn chưa đào hầm trú ẩn cho người mà chỉ có bung với mâm mới được cha tôi bảo anh Khởi làm hầm cho chúng nấp. Hầm đào ở giữa nhà ngang, rồi kê ván lên trên làm thành giường nằm.

Đến trước Tết Ất Dậu, cha tôi cho đào lên, để chuẩn bị nấu bánh chưng thì bung và mâm đều đã bị rỉ xanh lè. Anh tôi phải đem chúng ra giếng, dùng cát và trấu… đánh mất gần một buổi sáng thì  mới hết rỉ. Tháng chạp năm đó, cái đói tuy đã đến nhiều nhà, nhưng gia đình tôi vẫn còn đủ gạo nếp, gói mấy chục cặp bánh chưng để cúng tổ tiên. Đêm hôm đó, tôi ngồi canh lửa nồi bánh chưng cùng với anh tôi. Nhưng đến nửa đêm, khi mắt tôi đã ríu lại, được anh tôi vớt ra cho một chiếc bánh chích[2] để ăn thử. Bánh chưa thật rền, tôi ăn xong, lăn ra giường ngủ. Anh tôi cũng đã quá mệt, đổ trấu vào bếp, om lửa lại rồi nằm xuống chõng tre gần đó và ngủ thiếp đi. Gần sáng, anh tỉnh dậy thì thấy bếp lửa đã tàn, bung bánh chưng thì biến mất. Cả nhà nháo nhác đi tìm, từ vườn ra ngõ rồi nhòm qua nhà hàng xóm, vẫn không thấy dấu vết. Bung bánh to, lại nóng như vậy, phải có ít nhất hai người mới khiêng nổi. Trộm lấy đi thật là tài. Mãi đến trưa, anh tôi tìm xuống tới đồng Giềng mới thấy kẻ trộm đã dìm cái bung không xuống dưới bùn. Anh tôi đội nó trở về nhà. Nó thủng một lỗ to. Mặt anh tôi buồn thiu. Tết năm đó, cả nhà tôi chỉ có mấy chiếc bánh của các cậu và các chú mang cho. Chúng được gói bằng nếp lẫn nhiều tẻ, nhân đậu xanh lại không giã, hành mỡ ít, nên cha tôi chỉ ăn một miếng rồi bỏ đũa.

Khoảng đầu tháng hai, lúc này cha tôi đã ngã bệnh, ông thợ hàn nồi đồng tên là Thỉnh mà gia đình tôi quen thân mới từ Diễn Châu vào Nghi Lộc hành nghề. Ông đến nhà tôi mở hàng. Cha tôi ốm không dậy được, bảo tôi ngồi bên để trà nước cho ông, nhờ ông hàn cho chiếc bung gia bảo này. Ông giũa chỗ đồng thủng cho trong ngoài đều sáng bóng lên. Ông vừa làm vừa tâm sự cùng tôi:

“Cháu biết không, ngày xưa tuy vậy nhưng chú cũng đã học chữ nho với thầy đồ bốn năm năm. Ban đầu, tên chú do cha mẹ đặt cũng như tên cháu là Thinh. Thinh là thanh, nghĩa là tiếng. Nhưng lúc đi học chữ quốc ngữ, do hay bị  bạn bè chế là “thằng Thinh hay rình con gái” nên chú mới thêm một cái dấu hỏi, thành “thỉnh”. Không ngờ sau này nghe bố cháu giảng, chú mới vỡ lẽ ra, nghĩa chữ “thỉnh” lại còn xấu hơn, nghĩa  là mời, có vẻ nịnh bợ, xin xỏ cấp trên tha thứ, như “thỉnh cầu”,” thỉnh tội”, “thỉnh đại ca chỉ giáo”… Giá như chú thông thái hơn, mà thay bằng dấu nặng thành “thịnh” thì cái nghề vá nồi đồng của chú chắc đã phát tài lắm.”

Ông giũa xong, quay sang nặn đất sét rồi đắp khuôn trong ngoài lỗ thủng và bắt đầu nổi lửa thụt lò. Ông lấy ra một cái cốc bằng đất nung, cắt những lá đồng nhỏ, đặt lên lửa. Xong, ông rít một hơi thuốc lào, xin mẹ tôi một miếng trầu. Một lát sau đồng chảy thành nước, ông vứt vội bã trầu trong miệng, vội vã cầm kìm dốc cả cốc nước đồng vào khuôn vá lỗ thủng của bung.

Chờ cho đồng nguội, ông phá khuôn ra, lấy giũa giũa xung quanh rồi nâng cái bung lên trời nhìn. Ông xuýt xoa: “Tốt lắm, chắc ăn lắm rồi!”

Cha tôi ở trong nhà nghe nói vậy, gọi tôi vào, mở ví lấy ra năm hào bạc, trả công cho ông Thỉnh. Ông soạn gánh đồ lề, ống bễ, đồng vụn… rồi chào cha tôi mà đi ra ngõ. Tôi nghe tiếng rao của ông:

“Hàn nồi ơ! Ai có nồi đồng hỏng, mâm hỏng, ấm hỏng… đưa ra hàn, ơ!”

Tiếng ông xa dần vào cuối làng, lẫn cùng với tiếng chó sủa…

Một tháng sau, lúc này bệnh cha tôi đã nặng. Bụng ông to dần, ông  nằm thở nhưng không một tiếng rên. Mỗi tuần ông lại tự kê đơn, bảo anh tôi vào Vinh đến hiệu Vĩnh Hưng Tường cắt thuốc. Đồng hồ, xe đạp của ông, anh tôi phải mang đi bán rẻ để có tiền chạy chữa cho ông… Tục ngữ Tàu có câu “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí” thật đúng. Gữa lúc gia đình tôi đang rất bối rối thì một sớm tinh mơ, cả đàn tổ ong ngoài thềm nhà rủ nhau bay tít lên trời. Anh tôi vội vàng vác cái bung và ống thụt ra giếng. Anh tôi múc đầy bung nước, thụt nước lên đàn ong đang quần quanh ngọn cau, nhưng chúng không đậu lại mà cứ tiếp tục bay lên trời xanh cạnh giếng. Tôi thì bốc cát vung lên. Nhưng nước và cát bay không đủ cao. Rồi miếng vá của ông Thỉnh trên bung bong ra, nước chảy tồ tồ. Tôi và anh tôi bất lực nhìn đàn ong lúc này đã bay rất cao chỉ còn như một dấu chấm trên trời xanh đầu mùa hạ. Chúng bay qua rùng[3] bà Hớn rồi mất hút trong làng Yên Lạc Tiền, Yên Lạc Hậu.

Tôi cùng anh tôi nhìn cái bung thủng. Rõ ràng là cái bung thủng to quá, ông Thỉnh dù cao tay đến mấy cũng không thể vá liền được. Còn tổ ong, khi anh tôi nhìn kỹ, phát hiện ra có vô số sâu và xác một con bìm bìm[4] đã chết khô.

Ít lâu sau cha tôi mất.

Có người bảo, đàn ong bay đi là do trong nhà sắp có tang, đó là điềm gở báo trước. Còn anh tôi thì cứ đinh ninh rằng là tại ông Thỉnh. Ông ấy chủ quan về tài nghệ của mình mà không thử chỗ hàn của bung nên mới thất bại, anh tôi mới không có nước thụt lên cho ong mỏi cánh, phải đậu lại trên thân cau đầu giếng.

Cái bung thủng cùng với mấy chiếc mâm sau đó mẹ tôi đã phải bán rẻ đi để nộp thuế khả năng[5], lúc tôi đã đi học ở Trung Quốc. Tôi nghĩ đó là vật gia bảo vô giá của nhà tôi. Nếu đem hiến cho nhà chùa thì cũng gần đủ đồng để đúc được một cái chuông, lại còn được vinh danh, khắc tên lên trên đó nữa.

Ngày nay không còn thợ vá nồi đồng như ông Thỉnh. May ra thì chỉ còn những con cháu của ông, hành nghề vá tôn, vá nồi nhôm, bằng cách tán những mẩu que nhôm, rồi phết keo ê bô xy lên, bề ngoài trông như mới nhưng chỉ được vài bữa, nửa tháng là hỏng mà thôi.

© 2010 Đỗ Anh Thơ

© 2010 talawas


[1] Bung nồi đồng rất to, xưa thường dùng để nấu bánh chưng trong các gia đình giàu có.

[2] Cặp bánh chưng nhỏ gói bằng nếp nhân đỗ thừa, cho trẻ con ăn thử.

[3] Vườn cây to nhiều khi rộng hàng mẫu của quê tôi.

[4] Loài bướm chuyên bay vào tổ ong để hút mật.

[5] Thuế tận thu cao hơn sản lượng thực, bổ vào những gia đình sắp bị quy là phú nông, địa chủ trước Cải cách Ruộng đất.

Bình luận

3 Comments (bài “Đỗ Anh Thơ – Những mẩu chuyện kể bên giếng nước (kỳ 3)”)

  1. Hoàng Trường Sa viết:

    “Ông vừa làm vừa tâm sự cùng tôi:
    “Cháu biết không, ngày xưa tuy vậy nhưng chú cũng đã học chữ nho với thầy đồ bốn năm năm. Ban đầu, tên chú do cha mẹ đặt cũng như tên cháu là Thinh. Thinh là thanh, nghĩa là tiếng. Nhưng lúc đi học chữ quốc ngữ, do hay bị bạn bè chế là “thằng Thinh hay rình con gái” nên chú mới thêm một cái dấu hỏi, thành “thỉnh”. Không ngờ sau này nghe bố cháu giảng, chú mới vỡ lẽ ra, nghĩa chữ “thỉnh” lại còn xấu hơn, nghĩa là mời, có vẻ nịnh bợ, xin xỏ cấp trên tha thứ, như “thỉnh cầu”,” thỉnh tội”, “thỉnh đại ca chỉ giáo”… Giá như chú thông thái hơn, mà thay bằng dấu nặng thành “thịnh” thì cái nghề vá nồi đồng của chú chắc đã phát tài lắm.””
    (trích bài chủ của bác Đỗ Anh Thơ)

    Cụ Chủ tịch (trọn đời ?) của Hội Nhà Văn VN mà đọc đoạn ni e thấy nhột chăng ? Thiệt là …

    Tui nghĩ ông thợ hàn nồi đồng ni nói cũng không đúng lắm. Theo tui biết từ thời còn mài đũng quần ở các trường trung, tiểu học, thì bọn học trò nghịch ngợm ưa phá phách, chọc ghẹo, lúc mà đã muốn chọc ai, thì cách gì bọn nó cũng nghĩ ra, chứ cái tên có đổi thế nào cũng vô ích thôi. Vấn đề là bọn nó có muốn chọc mình hay không thôi. Cho nên, mình phải làm sao để đừng có bị bọn nó chọc.

    Nếu là tên “thinh”, thì nó chế là “thằng thinh hay rình con gái”. Nhưng nếu là “thỉnh”, tụi nó cũng chọc là “thằng thỉnh bủn xỉn nhất làng”. Còn là “thịnh” ư ? Dễ gì bọn chúng tha cho mà không la ầm rằng “thằng thịnh ỉa trịn trong quần” v.v…

  2. Hoàng Trường Sa viết:

    Loạt bài ”Những mẩu chuyện kể bên giếng nước” của bác Đỗ Anh Thơ tôi đọc thấy rất hay nhưng lại hơi buồn buồn vì nó gợi nhớ vô cùng về những kỷ niệm ngày còn bé thời tôi còn sống tại làng quê bên ông bà, cha mẹ, anh chị em và bà con xóm giềng. Tôi nhớ kinh khủng mấy cây tùng cao lớn trong sân nhà, nơi có chuồng bồ câu với những chú chim câu bay phần phật, kêu gù gù giữa trưa hè oi ả. Nhớ da diết mấy hàng cau với những buồng cau sai trái, cái giếng bên hè, nơi mẹ tôi vẫn thường múc những gàu nước mát rượi dội lên người tắm cho anh em tôi sau những lúc nô đùa nghịch ngợm, áo quần lấm đầy đất cát.

    Thuở nhỏ, tôi cũng chơi giống như bác Đỗ Anh Thơ, nhưng thay vì bắt sâu rầy cột dây cho nó bay, thì tôi lại bắt ong. Có điều bây giờ nghĩ lại tôi rất ân hận là lúc bé đã chơi ác quá. Bởi vì để cột dây vào cổ con ong màu xanh lè và khá lớn dữ tợn để nó bay vù vù nghe rất thích, thì việc đầu tiên là phải tránh khỏi bị nó chích, nên tôi phải dùng vải dày bọc ngón tay cầm rút luôn cái nọc chỗ đít nó. Nó bị mất nọc, trở nên hiền lành hơn, vẫn có vẻ bình thường, còn bay mạnh mẽ lắm, nhưng chỉ vài hôm sau là nó chết. Thật là mình gây ra quá nhiều tội lỗi dù lúc đó còn bé đầu óc non nớt chẳng nghĩ gì, chỉ ham vui.

    Nói tới cây cau thời nhỏ, thì bây giờ trong sân sau nhà tôi cũng có một cây cau cao lớn kinh dị. Nó cao có lẽ cũng 17 hay 18 mét. Thân đường kính cũng khoảng trên nửa mét. Tôi không rõ nó là loại cau gì vì lúc đến ở nhà này 30 năm trước, thì nó đã có sẵn. Nó có nhiều buồng rất sai trái, quả cau bé hơn cau bên VN mình, lúc đầu quả màu xanh, sau chín chuyển qua màu vàng óng rất đẹp. Chiều tối đàn dơi ở đâu không rõ, thường kêu ríu rít vỗ cánh đồm độp, kêu chí chóe, đến tranh nhau ăn những quả cau này, vì quả có vị ngọt. Những quả rơi xuống đất sau khi dơi đã gặm một phần, thì bọn chó trong nhà tôi cũng rất thích giành nhau ăn. Ngay cả đàn ong mật quanh khu nhà tôi cũng thích các quả cau này và bay đến hút mật. Nhưng sau khi hút vào thì bọn ong bị say nằm la liệt ở gốc cây vì quả cau này hình như có chất men làm cho ong say. Phải hàng giờ sau bọn ong mới hết say và lại cất cánh bay đi.

    Những buổi trưa hè bên xứ Úc, đi tha thẩn trong vườn giữa tiếng ve kêu inh ỏi, nhìn lên cành cau khổng lồ cao ngều ngệu, với những lá cong cong rung động nhẹ trước gió, tôi thường mơ về tuổi thơ trên làng xưa, nhớ ông bà, cha mẹ, anh chị em, nhớ bạn bè, thầy cô, trường xưa mà không khỏi chạnh lòng, đau xót mông lung. Ôi, quê hương tôi, giờ ngàn trùng xa cách, không biết đến bao giờ mới có thể trở lại quê xưa?

  3. Phùng Tường Vân viết:

    Thuế Ngu

    “Thuế khả năng là thuế tận thu cao hơn sản lượng thực, bổ vào những gia đình sắp bị quy vào thành phần phú nông, địa chủ trước cải cách ruộng đất.” (Đ.A.T.)

    Thuế khả năng là thuế sặc gạch
    Còn hạt thóc nào vét cho sạch
    Như thế cũng vẫn chưa yên cho
    Thôi lấy sợi giây treo cổ quách.

    Đến đây, quê tôi còn thuế ngu
    Về tội sao lại dám tự tử
    Trốn nợ nhân dân, thuế chưa sạch
    Vợ con là phải đóng bù trừ.

    Tối tối trẻ con réo ngoài ngõ
    Cùng với trống ếch khua điếc lõ
    Chửi bới thô tục không thể tưởng
    “Con Nhân (1) ra ăn lồn cho tao”.

    Góp với bác vài thảm, hoạt cảnh
    Của quê hương ta những ngày ấy
    Đất nước, đất nước đại vô phúc
    Mới có những tháng năm như vậy .
    ____________
    (1)Tên tục một bác gái tôi, không còn gì để đóng “thuế ngu” cho bác trai đã tự tử. (A.T. vợ của P. gọi hai vị này là ông, bà bác.)

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>