Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié”
10/08/2010 | 7:00 sáng | 70 Comments
Category: Lịch sử
Thẻ: Nguyễn Mạnh Tường
Đọc bài “Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường” của ông Trần Văn Tích, tôi không thể không có phản ứng khi thấy ông Tích đưa ra những nhận định thiếu chính xác và thiên lệch về nhà trí thức này. Có lẽ vì viết vội vàng ông Tích đã không đủ thì giờ đọc lại nguyên bản tiếng Pháp dày 346 trang cuốn Un excommunié của ông Nguyễn Mạnh Tường mà chỉ, như ông đã tự nói, căn cứ vào bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Giang và phần chú thích của bài “Nguyễn Mạnh Tường bị cáo” của ông Đinh Từ Thức để đưa ra “những suy tư cá nhân”. Cũng có lẽ ông muốn nương vào trường hợp Nguyễn Mạnh Tường để cảnh giác trí thức trong và ngoài nước đừng có nghe lời đường mật của CSVN về “Hoà giải và Hoà hợp dân tộc” mà trở thành những Nguyễn Mạnh Tường tương lai.
Trước hết tôi xin nói về nghĩa “Un Excommunié”:
Diễn đàn Thông Luận đăng bản dịch Un Excommunié theo nghĩa đen là “Kẻ bị rút phép Thông công”. Đối với 95% dân Việt không theo Công giáo, chả ai hiểu phép Thông công là gì. Và ngay cả với những người Công giáo: bị rút phép thông công là tạm thời không được rước mình Thánh cho đến khi biết sửa lỗi. Đó chỉ là hình phạt tinh thần. Còn đối với 90% dân Pháp không bước chân vào nhà Thờ bao giờ, rút phép Thông công chả có ý nghĩa gì cả.
Ông Nguyễn Thanh Giang hiểu “excommunié” là “bị ruồng bỏ” khi lấy từ ngữ này làm đầu đề cho bài viết của ông. Tất nhiên là ở tình trạng của ông Nguyễn Thanh Giang, cũng như tuyệt đại đa số trí thức được chế độ cộng sản đào tạo: Đảng là cha mẹ. Bị Đảng ruồng bỏ cũng như bị cha mẹ ruồng bỏ nên ông Nguyễn Kiên Giang mới cất tiếng kêu than (và kéo luôn cả Nguyễn Mạnh Tường vào) “… đã nói câu nào không đúng? …Sao người ta nỡ nhân danh Đảng (Xin đèn Trời soi xét) đầy đọa hãm hại chúng tôi…!”
Cho mình là “Un Excommunié”, ông Nguyễn Mạnh Tường muốn mọi người hiểu theo nghĩa bóng là kẻ bị khai trừ : Không phải khai trừ khỏi Đảng vì ông đã từ chối không vào Đảng, mà là bị khai trừ khỏi cuộc sống loài người. Phải đọc những đoạn ông kể bị cô lập, bị bỏ đói sống thoi thóp, bạn bè thân thích ruột thịt biết là sống ở đó mà không ai được phép lại gần để giúp đỡ. Phải đọc những đoạn ông tố cáo CSVN treo trên đầu những người trí thức chống đối mình lưỡi gươm Damoclès. Những người này không biết là Đảng sẽ chọn cách nào để triệt hạ mình: Hoặc coi mình là điên nhốt vào nhà thương điên. Hoặc bị nhốt vô kỳ hạn trong một căn phòng trống chật hẹp ở một đồn Công an hẻo lánh, không ai biết mình ở đâu còn sống hay đã chết, không bao giờ được ra ngoài nhìn ánh sáng mặt trời, ban đêm bị làm mất ngủ vì những tiếng đập nồi niêu soong chảo để rút cục cũng trở thành điên. Cũng có thể Đảng ngụy tạo một tai nạn để giết mà không ai chịu trách nhiệm.
Tôi xin mạn phép ông Tích bình luận những điểm mà tôi cho là không đúng, theo thứ tự những tiết trong bài viết của ông:
16 tuổi đỗ tú tài
Học vị Tú tài có từ thế kỷ thứ XIII. Cách mạng Pháp bãi bỏ Đại học và những học vị của nó, tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Phải đợi tới năm 1808 Napoléon mới tái lập lại và năm đầu chỉ có 21 người đậu. Năm 1925 khi ông Nguyễn Mạnh Tường đậu tú tài, cả đế quốc Pháp, nếu không nói là cả thế giới (vì tiếng Pháp hồi đó là ngôn ngữ ngoại giao và văn chương được toàn thế giới sử dụng) không tới 10 ngàn người đậu mỗi năm so với 550 ngàn người (65% mỗi thế hệ) bây giờ. Phải ít nhất là 16 tuổi mới được đi thi. Tuổi hạn định là 18 vì học trình cưỡng bách Trung Tiểu học bắt đầu từ 6 tuổi. Ngay bây giờ mỗi năm chỉ có vài người ở tuổi 15-14 được đặc cách đi thi và báo chí đã nói ầm lên. Bởi vậy đậu tú tài ở tuổi 16, ngay ở chính quốc cũng là ngoại lệ.
Hà Nội thủ đô của toàn cõi Đông Dương là một thành phố Pháp và những người dân sinh đẻ ở Hà Nội được coi là thuộc dân Pháp (sujets Français) nên khó mà có thể khai gian tuổi được như những người sinh ngoài Hà Nội.
Hai luận án tiến sĩ trong một năm
Ông Trần Văn Tích đúng khi nói luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa là một thủ tục bắt buộc. Tuy vậy luận án y khoa cũng có nhiều loại có giá trị khác nhau: Người y sĩ tổng quát chỉ cần bỏ vài tháng là có thể hoàn thành luận án. Những bác sĩ chuyên khoa phải bỏ một thời gian lâu hơn nhiều, có khi suốt 4 năm nội trú. Trái lại về luật khoa và nhất là văn khoa, luận án tiến sĩ không phải là một thủ tục vì cả trăm người đậu cử nhân, cao học, chỉ những người thật là ưu tú mới kiếm được một ông thày cho đề tài làm luận án. Ngoài ra 2 ngành Luận và Văn chương khác hẳn nhau khó mà theo đuổi cả 2 cùng một lúc và nhất là trình 2 luận án cùng một lúc như ông Nguyễn Mạnh Tường được. Phần nhiều xong luận án này mới bắt đầu làm luận án kia.
Trái với ý nghĩ của ông Tích, đề tài luận án Luật về Cá nhân và luật lệ trong xã hội cổ An Nam: Thử làm Tổng hợp về bộ luật triều Lê (thế kỷ XV) không phải là dễ. Vì cái khó khi làm luận án là phải sưu tầm đủ thư mục và tài liệu. Những tài liệu về đề tài này rất ít và tất nhiên viết bằng chữ Hán, làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường có thì giờ sưu tầm để viết ra bằng tiếng Pháp? Tôi xin nhắc lại lời khen tặng của ông chủ tịch Hội đồng giám khảo (trình luận án bao giờ cũng phải trước công chúng): “Luận án của ông là một kiệt tác về Luật, và hơn nữa, về luật và văn chương. Nội dung rất vững chắc không thể chê trách vào đâu được. Hình thức thì làm người đọc loá mắt. Luận án này có những đức tính làm công trình của ông trở thành một tác phẩm văn học. Đại học Montpellier thấy ông toàn thắng trong 2 phân khoa khác nhau… 22 tuổi,Tiến sĩ Luật, ông lại sắp là tiến sĩ Văn chương. Thật là một kỷ lục vì chưa bao giờ người ta thấy ở Pháp có một tiến sĩ văn chương ở tuổi 22… Tác phẩm ông làm cả phân khoa Luật hãnh diện. Chúng tôi xin trao tặng ông hạng cao nhất mà chúng tôi có: hạng Tối ưu với những lời khen tặng của toàn thể hội đồng giám khảo. (Tôi xin nhắc lại là Đại học Montpellier có từ thế kỷ thứ XIII là một trong những đại học cổ nhất Âu Châu, cùng thời với Sorbonne, Oxford, Cambridge và nổi tiếng nhất về luật học và y khoa nên hồi Trung cổ sinh viên toàn cõi Âu châu đều muốn tới Montpellier theo học những khoa này).
Luận án văn chương của ông Nguyễn Mạnh Tường thật ra là 2 luận án khác nhau: Luận án chính nói về thi sĩ lãng mạn Alfred de Musset. Luận án phụ nói về Jules Boissière, một tác giả Pháp viết về Việt Nam cuối thế kỷ thứ XIX. Có được một đề tài làm luận án đã là khó rồi, không biết làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường lại có 2 đề tài!
Ông Trần Văn Tích muốn biết vì sao luận án của ông Cao Huy Thuần về Công giáo xâm nhập Việt Nam được dịch in mà làm ông này phiền lòng thì chỉ cần về Sài Gòn vào mấy tiệm sách quốc doanh đường Nguyễn Huệ là hiểu liền khi thấy luận án của ông Thuần được Ban Tư duy cho dịch, in thành sách bày bán.
Nguyễn Mạnh Tường từ 1932 đến 1936
Tôi không tìm thấy tài liệu nào nói ông Nguyễn Mạnh Tường trở lại Pháp sống từ 1932 đến 1936. Có thể là vì ông hành nghề tự do, dễ dàng thu xếp thì giờ, lại có phương tiện, nên mỗi năm trở lại Pháp sống cuộc đời một trí thức Pháp, vô thư viện đọc sách hay đi thăm các viện bảo tàng Âu châu, đồng thời cũng muốn thâu thập tài liệu để viết sách. Ông đã xuất bản từ khoảng thời gian đó cho tới 1940 bốn cuốn sách: Một cuốn nói về tâm lí và những hoạt động tri thức và xã hội của thế hệ trẻ Việt Nam được đào tạo ở Pháp: Sourires et larmes d’une jeunesse. Hai cuốn nói về giá trị Pháp và giá trị Địa Trung Hải (Tây Ban Nha, Ý, Hi Lạp): Pierres de France, Apprentissage de la Méditerranée. Cuốn thứ 4 là một bản kịch diễn tả sự xung đột tâm tình giữa một chàng trai thích du lịch tượng trưng nhu cầu muốn thay đổi của Phương Tây và một người con gái tượng trưng sự trung thủy và tính kiên trì của người Á Đông: Le Voyage et le Sentiment.
Tôi không hiểu vì lí do gì ông Trần Văn Tích lại cho là ông Nguyễn Mạnh Tường, cũng như đa số trí thức Pháp hồi đó, cần phải quan tâm tới mấy nhà văn marxistes vì chỉ trích chế độ cộng sản Staline phản bội Marx mà bị khai trừ khỏi các đảng cộng sản theo Staline hay tự ý bỏ đảng. Tư tưởng Marx chỉ bắt đầu có nhiều ảnh hưởng trên giới trí thức Pháp từ sau Thế chiến thứ Hai.
Những điều người trí thức có vẻ không trí và không thức
Tôi không biết ông Trần Văn Tích căn cứ vào đâu mà quả quyết là “Nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường cũng từng tự mình tự nguyện tự giác tự động đầu quân dưới trướng lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh…“
Tôi xin nhắc lại là chỉ sau ngày 19.8.1945, lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà Nội, Việt Minh phất cờ chạy theo cướp chính quyền, dân Hà Nội mới biết đến tên Hồ Chí Minh. Trước đó không ai biết ông này là ai cả. Ông Nguyễn Mạnh Tường lại càng không biết vì từ khi về nước năm 1932, không bao giờ ông để ý đến chính trị, chỉ lo hành nghề luật sư của mình, đọc sách viết văn. Ông Hồ lại khôn ngoan giải tán Đảng Cộng sản, lập chính phủ liên hiệp để đấu tranh ngoại giao với Pháp giành độc lập, khiến những người trí thức yêu nước bị đặt vào tình trạng không thể không giúp chính phủ Liên hiệp điều đình với Pháp mà ông Hồ đã khôn khéo đặt dưới sự điều khiển của các thủ lãnh quốc gia như ông Nguyễn Tường Tam bộ trưởng bộ ngoại giao, ông Vũ Hồng Khanh, phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến. Ngày 19.12.1946 (gọi là ngày Toàn quốc kháng chiến), Việt Minh đánh úp Pháp ở Hà Nội để bắt buộc toàn dân Việt Nam không còn có chọn lựa nào khác ngoài theo mình chống Pháp. Cũng như mọi người dân Hà Nội, ông Nguyễn Mạnh Tường phải đem cả gia đình cha mẹ con cái tản cư khỏi Hà Nội và theo Đại học Nhân dân vào Khu Tư. Những người quê quán gần Hà Nội lại không ai biết tiếng dễ lọt vòng kiểm soát của dân quân tự vệ để “dinh tê”. Những người có chức phận hay có tiếng tăm phải theo cơ quan lên Việt Bắc hay vào Khu Tư, khó mà trở về thành được, bắt buộc phải ở lại hậu phương với Bác, Đảng (chứ không phải ra bưng vì ngoài Bắc không có bưng biền như ở trong Nam) nên không thể nói là tự nguyện đầu quân dưói trướng ông Hồ được.
Ông Hoà Nguyễn, người mà tôi gọi là “mon Sainte-Beuve” vì luôn luôn “chỉnh” tôi về mọi vấn đề, đưa ra một nhận xét mà tôi thấy hoàn toàn chí lí “Chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo với phong trào Việt Minh cũng không nên chỉ trích thái quá (Đọc cuốn Un excommunié sẽ thấy không bao giờ ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo Việt Minh cả). Nếu vì mục đích chống Pháp giành lại độc lập ở một hoàn cảnh một trí thức đang ở giữa Hà Nội và trong vòng bủa vây của Việt Minh, thì ông Nguyễn Mạnh Tường không có cách nào khác… và có thể là bất đắc dĩ đứng hẳn về phía ông Hồ trong một thời gian phục vụ cho chính nghĩa chống Pháp, rồi khi thắng Pháp, không chịu được nữa, chống lại để bị ngược đãi, nhưng sau này có cơ hội vẫn gióng tiếng lên tiếng nói phản kháng của mình để vừa tố cáo chế độ vừa giúp cảnh tỉnh một số người (ít ra là ở Pháp).
Về chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường được tự do “lên tiếng” ở Hội nghị các Luật gia dân chủ họp tại Bruxelles năm 1956, hay ông Nguyễn Mạnh Tường bị dùng như cái micro của Đảng, tôi xin ông Trần Văn Tích đọc lại trang 32 cuốn Un Excommunié để biết phái đoàn được Đảng chỉ định đi dự Hội nghị gồm những ai: “Với tư cách là chủ tịch luật sư đoàn và phó chủ tịch hội Luật gia Việt Nam, tôi được phong làm trưởng một phái đoàn trong đó ngoài tôi còn có ông Nguyễn Huy Mẫn, một luật sư công giáo, ông Lê Văn Chất, Chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, ông Bùi Lâm, một quan chức bự (un haut dignitaire) của Đảng, hội thẩm Toà án Quân sự…” Nếu cho là trong một phái đoàn luật gia “dân chủ” Đảng cử đi, có 2 ông: một ông là chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, một ông là quan chức bự của Đảng đồng thời cũng là hội thẩm của cái toà án ấy, không phải là những người thảo mọi diễn văn bắt 2 anh luật sư, một anh là Công giáo, một anh là tư sản phải dịch ra và đọc như con vẹt, thì thật là quá ngây thơ hay chống cộng một cách quá mút mùa. Có nước dân chủ pháp quyền nào có toà án quân sự trong thời bình? Và dám thách đố dư luận quốc tế đến độ nào để cử một phái đoàn “luật gia” 4 người trong đó 2 người là thủ lãnh của cái toà án quân sự đặc biệt đó!
Ông Trần Văn Tích đem ghép chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường lên tiếng ở Bruxelles tháng 6 với chuyện dân Hung Gia Lợi nổi dậy tháng 10 cùng năm đó mà không biết là ngày 30-10-56 ông Nguyễn Mạnh Tường đã đơn thương độc mã tới buổi họp của Mặt trận Tổ quốc, đọc một bản viết đòi xây dựng lại Lãnh đạo để có một nhà nước Pháp quyền và chấn hưng lại truyền thống của cha ông vì đạo lí xã hội quá xuống cấp. Vì bài viết này mà ông Nguyễn Mạnh Tường bị 3 lần tố khổ: 1. Trước Mặt trận Tổ quốc; 2. Bởi sinh viên trong trường Đại học mình dạy; và 3. Trong trụ sở của đảng Xã hội. So với vụ Nhân văn dầu sao cũng là xử tập đoàn và những án tù có thời hạn, bản án mà ông Nguyễn Mạnh Tường phải gánh chịu nặng nề và thâm hiểm hơn nhiều: Cầm tù tại gia vô thời hạn (kể đến khi được đi Pháp là 33 năm!). Cả gia đình bị cắt tem phiếu phải mua thực phẩm chợ đen, đến khi hết tiền cả gia đình chỉ còn đủ gạo nấu cháo, đồ đạc bán chả ai mua và nhất là cả nghìn cuốn sách phải bán cân ký. Cái khổ nhất là bị cô lập bạn bè thân thuộc không ai được tới hỏi thăm giúp đỡ. Đó là cái nghĩa của Un Excommunié mà ông Nguyễn Mạnh Tường tự gán cho mình.
Ông Trần Văn Tích nên yên chí là nước Việt Nam sẽ không bao giờ sản xuất được thêm một người trí thức toàn vẹn và khí khái như ông Nguyễn Mạnh Tường nên ông đừng sợ có nhiều Nguyễn Mạnh Tường khác sẽ bị cộng sản cám dỗ. Tôi nói ông Nguyễn Mạnh Tường khí khái là vì đã không ở lại nước ngoài như những người chỉ dám viết sách viết báo để những người chống cộng đọc với nhau khi đã ra khỏi nước, mà tự trở về nước ở tuổi 82 viết một cuốn sách thuật lại cuộc đời mình bằng một tiếng Tây phương uyên bác, chuyển qua nước ngoài in để những người Tây phương hiểu Cộng sản Việt Nam đối đãi người trí thức và những người đòi dân chủ ra sao. Ông Nguyễn Mạnh Tường còn can trường: tôi xin trích dịch sau đây một đoạn trong một bức thư bằng tiếng Pháp gửi từ Hà Nội ngày 16.3.1992:
“… Nếu người ta đẩy cái dã man đến độ hành hạ tôi như đã hành hạ những người trí thức khác bị cáo là nói xấu chế độ, tôi sẵn sàng bình chân như vại chờ đợi những thử thách mà tôi biết rất là khắc nghiệt. Tôi đã quyết định, nếu sự đó xảy ra, tuyệt thực cho đến chết. Ở tuổi 84, tôi đã biết cái tốt nhất cũng như cái xấu nhất của cuộc đời nên tôi không ân hận gì bỏ cuộc sống này khi đã làm tròn bổn phận một người trí thức trước dân tộc và trước lịch sử”…
Thử so sánh với ông Nguyễn Hữu Đang: Ông Heinz Shütte phải hứa là khi ông này còn sống không được công bố những buổi đàm thoại đã diễn ra giữa 2 người từ năm 1999 đến năm 2002. Phải đợi ông Nguyễn Hữu Đang mất ngày 8.2.2007, ông Shütte mới công bố những buổi gặp gỡ này. Sở dĩ như vậy là vì ông Nguyễn Hữu Đang muốn được yên thân trong tuổi già.
Tiện đây tôi cũng xin trả lời một phản hồi của ông Nam Phan là không nên tin vào những bài tham luận, những lời tỉ tê của những vị giáo sư được cử ra để “tố thiện” ông Nguyễn Mạnh Tường (cũng như sau này sẽ tới tua những vị như Phạm Quỳnh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu…) trong những dịp kỷ niệm sinh nhật. Không có chuyện báọ Le Monde phỏng vấn để các vị giáo sư này bịa ra những câu trả lời ấu trĩ so sánh Ceausescu với ông Hồ và gán cho ông Nguyễn Mạnh Tường. Chỉ có Đài Truyền hình TF1 được nhiều người coi nhất ở Pháp phỏng vấn ông một lần và các nhà báo hỏi ông “theo ông nghĩ khi nào chế độ Việt Nam sụp đổ?” Ông Nguyễn Mạnh Tường trả lời, “Tôi không phải là nhà chiêm tinh cũng không bao giờ bói bài. Patience, patience dans l’azur! Chaque atome de silence, est la chance d’un fruit mûr!“
Những người phỏng vấn ông không thể không cảm phục cái ứng đối “xuất khẩu ra thơ Paul Valéry” này của tiến sĩ văn chương Nguyễn Mạnh Tường và hiểu là ông muốn nói chỉ cần kiên nhẫn im lặng chờ đợi. Quả sung chín thế nào cũng rụng. Nghĩa là sớm hay muộn chế độ CSVN thế nào cũng sụp đổ.
Kết luận
Có những người gọi là chống cộng nhưng thật ra là gián tiếp tuyên truyền cho cộng sản khi cho rằng mọi tầng lớp trí thức từ thời Tây đào tạo cho tới những người “trí thức của Việt Nam hôm nay, tại quốc nội hay nơi hải ngoại” đều tự đầu quân dưới trướng hay sẽ ăn bả CSVN cả. Cộng sản khi không được coi là vẫn có sức quyến rũ mãnh liệt, nằm vùng đủ mọi nơi, gửi văn công cùng mọi chỗ. Những người chống cộng chính hiệu con nai này lại tự vạch mặt chỉ tên nhau, tự tố cáo lẫn nhau, coi những người không dứt khoát với cộng sản bằng lỗ miệng như mình đều có ý muốn hoà hợp hoà giải giao lưu hội nhập với cộng sản cả. Thử hỏi: những thế hệ trẻ trong nước thấy CSVN mạnh như vậy thì còn dám ngo ngoe đòi dân quyền dân chủ làm gì? Sẽ im thin thít đợi ngày được chấp nhận vào Thành đoàn để được Đảng ban cho cái gì thì nhận cái ấy.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
70 Comments (bài “Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié””)
1 2 3 … 5 Trang sau »
P viết:
“Ngoài ra, những gì Trần Lâm nói có thể đúng với thực tế lịch sử, nhưng tôi nghĩ nó không logic về mặt lý thuyết.”
Xin được mượn một danh ngôn của Oliver Wendell Holmes, Jr để trả lời:
“A page of history is worth a volume of logic.”
@ Đinh Công Bình
Ở dưới, theo thứ tự thời gian và trong ba bài khác nhau, là ba đoạn văn của BS Tích mà tôi đã dựa vào để góp ý với ông ta:
A/ “Năm 1956, cái năm Nguyễn Mạnh Tường sang Bruxelles để biện hộ cho chiến tranh vì độc lập thống nhất thì một số quốc gia cựu thuộc địa sau đây đã độc lập mà không hề có chiến tranh: Phi luật tân, Xyri, Libăng (1946); Ân độ và Pakíttăng (1947); Miến điện, Tích lan, và Paléttin (1948); Nam dương (1949). Một năm sau, Mã lai á độc lập và ba năm sau đến lượt Tân gia ba. Có thể còn một số nước khác mà tôi chưa nhớ ra. Cái trí của Nguyễn Mạnh Tường để đâu mà đi cổ vũ bạo lực làm quà tặng cho dân tộc? Và còn lo sợ nếu làm không xong việc thì “trên” sẽ quở trách (nguyên văn trong Un Excommunié “Que pourrons-nous dire à nos dirigeants?”).”
B/ “Nói chung, đa số nếu không là hầu hết hoặc tất cả các quốc gia cựu thuộc địa sau Đệ nhị Thế chiến theo phương thức đấu tranh thâu tóm vào phương châm không bạo động và không liên kết trong khi các đảng cộng sản Việt Nam, Cao Mên và Ai Lao hoàn toàn dựa vào Quốc tế Cộng sản để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc rồi cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng bạo lực chiến tranh với sự cổ vũ của nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường tại Bruxelles. Do sự cấu kết chặt chẽ này, họ trở thành đối thủ của Hoa Kỳ và đồng minh. Cho nên De Gaulle không chịu trả Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh mà chủ trương áp dụng lá bài Duy Tân.”
C/ “Là trí thức mà ông Nguyễn Mạnh Tường không hề biết đến xu hướng giải thực sau Đệ nhị Thế chiến, không hề nghe các nước khác đã thu hồi độc lập không bạo động gây chiến để một mình đứng ra biện minh cho cuộc chiến thảm khốc sau này, ngược hẳn lại với tôn chỉ của Hội nghị Luật gia mà ông tham dự…”
Theo tôi hiểu, BS Tích đã gián tiếp cho rằng cuộc chiến tranh Việt-Pháp 1945-1954 là một cuộc chiến thật ra không cần thiết cho việc giành lại độc lập cho VN. Ông nhận định “De Gaulle không chịu trả Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh mà chủ trương áp dụng lá bài Duy Tân,” vì họ Hồ là CS.
Căn cứ vào những gì tôi đã đọc được, tôi thấy cái nhìn về cuộc chiến tranh Việt-Pháp của BS Tích là sai lầm, nên tôi phải lên tiếng.
Là một người chống Cộng sinh ra phía dưới vĩ tuyến 17, tôi tất nhiên chống lại mọi nỗ lực – văn hoá, chính trị hay quân sự – để thôn tính miền Nam phát xuất từ phía Bắc, nhưng tôi cũng không thể im lặng khi đọc những lời phát biểu có thể gây “hiểu lầm” về cuộc chiến chống xâm lăng của người Việt trong giai đoạn chín năm. Như đã nói, sự hy sinh của họ trong cuộc chiến này đối với tôi quan trọng hơn cá nhân Nguyễn Mạnh Tường rất nhiều.
@Trần Lâm: “Đây là lần thứ ba tôi phải lên tiếng góp ý với BS Tích về nguyên nhân cuộc chiến tranh Việt-Pháp 1945-1954. Không hiểu vì lý do gì Trần Văn Tích tiếp tục tránh né trách nhiệm nghiêm trọng của người Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lăng nói trên.”
Theo tôi thấy ông Trần Văn Tích nhận định về việc Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cổ vũ cho chiến tranh “thống nhất đất nước” do cộng sản miền Bắc phát động. Cuộc chiến này không có “bàn tay” của người Pháp nên họ không có trách nhiệm gì. Sau khi Việt Nam bị chia cắt, người Pháp không còn cơ hội nào để can thiệp vào đất nước này nữa. “Sân chơi” đã thuộc về các đấu thủ mới như Nga, Tầu, Mỹ!
Xin có vài ý với bác Trần Lâm và bác Trần Văn Tích:
Việc Nguyễn Mạnh Tường lên tiếng biện minh cho xu hướng sử dụng vũ lực thống nhất đất nước xảy ra vào năm 1956. Lúc này người Pháp đã không còn ở Việt Nam. Vậy vì sao Nguyễn Mạnh Tường phải liên hệ tới xu hướng giải thực sau Thế chiến Thứ hai, ở thời điểm 1956, thì giải thực bằng vũ lực là giải thực nào?
Tôi thấy ở đây mối liên hệ giữa những điều 1 và những điều còn lại lỏng lẻo:
1. Nguyễn Mạnh Tường lên tiếng biện minh cho đường lối đấu tranh vũ lực để thống nhất đất nước ở Bỉ, năm 1956.
2. Cuộc chiến tranh Việt – Pháp 1945 – 1954.
3. Xu hướng giải thực sau Thế chiến thứ Hai để thu hồi độc lập không bao động.
Ngoài ra, những gì Trần Lâm nói có thể đúng với thực tế lịch sử, nhưng tôi nghĩ nó không logic về mặt lý thuyết. Nói cụ thể hơn, tôi không nghĩ Gandhi chủ trương con đường bất bạo động kỳ cùng như vậy vì ông gặp phải một đối thủ là thực dân Anh, còn nếu như đối thủ của ông là thực dân Pháp thì ông sẽ chuyển sang đấu tranh vũ trang.
Giải thực bất bạo động là một xu hướng, thực hành nó được đến đâu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó không chỉ có địch, mà còn có ta nữa.
Nghe lời cụ Hồ, Tiến sĩ Vũ Như Canh (em ruột của Luật sư Vũ Văn Mẫu, và giáo sư tại đại học Dược Khoa Sài Gòn Vũ Thị Dần) từ Pháp về nước, thành lập trường Đại học Sư phạm tại Hà Nội với chức Hiệu trưởng. Ông Canh không vào Đảng CS, chỉ đơn thuần yêu nước Việt Nam nên đã bị cách chức xuống làm chủ nhiệm bộ môn Lý, rồi ông được cho qua Liên Sô để tu nghiệp, nhưng Giáo Sư Canh đã từ chối, và cuối cùng chỉ còn là cán bộ giảng mà thôi. Đúng như CS đã nói giới trí thức là giai cấp tiểu tư sản, đầu óc cải lương và khó tẩy não. Giáo sư Vũ Như Canh là một thí dụ điển hình.
Trần Văn Tích viết:
“Là trí thức mà ông Nguyễn Mạnh Tường không hề biết đến xu hướng giải thực sau Đệ nhị Thế chiến, không hề nghe các nước khác đã thu hồi độc lập không bạo động gây chiến để một mình đứng ra biện minh cho cuộc chiến thảm khốc sau này, ngược hẳn lại với tôn chỉ của Hội nghị Luật gia mà ông tham dự…”
Đây là lần thứ ba tôi phải lên tiếng góp ý với BS Tích về nguyên nhân cuộc chiến tranh Việt-Pháp 1945-1954.
Không hiểu vì lý do gì Trần Văn Tích tiếp tục tránh né trách nhiệm nghiêm trọng của người Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lăng nói trên.
Như đã trình bày ở lần góp ý đầu tiên, xu hướng giải thực bất bạo động sau Đệ Nhị Thế Chiến là việc thường xảy ra tại các thuộc địa của Anh và Mỹ. Những thuộc địa của các quốc gia khác ít khi nằm trong xu hướng đó.
Tại Nam Dương, một thuộc địa của Hòa Lan, người dân xứ này đã phải tiến hành một cuộc kháng chiến đẫm máu chống lại đoàn quân viễn chinh mà chính phủ Hòa Lan đã đưa sang Nam Dương sau Đệ Nhị Thế Chiến để tái thiết lập quyền cai trị của “mẫu quốc.”
Việt Nam là một thuộc địa của Pháp, nên cũng đã không nằm trong xu hướng giải thực bất bạo động ở tại các thuộc địa Anglo-Saxon. Chính sách thực dân ngoan cố của người Pháp tại xứ này có thể được xem như là nguyên nhân chính phía sau cuộc chiến Việt-Pháp nói trên. Như sử gia Nguyễn Thế Anh có nhận định:
“In the long run, the historical deadlock over decolonization proved to contain the germ of war between French imperialism and the Vietnamese independence movement. The French colonial power was not prepared to give up any of its control. The only solution left to the Vietnamese national movement was therefore to go to the bitter end in the struggle for independence.”
Và như có trình bày trong lần trước, người Pháp đã theo đuổi chính sách thực dân ngoan cố này từ thập niên 30 và thậm chí còn tiếp tục áp dụng nó sau khi họ phải “trả độc lập” cho Bảo Đại năm 1949.
“Nhưng sau 80 năm sống dưới quyền Pháp, nhân dân Việt Nam đã hiểu người Pháp quá nhiều, lại nhìn vào Bảo Đại và thành phần của chính phủ Bảo Đại, nhân dân cũng hết tin tưởng, vì vậy mà cây bài quốc gia tức cây bài Bảo Đại không có hiệu nghiệm.
Ta nhận thấy rằng trong giai đoạn này, Pháp rất lúng túng. Từ cuối năm 1946 họ dùng quân sự đối với chính phủ Việt Minh, cho tới năm 1949 không thâu được kết quả theo ý muốn. Những lời ước đoán của đại tướng Valluy và Morlière đều sai hết bởi dân tộc Việt Nam năm 1946 đã khác dân tộc Việt Nam 1858, khi mà người Pháp bước chân vào xứ Nam kỳ là lúc mà dân trí của ta còn thấp kém hơn nhiều.
Dân vẫn theo kháng chiến, kháng chiến vẫn có vẻ bền bỉ, trường tồn. Cái độc lập trao trả cho Bảo Đại và các tay sai của Pháp là Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm,… vẫn là cái trò bánh vẽ không đánh lừa được ai hết.” (Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư)
Như vậy thì khi bàn về cuộc chiến Việt-Pháp 1945-1954, chúng ta không thể chỉ dựa vào xu hướng giải thực “chung” sau Đệ Nhị Thế Chiến, mà phải lưu ý đến bối cảnh lịch sử và chính trị đặc biệt của riêng Việt Nam.
Đây là những điều thuộc kiến thức phổ thông, nên tôi không hiểu tại sao BS Tích (hình như) lại không nắm được chúng.
Tôi phải nhiều lời với BS Tích về vấn đề này, vì nó có liên quan đến sự hy sinh của hàng trăm ngàn người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống dã tâm tái xâm lăng của Pháp, một việc, theo tôi nghĩ, quan trọng hơn cá nhân ông Nguyễn Mạnh Tường rất nhiều.
– Kính ông: Ông hoc quá giỏi, kiến thức uyên thâm. Đỗ đạt cao.
– Xin lỗi ông: Không biết ông làm gì mà cho đến bây giờ (2009) nhiều người mới biết và nói về ông?
Tiếc cho ông!
R.I.P – ông Nguyễn Mạnh Tường!
“Tôi xin nhắc lại lời khen tặng của ông chủ tịch Hội đồng giám khảo (trình luận án bao giờ cũng phải trước công chúng): “Luận án của ông là một kiệt tác về Luật, và hơn nữa, về luật và văn chương…. Chúng tôi xin trao tặng ông hạng cao nhất mà chúng tôi có: hạng Tối ưu với những lời khen tặng của toàn thể hội đồng giám khảo.” (trích bài chủ của tác giả Phong Uyên)
“Chuyện hai luận án: Tôi thỉnh cầu “hải ngoại chư quân tử” ai biết hai luận án liên hệ đã có ảnh hưởng như thế nào trong học giới, đã được tham khảo rộng rãi đến đâu thì rất tiếc chưa được tác giả Phong Uyên hồi đáp. Ông dẫn lời khen ngợi của hội đồng giám khảo…” (trích lời bác Trần Văn Tích)
Dù đồng ý với tác giả Phong Uyên rằng ông Nguyễn Mạnh Tường đỗ một lúc 2 bằng Tiến sĩ vào thời 1932 là một kỳ tích (không những chỉ đối với người Việt ta thời đó mà ngay cả với người Pháp tại mẫu quốc), nhưng tôi cho rằng bác Trần Văn Tích đã nói RẤT ĐÚNG về đóng góp thực sự của hai luận án của ông Nguyễn Mạnh Tường cho kiến thức của nhân loại. Nghĩa là, cho đến nay, không hề có bằng chứng nào cho thấy công trình trong hai lãnh vực luật và văn của ông Nguyễn Mạnh Tường đã đóng góp điều gì gọi là lớn lao cho kiến thức của loài người. Những công trình này cũng không được biết rộng rãi trong giới học thuật thế giới hay ngay cả giới học thuật VN dù chúng đã hiện diện gần 80 năm (tức đã trên ¾ thế kỷ). Điều này cho thấy tuy đóng góp của ông NMT là mới mẻ (vào thời đó) theo điều kiện đòi hỏi của các luận án Tiến sĩ quốc gia của Pháp, nhưng những kiến thức này, suy cho cùng, cũng thuộc loại thường thường bậc trung chứ cũng chẳng “ghê gớm” gì cho lắm để đời sau phải nghiêng mình ngưỡng phục và coi cá nhân ông là một loại siêu việt đáng được đem ra làm gương hãnh diện cho nòi giống.
Việc ông NMT được Hội đồng giám khảo tặng hạng Tối ưu với lời khen của toàn thể hội đồng giám khảo cũng không phải là điều hiếm có đối với các luận án Tiến sĩ quốc gia Pháp. Hạng này vẫn thường được ban tặng cho nhiều người trong suốt lịch sử các bằng tiến sĩ quốc gia Pháp về mọi ngành từ xưa đến nay. Cho nên đây cũng không là big deal (to tát) gì cả.
Suy cho cùng, theo tôi, giá trị đóng góp của một cá nhân cho xã hội cần dựa vào những đóng góp thực tiễn của người đó cho nền học thuật, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật và tiến bộ của xã hội, chứ không nên căn cứ vào số bằng cấp đạt được (hay số tuổi khi đạt được bằng cấp). Về khía cạnh này, tôi thấy ông Hoàng Xuân Hãn, một người có thể xem như cùng thời với ông NMT, tuy trên mặt hàn lâm thì có vẻ kém xa ông NMT (ông HXH chỉ có bằng một bằng Thạc sĩ toán thôi so sánh với 2 bằng Tiến sĩ của ông NMT), nhưng công lao của ông HXH lớn hơn RẤT NHIỀU và đáng để dân tộc ta ngưỡng mộ, ghi ơn. Thí dụ đóng góp của HXH qua cuốn Danh Từ Khoa Học đã thúc đẩy sự phát triển học vấn toán, lý, hóa của nước ta từ những năm 1940 đến nay và đặt nền tảng cho việc dịch thuật khoa học kỹ thuật của VN. Đó là chưa kể công lao của ông HXH về chương trình giáo dục thuần Việt có tính dân tộc, khoa học và khai phóng do ông và một số cộng sự viên soạn thảo từ thời Chính phủ Trần Trọng Kim và được cả hai miền Nam Bắc sử dụng mãi cho đến gần đây.
Khi nói những điều trên, hoàn toàn không có nghĩa là tôi phủ nhận giá trị của ông NMT. Ông là người có tài và đạt được thành tích cao trong học vấn, đáng khen. Tôi chỉ tiếc cho ông là số phận hẩm hiu, không được may mắn đem tài năng ra phục vụ đất nước do hoàn cảnh ông bị phải đứng trong hàng ngũ những người cộng tác với ông Hồ để cuối cùng bị đối xử bất công oan uổng trọn kiếp người. Tôi vẫn kính trọng và thương tiếc ông như đã kính trọng và thương tiếc các ông Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo v.v…
Đọc cả hai bài về cố TS Nguyễn Mạnh Tường của hai bác Trần Văn Tích và bác Phong Uyên tôi thấy có một vài điểm căn bản mà chúng ta chưa đào sâu đúng mức.
Trí thức xử dụng trí não nhiều hơn quyền lực nên hay bị lợi dụng và nếu người ta không lợi dụng được thì bị đàn áp, trù dập. Dẫn chứng thì rất nhiều trong xã hội xưa và nay; thời bình cũng như thời chiến; và trong nhiều lãnh vực từ chính trị, tôn giáo, hành chánh đến cả lãnh vực giáo dục, nghệ thuật. Vì thế, người trí thức như chiếc lá trên đời, rất có ích cho nhân loại từ lúc còn sống màu xanh mượt cho đến khi vàng úa rụng rơi sau khi qua đời mặc bao giông gió dập vùi, lũ lụt. Học lịch, học vị và những cống hiến của trí thức cho đời hiển nhiên tùy vào hoàn cảnh cá nhân và xã hội trên nhiều phương diện; từ tình trạng sức khoẻ, y tế, kinh tế, giáo dục, thể chế, chính sách. Ông Cao Bá Quát giỏi quá nên phải chịu chém đầu nhưng cũng để lại đời những công trình thơ ca văn học độc đáo. Ông Nguyễn Trường Tộ thông thái nhiều viễn kiến dâng lên triều đình nhưng thất bại trong việc canh tân Việt Nam thời phong kiến thủ cựu xa xưa. Ông Trương Vĩnh Ký được phong làm hoàn cầu bác vật nhưng đâu có bằng Tiến Sĩ. Ông Phan Chu Trinh thông thái, cấp tiến, lịch duyệt đậu bằng cấp thật cao, tuy làm cách mạng thất bại nhưng vẫn để lại cho hậu sinh bao điều hay ý sâu về dân chủ, tự do trong các bài giảng luận vận động quần chúng. Xứ người ta thấy không thiếu thần đồng hay thiên tài học vị cao nhất khi tuổi dưới đôi mươi như Terence Tao (Fields Medal về Toán học) và đang làng giáo sư đại học. TS Perelman cũng được Fields Medal nhưng từ khước về nhà bỏ Toán học thất nghiệp sống đời bình dị không tiếc nuối gì cả.
Nhưng có một điểm tế nhị là những con người xử dụng trí tuệ để phục vụ nhân quần sau khi đã đạt được học vị mong muốn trong cùng những hoàn cảnh như nhau còn tùy thuộc vào ngành học mình theo đuổi.
Các ngành khoa học, kỹ thuật giúp đời, giúp người rất thật tế (ngoại trừ các công trình phục vụ chiến tranh). Các ngành xã hội, văn khoa với bản chất thoáng nên ảnh hưởng lợi hại xấu tốt của các bậc trí thức được đào tạo trong các ngành này trên xã hội không định lượng và phán xét được.
Một bậc lương y trị bệnh giỏi và một dược sư chế thuốc công hiệu thì dễ dàng cho chúng ta thấy ngay và nỗi danh, muôn người ghi ơn; nhưng ngược lại nếu mắc lỗi trong việc chữa trị hay chế thuốc di hại cho bệnh nhân thì phải ra toà, ngồi tù hay bồi thường các số tiền kếch xù.
Trong khi đó một giáo sư văn khoa, triết học hay luật học ngồi trong phòng suy nghĩ về tư tưởng đông tây kim cổ, đề xướng các triết thuyết, hay viết cương lĩnh cho các đảng phái, phong trào quần chúng, vận động chính trị, cách mạng, thay đổi tư duy quần chúng về các giá trị luận lý, đạo đức có ảnh hưởng vô lường mà cũng rất vô hình khó thấy trên nhân quần xã hội đương thời hay mai hậu, có tốt mà cũng có xấu. Ảnh hưởng xấu thì các vị giáo sư, các học giả, các triết gia đâu có chịu trách nhiệm hay hình phạt gì đâu, nên họ cứ tiếp tục viết, tranh cải, phản biện, bênh vực, phản hồi cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay mà không chịu trách nhiệm gì cả trước nạn nhân và luật pháp. Buồn nhất là ngày các vị này tức tưởi được một quyền lực chính trị hay kinh tế nào đó khoá mồm, phải ẩn nhẫn chờ thời, sống đời ưu thời mẫn thế, hay ngạo nghễ cười để bị tiêu diệt từ từ hay tức tốc, hay phải hạ mình cuốn theo chiều gió để tồn tại.
Nói gì thì nói, trí thức bao giờ cũng có quyền năng đến từ tri thức và trí tuệ trong đầu mình. Ảnh hưởng quyền năng trí thức lâu dài, trong khi đó các thế lực chính trị hay quân sự qua đi mau. Chắc chắn là các tác phẩm của TS Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang… sẽ tồn tại lâu dài hơn các triều đại và thể chế đã từng ca tụng họ hay trù dập họ, Tây cũng như ta. Chúng ta hy vọng là trí thức VN dầu ở đông tây, hải ngoại hay quốc nội, học vị cao vòi vọi hay bình thường không bao giờ bị xem là ‘bọn ngu xuẩn hữu ích’ hay là ‘không hữu ích hơn phân bón’ và phải chịu những áp lực chính trị hay kinh tế lợi dụng quá sức chịu đựng của họ.
Mặc dù vốn rất thích phong cách suy nghĩ và viết lách của hai ông Đinh Từ Thức và bác Trần Văn Tích, khi đọc hai bài có liên quan đến Nguyễn Mạnh Tường của hai vị tôi đã cảm thấy nghèn nghẹn nơi cổ. Bài của ông Phong Uyên đã giải thoát tôi khỏi cảm giác đó. Xin được cám ơn ông Phong Uyên.
TB. Qua phản hồi của bác TVT, tôi nghĩ bác đã để công việc “chống cộng” (có hay không có lai-xần) lấn lướt phong cách suy tư cần phải có của người trí thức mất rồi. (“Ông bố vợ tôi tuy không hề là trí thức, nhưng biết ngay, biết lập tức ông Hồ là ai”!).
Dĩ nhiên cụ Tường chả chấp hậu sinh xách mé,… nhưng chống cộng có “lai xần” mà bạ cái gì của cộng (hoặc bị dính với cộng) cũng chống hết thẩy thì… đại bất trí. Và chính vì thế nên mới bị cộng nó chọc ngoáy “lỗ hậu” hết đời này đến đời khác. Nếu Tây Đức nó chống cộng Đông Đức (theo kiểu Anamít chống cộng) thì giờ này chắc nó phải xây hàng chục lò thiêu để thiêu hết dân Đông Đức…
Ông Nguyễn Mạnh Tường nhiều chữ, hay ho như vậy mà cuối cùng cũng thân tàn ma dại dưới chế độ cộng sản. Người trí thức thật sự và chế độ cộng sản không thể cùng tồn tại dưới một mái nhà. Đó là kết luận duy nhất có ý nghĩa trong trường hợp này.
Các vị “tả” nên cảm ơn trời đã cho mình sống ở Tây, Mỹ để giờ này vẫn còn có thể ngồi uống bia mà bày tỏ tình yêu “Mác” hay chửi rủa tư bản Mỹ. Các vị sống ở xứ tư bản mà dám chửi tư bản. Ôi chao, các vị quả thật… can đảm. Người chống cộng dĩ nhiên không dám về Việt Nam để chửi cộng sản đâu.
Dù sao, tôi thà chống cộng bằng “lỗ miệng” còn hơn khom người uốn éo dâng “lỗ hậu” cho độc tài.
Ông Phong Uyên khuyên tôi nên đọc lại Un Excommunié. Tôi xin nói ngay là tôi chưa đọc cuốn sách đó. Và nếu có ai cho tôi mượn thì tôi cũng chỉ đọc ơ hờ, lơ mơ thôi. Có người cho tôi mượn cuốn hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải và cuốn hồi ký của nhà văn Tô Hoài (về cải cách ruộng đất). Tôi đọc ba chớp ba nhoáng các tài liệu đó để rồi quên luôn cả đầu đề sách, đừng nói gì nội dung. Tại sao? Tại vì tôi đã ngấy đến tận cổ những chuyện dài thuộc loại tương tự.
Bài tôi viết về Nguyễn Mạnh Tường không nhằm vào Excommunié là một, tôi lại viết nó trong tư cách một kẻ nhận job chống cộng có laixăng là hai. Đó là động cơ chính thức, duy nhất. Mà sở dĩ có động cơ đó là vụ ông Nguyễn Mạnh Tường xuất hiện ở thủ đô Bỉ để:
– lên án những kẻ gây đau khổ cho dân tộc vì chia đôi đất nước trong khi lịch sử cho biết là Ngoại trưởng VNCH, BS Trần Văn Đỗ, đã không chịu ký tên vào hiệp định Genève;
– tố cáo miền Nam lê máy chém;
– lăng mạ chính quyền cộng hoà hạ sát những người vượt vĩ tuyến 17 để đào thoát ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa bằng cách qua sông Bến Hải.
Không hề đọc Un excommunié nhưng qua bài viết của ông Đinh Từ Thức, tôi được biết ông Nguyễn Mạnh Tường đã sử dụng ngôn ngữ hoa lệ, văn chương uyên bác để trình bày ba nội dung trên, chúng thuộc nội dung chính là biện hộ cho chiến tranh (hầu như/có thể) diệt chủng sẽ xẩy ra và phải xảy ra.
Những khía cạnh khác trong bài viết chỉ là mắm muối gia vị. Dầu sao cũng xin bàn đến sơ sài cho… phải đạo.
Chuyện khai sụt tuổi, khai bớt tuổi tôi đã nói là giả thiết. Chuyện chính là 16 tuổi đậu tú tài không phải chỉ có một Nguyễn Mạnh Tường có thể làm được.
Chuyện hai luận án: Tôi thỉnh cầu “hải ngoại chư quân tử” ai biết hai luận án liên hệ đã có ảnh hưởng như thế nào trong học giới, đã được tham khảo rộng rãi đến đâu thì rất tiếc chưa được tác giả Phong Uyên hồi đáp. Ông dẫn lời khen ngợi của hội đồng giám khảo. Tục ngữ (biến dạng) có câu: con hát mẹ khen hay. Vả chăng tôi không hề bình phẩm giá trị của hai luận án với lời lẽ tiêu cực. Trái lại tôi công nhận có một số luận án có giá trị (có thể có cả luận án Nguyễn Mạnh Tường). Tôi chưa được đọc tài liệu nào cho biết ông Nguyễn Mạnh Tường là nhà thâm nho, vậy làm sao ông tra cứu được code des Lê?
Tôi đồng ý với ông Phong Uyên là luận án sau này của ông Cao Huy Thuần có tầm phổ biến rộng rãi hơn vì những lý do ngoài văn học, sử học. Tôi đã định mở ngoặc để thêm vào bài chủ nhận xét này sau khi gửi đi nhưng bài đăng nhanh quá nên tôi không làm được. Qua phản hồi hôm nay tôi xin được bổ túc chi tiết này.
Thoạt đầu ông Nguyễn Mạnh Tường không biết ông Hồ Chí Minh là ai? Ông bố vợ tôi tuy không hề là trí thức, nhưng biết ngay, biết lập tức ông Hồ là ai, không cần chờ đến những trò ma giáo như giải tán đảng cộng sản, thành lập hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác v.v…
Khi sang Bỉ ông Nguyễn Mạnh Tường cầm đầu một phái đoàn, tất nhiên trong phái đoàn phải có cán bộ cốt cán đi theo. Nếu do sự kiện này mà ông vu cáo kẻ khác để cổ vũ chiến tranh huynh đệ thì không biết có thể xem ông là “khí khái” hay không.
Ông Nguyễn Mạnh Tường sang châu Âu và đi nhiều nước để nghiên cứu mà lại không hề biết đến những gì xảy ra chung quanh mình liên hệ đến thái độ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản của giới trí thức – nhất là của Gide – thì cũng khó hiểu thật.
Là trí thức mà ông Nguyễn Mạnh Tường không hề biết đến xu hướng giải thực sau Đệ nhị Thế chiến, không hề nghe các nước khác đã thu hồi độc lập không bạo động gây chiến để một mình đứng ra biện minh cho cuộc chiến thảm khốc sau này, ngược hẳn lại với tôn chỉ của Hội nghị Luật gia mà ông tham dự…
Tôi lại trở lại với nguyên nhân bài viết “Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường” mất rồi.
Cám ơn ông Phong Uyên đã dặn dò!
(Có lẽ) chính vì thế mà tôi đã để ngỏ lời bình hầu mong nhận được cao kiến! Lại cũng hứa ẩu là nếu có thì giờ xin được nói đến dăm, ba vị trí thức, khoa bảng có, không cả khoa lẫn bảng cũng có, những người nói và viết về ông Nguyễn Mạnh Tường như nhà sử học Dương Trung Quốc, nhà văn hoá Hữu Ngọc, nhà giáo mẫu mực, tài năng Bùi Văn Vượng, ngay cả đến tay viết cho báo An Ninh Thế Giới Trần Duy Hiển…
Nhưng mà thôi, tôi chỉ sợ có điều an ủi vong linh ông NMT, nhưng cũng có điều không, nên thất hứa!
(Có lẽ) cũng là dịp để ông Phong Uyên, người sống chung với lũ, nói lên tư cách cuả nhiều vị “trí thức” nước nhà!
Tuy nhiên vì ông NMT đã quá vãng, những ông kia tuy còn sờ sờ ra đấy mà cũng như không. Báo Le Monde thì không kiếm ra hoặc có nhưng không hề phỏng vấn ông NMT, nên biết tin ai? Đây đó lại có chứng cớ về vài ba ông “Nhân Văn” sau khi nhận được bằng khen, thêm dăm triệu rủng rỉnh trước khi về cõi, lại tự an ủi: “Có thế chứ, mấy chục năm…, nay họ phải công nhận tài năng mình chứ!”, mà hí hửng “xí xóa”, thì thật hỡi ôi!
Buồn lắm chứ! Mấy trăm trang sách tâm huyết, những lời đanh thép, lên án bọn mặt người dạ thú, chẳng lẽ chỉ vì lời mời, cái ôm hôn nồng nhiệt mà lại tự ủy lạo mình: “Lãnh đạo tại Hà Nội cũng hài lòng!”. Họ hài lòng thì kệ họ. Điều nhiều người muốn biết là cụ Tường có hả dạ không?
Đối với những người chống Cộng bằng lỗ miệng hay bằng lỗ gì… thì, xin lỗi ông, ai ở vị trí nào, họ nhìn từ vị trí ấy. Không nên cho tôm, cá, cua vào chung một giỏ. Có khi nghe cái miệng sướng lỗ tai hơn là nhìn thấy cái dáng bộ rón ra rón rén, nhìn trứơc, liếc sau chỉ sợ đụng tới bàn thờ “ông bà, ông vải”. Tôi lại xin lỗi ông lần nữa để khỏi nói thêm, e chỉ làm gương mù gương xấu cho lớp trẻ!
Ông cũng chả nên sợ cho lớp trẻ “yếu bóng viá”, CS mạnh hay yếu, tùy người nhận định, có những em “chơi tới bến”, có cháu chịu lùi một bước để lấy đà…hay có những người bị đo ván ngay từ hiệp đầu. Tuỳ bản lĩnh. Cuộc đấu tranh nào chả vậy.
Xin cám ơn ông Phong Uyên về bài viết này.
Vào thời điểm Nguyễn Mạnh Tường đỗ tiến sĩ, có bằng Sơ học yếu lược ở Yên Báy đã là người có chữ, có bằng Thành chung ở Cà Mâu đã là kẻ làm thày. Ngay cả đối với người Pháp ở tại mẫu quốc, đây cũng không phải là chuyện xoàng xĩnh ở commune (huyện) thường ngày. Thủ tướng Pierre Mendès France chẳng hạn được coi là TS Luật trẻ nhất nước vào năm 21 tuổi. Mendès không có (thêm)bằng TS văn chương.
Không luận đến anh hùng hay tri thức gì đó về Nguyễn Mạnh Tường, thì việc ông Trần Văn Tích tìm cách xếp học vị và thành tích của LS Tường trong lãnh vực này vào loại ôi dào, “cũng chỉ thường thường bậc trung”, là việc, nói sao đây, có thiếu phần… cao thượng?