talawas blog

Chuyên mục:

Trần Văn Tích – Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường

02/08/2010 | 12:00 chiều | 18 Comments

Tác giả: Trần Văn Tích

Category: Tư tưởng
Thẻ: >

Tôi viết riêng bài này nhằm trình bày những suy tư cá nhân sau khi góp ý ngắn gọn với ông Nguyễn Thanh Giang mới đây. Trong bài tôi sẽ sử dụng một số chi tiết liên quan đến hành trạng Nguyễn Mạnh Tường, những chi tiết này tôi thu nhặt từ hai nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Giang và phần chú thích của bài “Nguyễn Mạnh Tường bị cáo“ mà người chấp bút là ông Đinh Từ Thức. Ở một vài chỗ, tôi suy đoán. Tôi sẽ cố gắng viết ngắn gọn, do đó sẽ có một số chú thích với chủ đích bổ túc thân bài.

16 tuổi đỗ tú tài

Nhi đồng, thiếu niên khi gặp điều kiện thuận lợi (gia cảnh khá giả, thời thế yên ổn v.v…) chỉ cần học chăm, “học gạo” là có thể đỗ tiểu học rồi trung học rất sớm. Tất nhiên cũng cần bẩm chất thông minh tương đối. (Chưa nói đến giả thiết có thể bố mẹ đã khai gian, khai sụt tuổi.)

Hai luận án tiến sĩ trong một năm

Người thanh niên Nguyễn Mạnh Tường đỗ tú tài Pháp và sang Pháp du học. Vấn đề ngôn ngữ không đặt ra. Học năm năm (1927-1932), Nguyễn Mạnh Tường “bảo vệ thành công hai luận án”. Rất nhiều người cho đây là một kỳ tích.

Trong thực tế, luận án tốt nghiệp đại học – văn khoa, luật khoa, y khoa – chỉ là một hình thức, một thủ tục. Luận án tiến sĩ luật của ông Nguyễn Mạnh Tường mang nhan đề L’individu dans la vieille cité annamite. Essai de synthèse sur le Code des Lê. Tôi đoán, dựa vào ba chữ Code des Lê, rằng đây là một tài liệu nghiên cứu luật Hồng Đức. Luận án tiến sĩ văn khoa của ông Tường có đầu đề L’Annam dans la littérature française. Đầu đề rõ ràng, không có gì phải suy luận thêm. Vấn đề đặt ra là giá trị nội tại của hai luận án. Nó đóng góp gì cho luật học, cho văn học, nó có được giới hậu sinh hậu học tham khảo rộng rãi và đông đảo hay không? Độc giả nào biết rõ về khía cạnh này, xin chỉ dẫn cho1. Luận án sau này của ông Cao Huy Thuần chẳng hạn, tạo được feedback lớn mạnh; thậm chí có người đã dịch và in nó bên Hoa Kỳ, khiến ông Thuần rất phiền lòng, theo như tôi biết. Hai luận án của ông Tường có ở vào trường hợp tương tự không? Trên thế giới này và từ trước tới nay, có biết bao nhiêu luận án tiến sĩ rồi? Đương nhiên có luận án có giá trị. Nhưng đa số chỉ chứa tải nội dung rất khiêm tốn. Trong ngành y Việt Nam chúng tôi, nhiều đàn anh khi ngồi tán gẫu dăm điều ba chuyện, vẫn cười cợt bảo rằng cái thèse của moi, moi mắc cỡ không dám đọc lại. Đó là sự thật vì khi viết luận án, tri thức chuyên môn của anh còn nghèo nàn, anh lại chưa có kinh nghiệm trình bày “tác phẩm”, anh không biết cách tìm tòi, sàng đãi thư tịch tham khảo v.v… Nghề dạy nghề, đến một lúc nào đó, nhìn lại đứa con tinh thần thuở mới tốt nghiệp, chợt thấy nó chả ra làm sao. Tất nhiên tôi cũng thế.

Gặp môi trường thuận lợi như ngày nay, ở Mỹ, ở Âu, ở Úc, biết bao thanh niên thanh nữ Việt Nam đã lập nên “kỳ tích” về học vấn thua gì –  nếu không hơn và hơn hẳn – Nguyễn Mạnh Tường.

Nguyễn Mạnh Tường từ 1932 đến 1936

Sau khi tốt nghiệp đại học, Nguyễn Mạnh Tường về nước nhưng chẳng bao lâu sau đó, ông trở lại Pháp để bỏ ra năm năm trời đi tham quan và nghiên cứu các nước châu Âu mãi đến năm 1936 ông mới qui hương để dạy học tại Lycée du Protectorat. Theo tiểu sử sơ lược – dựa vào Nguyễn Thanh Giang và Đinh Từ Thức – có thể ước tính đây là giai đoạn từ 1932 đến 19362.

Những gì đã xảy ra xung quanh nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường trong thời gian tham quan nghiên cứu này? Có nhiều chuyện:

Năm 1932 André Gide tham dự Hội nghị Hoà bình Thế giới (vẫn là Hội nghị Hoà bình Thế giới!), năm 1935 gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, viết Les Nouvelles Nourritures (Thực phẩm mới), đi Liên Xô năm 1936, cùng năm đó viết Retour de l’URSS (Từ Liên Xô về) rồi năm sau viết tiếp Retouches à mon retour de l’URSS (Sửa lại cuốn từ Liên Xô về)3.

André Breton vào Đảng Cộng sản Pháp năm 1927 nhưng năm 1929 thì cắt đứt liên lạc với Aragon và năm 1933 thì bị khai trừ khỏi đảng đồng thời bị tống xuất ra khỏi Hiệp hội Văn sĩ và Nghệ sĩ Cách mạng (Association des Écrivains et Artistes Révolutionnaires, AEAR), một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản4.

Arthur Koestler vào Đảng Cộng sản Đức năm 1932 nhưng bỏ đảng năm 1938, sống lưu vong ở Mỹ, Anh, Pháp (Koestler là người Hung Gia Lợi)5.

André Malraux tham dự Đại hội Văn học ở Mạc Tư Khoa mùa hè năm 1934, bên cạnh Ehrenburg, Nikoulin. Tại Đại hội, vì Nikoulin lên tiếng phê bình Malraux nên bị nhà văn và chính khách Pháp đập thẳng thừng6.

Nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường đi tham quan và nghiên cứu các nuớc ở Âu châu nhưng dường như không hề nghe biết những chuyện này.

Trước đó và sau đó

Mayakovsky tự tử năm 1930, lúc mới được 36 tuổi.

George Orwell viết Animal farm (Trại súc vật) năm 1945.

Marguerite Duras vào Đảng Cộng sản Pháp năm 1944 nhưng năm 1950 bị tước đảng tịch do tư cách trí thức độc lập, ưa phản kháng.

Cesare Pavese vào Đảng Cộng sản Ý năm 1943 và cộng tác với báo đảng Unita. Năm 1950 tự sát vì cảm thấy bất lực trước những vấn nạn của thành phố Turin thời hậu chiến.

Năm 1937 Francis Ponge vào Đảng Cộng sản Pháp, năm 1947 ra khỏi đảng nhằm tự do theo đuổi đường hướng sáng tác phóng khoáng của mình.

Tháng 5.1956 Nguyễn Mạnh Tường lên tiếng ở Bruxelles thì tháng 10 cùng năm đó, dân chúng Hung Gia Lợi rầm rộ nổi dậy và bị đàn áp cực kỳ dã man khiến Roger Vailland ra khỏi Đảng Cộng sản Pháp.

Những điều người trí thức có vẻ không trí và không thức

Năm 1943 tại Hội nghị Casablanca, Tổng thống Roosevelt công khai ủng hộ yêu cầu đòi độc lập của Maroc. Năm 1948 Tổng thống Truman vận động Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị Bàn tròn La Haye để thừa nhận nền độc lập của Nam Dương. Nếu Thủ tướng Lao động Anh Clement Attlee đã trả độc lập cho Ấn Độ, Pakistan năm 1947 và Tích Lan, Miến Điện năm 1948 thì năm 1956 (năm Nguyễn Mạnh Tường sang Bruxelles!) Thủ tướng Xã hội Pháp Guy Mollet cũng thừa nhận chủ quyền quốc gia của Tunisie và Maroc.

Nói chung, đa số nếu không là hầu hết hoặc tất cả các quốc gia cựu thuộc địa sau Đệ nhị Thế chiến theo phương thức đấu tranh thâu tóm vào phương châm không bạo động và không liên kết trong khi các đảng cộng sản Việt Nam, Cao Mên và Ai Lao hoàn toàn dựa vào Quốc tế Cộng sản để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc rồi cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng bạo lực chiến tranh với sự cổ vũ của nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường tại Bruxelles. Do sự cấu kết chặt chẽ này, họ trở thành đối thủ của Hoa Kỳ và đồng minh. Cho nên De Gaulle không chịu trả Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh mà chủ trương áp dụng lá bài Duy Tân. Cũng vì vậy mà chiến tranh xảy ra, trước sau không dưới hai mươi năm, đúng như ước nguyện của nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường. Lý do chính là vì Hồ Chí Minh, Khieu Samphan và Souphanouvong đã chủ trương đấu tranh vũ trang và liên kết với cộng sản; tự mình tự nguyện tự giác tự động đối đầu với thế giới dân chủ, tạo cơ hội và đưa lý do cho Tổng thống Kennedy tuyên bố biên thùy thế giới dân chủ trải dài từ Berlin tới vĩ tuyến 17 tại Việt Nam.

Nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường cũng từng tự mình tự nguyện tự giác tự động đầu quân dưới trướng lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh trong khi giới trí thức ở các quốc gia cựu thuộc địa khác có những danh tính như Gandhi, Nehru, Jinnah, U Nu, Sukarno, Quezon, Senanayake, Rahman, Lý Quang Diệu, Bourguiba, Muhammad V, Ben Bella để phục vụ. Điển hình là trường hợp Mặt trận Giải phóng Quốc gia Algérie cũng theo chủ trương phi liên kết, nhất định không chịu cho phe Quốc tế Cộng sản yểm trợ và lợi dụng; cho nên chiến tranh chỉ diễn ra trên đất nước này có một lần và chỉ kéo dài có tám năm. Nước Cộng hoà Algérie ra đời ngày 1 tháng Bảy năm 19627.

Thậm chí tổ chức Liên minh Xã hội Á châu qui tụ các nước Ấn Độ, Pakistan, Tích Lan, Miến Điện, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương, Việt Nam Cộng hoà, Cao Mên (quân chủ) cùng các phái đoàn quan sát đến từ Algérie, Nam Tư, Hy Lạp, cùng đại diện của Quốc tế Xã hội như Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hoà Lan, Áo, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, các phái đoàn của Đảng Xã hội Nhật Bản và Đảng Lao động Do Thái v.v… đã từng ra tuyên ngôn khẳng định: “Chúng tôi, các Đảng Xã hội Á châu tuyên bố phủ nhận chủ nghĩa cộng sản và quyết định tiếp tục cuộc tranh đấu của chúng tôi để thay thế các chủ nghĩa phong kiến và tư bản bằng chủ nghĩa dân chủ xã hội.”

Vì Việt Nam vốn là một thuộc địa cũ của Pháp nên tôi xin chép lại mục từ Décolonisation (Giải thực) theo tự điển Le Petit Larousse Illustré, ấn bản 2002:

Principales étapes de la décolonisation

1946: début de la guerre d’Indochine. 1947: indépendance de l’Inde et du Pakistan. 1949: indépendance de l’Indonésie et du Laos. 1954: indépendance du Viet Nam et du Cambodge. Début de la guerre d’Algérie. 1956: indépendance de la Tunisie et du Maroc. 1957: indépendance du Ghana. 1958: indépendance de la Guinée. 1960: indépendance du Nigéria et des colonies françaises d’Afrique noire. 1962: indépendance de l’Algérie. 1975: indépendance de l’Angola et du Mozambique.

Tôi còn nhớ mài mại là cái nước châu Phi Mozambique này được trả độc lập muộn màng như thế mà còn… từ chối, yêu cầu hoãn ngày tuyên cáo độc lập lại sáu tháng vì chưa kịp chuẩn bị chu đáo để thu nhận độc lập!

World Cup vừa qua. Đội banh Ghana đã có tên trong số những đội tham gia World Cup và từng khiến cho nhiều đội cừ khôi điêu đứng, kể cả đội Đức. Nigeria có đội banh nữ chiều nay tranh chung kết giải U 20 World Cup với đội chủ nhà Germany. Các cầu thủ Việt Nam đâu?8

Những Nguyễn Mạnh Tường khác

Nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường đã yên nghỉ. Bài viết này chỉ muốn làm một lễ Cầu hồn nhỏ để xin cho hương linh Ông siêu thăng. Đối với Ông, chỉ có thế.

Nhưng đối với những người tự nhận hay được coi là trí thức của Việt Nam hôm nay, tại quốc nội hay nơi hải ngoại, bài viết này có chủ đích nhắc lại những gì đã xảy ra để dùng cho hôm nay. Đã có những người tự nhận hay được coi là trí thức Việt Nam ra công khuyển mã, theo kiểu ma giáo, nhằm góp phần xây dựng nên một guồng máy tinh vi và tàn bạo để cho chính guồng máy đó quay lại đóng cũi họ nếu chưa hay không nghiền nát họ. Và họ nghiến răng trèo trẹo hỏi cái guồng máy đó nhân danh gì. Và họ viết họ nói lèm bèm phê phán nó, thường khi nói dông dài và viết lê thê. Và họ cổ vũ cho những gì là hoà hợp hoà giải, giao lưu hội nhập, quên đi quá khứ, hướng tới tương lai. Như tôi từng viết trong một phản hồi trên talawas, họ dốc lòng vun xới cho một gốc cây bàn đào mà họ nghĩ là có thể đơm hoa kết quả trên mảnh đất ma quỉ marxist-leninist. Để chờ ngày đi gặp nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường.

01.08.2010

© 2010 Trần Văn Tích

© 2010 talawas


1 Trong tác phẩm Quốc triều hình luật, Quyển A, Viet Publisher Thư Quán, 1989, của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, phần Chú thích từ trang 228 đến trang 252 không thấy ghi luận án của Nguyễn Mạnh Tường. Nhưng trong bản dịch sang Anh ngữ The Lê Code, Volume I, II, III, Ohio University Press, USA, phần Bibliography, Volume III, trang 66, có ghi: “Nguyễn Mạnh Tường. L’individu dans la Vieille Cité Vietnamienne: Essai de Synthèse sur le Code des Lê. Thèse pour le Doctorat en Droit, Montpellier, 1932.”

2 Đương nhiên từ 1932 đến 1936 không thể tính thành năm năm. Tuy nhiên tôi vẫn ghi “năm năm” theo tác giả Nguyễn Thanh Giang.

3 Chuyến đi Liên Xô của Gide có hoài bão phát hiện  một thế giới mới, một thế giới ở đấy sự không ngờ có thể ra hoa (où l’inespéré pouvait éclore). Chuyến đi lịch sử được nhiều tín đồ chính trị theo dõi và chờ đợi nhưng Gide trở về trong thất vọng não nề. Nghĩa vụ chân lý (loi de vérité) bắt buộc Gide phải nói lên nỗi kinh sợ và sự ghê tởm chủ nghĩa Stalin mà nhà văn đích thân nhìn thấy tận mắt, nghe được tận tai và Gide dũng cảm nói lên sự giác ngộ của mình để rối sau đó, đoạn tuyệt với lý tưởng cộng sản, với chủ nghĩa xã hội.

4 Nguyên do chỉ vì từ khi gia nhập đảng, Breton luôn luôn chủ trương tôn trọng quyền phê phán chỉ trích và khước từ chấp nhận bất cứ hình thức quản lý tư tưởng nào. Tháng Sáu năm 1935, chính thức đoạn tuyệt với Đệ tam Quốc tế, kịch liệt tố cáo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa vì nó chỉ xiềng xích tự do sáng tạo. Năm 1938 Breton đi Mễ Tây Cơ gặp Trotsky và viết bản tuyên ngôn Pour un art révolutionnaire indépendant (Vì một nền nghệ thuật cách mạng tự chủ).

5 Koestler viết tiểu thuyết và luận văn kết án nặng nề chế độ cộng sản và Liên xô, được ngưỡng mộ qua các tác phẩm Darkness at noon (Tối tăm giữa trưa, tiếng Pháp: Le zéro et l’infini); The yogi and the commissar (Tu sĩ du-già và viên chính ủy, tiếng Pháp: Le commissaire et le yogi).

6 Khi Malraux phát biểu, Nikoulin bảo: “Tôi phải nói thêm với đồng chí Malraux vì đồng chí có một câu khiến có nhiều cách hiểu: ‘Ai đặt nhiệt tình chính trị lên trên lòng yêu chuộng sự thật thì chớ đọc sách của tôi. Sách đó không phải viết cho họ đâu!’.” (Que tous ceux qui mettent des passions politiques au-dessus de l’amour de la vérité s’abstiennent de lire mon livre. Il n’est pas écrit pour eux!). Malraux muốn đề cập đến tác phẩm La condition humaine (Phận người), Giải thưởng Goncourt 1933.

7 Đoạn văn này dựa vào hai bài nghiên cứu của Luật sư Nguyễn Hữu Thống: 1) “Đối chiếu sách lược đấu tranh của Phan Chu Trinh và Hồ Chí Minh”. Tạp chí Thế kỷ 21, số 123, tháng Bảy 1999, trang 12-18. 2) “Công cuộc đấu tranh giành độc lập và vai trò của Đảng Cộng sản”. Tạp chí Định Hướng số 25, trang 152-167. Phần lớn tôi chép lại nguyên văn.

8 Cuốn Cánh buồm ngược gió, Nhà Xuất bản Văn hoá Sài Gòn, ấn bản 2008, Nguyễn Bá Hoàn chủ biên, trang 221, cho biết: “Lần khác khi đến Indonesia để tham dự giải Sea Games thì cầu thủ đội mình thiếu áo có số, tôi cùng Ban Huấn luyện đi tìm nơi vẽ số, nhưng ngặt nỗi hôm đó là ngày lễ Ramada, mọi người đều nghỉ làm việc (…)”. Cầu thủ mặc áo không có số thì ai cho ra sân, nói chi đến tranh tài, trong một trận đấu quốc tế ở nước ngoài! Việt Nam ta ưa chơi những trò ngoạn mục thiệt.

Bình luận

18 Comments (bài “Trần Văn Tích – Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường”)

  1. Nam Phan viết:

    Để có một cái nhìn chính xác và khách quan về nhân vật Nguyễn Mạnh Tường, tôi xin gửi đến quý độc giả một “hành trạng” (chữ bác Trần Văn Tích dùng) khác và mới (nhất) của Nguyễn Mạnh Tường.

    Trong một bài tham luận cuả GS Nguyễn Lân Dũng nhân dịp có cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm 100 ngày sinh (1909-2009) của ông Nguyễn Mạnh Tường tại Hà Nội ngày 24 tháng 12 năm 2009, có một trích đoạn được GS Nguyễn Văn Hoàn cung cấp. Những lời sau đây là do ông Nguyễn Mạnh Tường kể lại cho GS Hoàn nhân chuyến đi Pháp 1989:

    “… Năm 1989, tôi sang Pháp và lưu lại Pháp 4 tháng. Phóng viên Le Monde đến phỏng vấn. Họ muốn tôi lợi dụng cơ hội này để trả thù. Tôi lấy ý ‘cú đá cuả con lừa’ trong thơ ngụ ngôn cuả La Fontain(e) để trả lời, tôi nói: ‘Chỉ có con lừa mới đá con sư tử già, người trí thức (sic) đâu phải con lừa!’ Họ lại hỏi: ‘Ở Roumanie, Ceausescu đã sụp đổ, VN thì sao?’ Tôi trả lời: ‘Roumanie là Roumanie, VN là VN. Ceausescu thì so sánh thế nào được với Hồ Chí Minh. Trên đất nước VN, Đảng CSVN là mạnh nhất, không thể lật đổ ĐCSVN, nhưng nó phải được tổ chức lại, phải sa thải bọn tham ô. Phải lập lại truyền thống Diên Hồng và lắng nghe ý kiến của nhân dân’. Họ lại hỏi: ‘Thế theo ông, bao giờ có cách mạng dân chủ ở VN?’ Tôi đọc câu thơ cuả Paul Valery:

    ‘Patience, Patience, patience dans l’azur!
    Chaque atone de silence
    Est la chance d’un fruit mur!’

    (B/S Trần Ngọc Ninh dịch như sau: Kiên nhẫn, hãy kiên nhẫn trong trong xanh! Mỗi sát na yên tịnh. Cơ may quả lành!)

    Ông Phạm Bình, Đại sứ ta ở Pháp hồi đó mời tôi đến thăm sứ quán, tôi vừa vào, ông ôm hôn nồng nhiệt. Các vị lãnh đạo ở Hà Nội cũng hài lòng.”

    Tôi xin miễn bình luận!

    PS: Nếu có thời gian tôi sẽ nói thêm về những “trí thức XHCNVN” nói gì, viết gì về Nguyễn Mạnh Tường.

    Độc giả muốn đọc cả bài tham luận xin ghé Viet-studies, ngày 18-01-2010.

  2. Nguyễn Đăng Thường viết:

    1. @ Đỗ Kh.
    Nếu mình đã hiểu lầm thì mình xin lỗi Đỗ Kh. vạn, vạn lần và rất mong sẽ được ân xá.

    Zimbabwe nay là đất lành cho chim đậu. Con “chim” già gần đất xa trời này hôm nào chán miền Viễn Tây của mấy anh cao bồi John Wayne, Gary Cooper, Randolph Scott thì sẽ bay qua Harare xin tị nạn tư bản và để được sống chung với hồn ma của Arthur Rimbaud. Nếu đi thì mình sẽ rủ Khiêm cùng đi cho vui nhé!

  3. Trần Lâm viết:

    Cũng như trong lần góp ý trước với BS Tích, tôi chỉ muốn bàn thêm về nguyên nhân phía sau cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-1954.

    BS Tích đã đánh giá quá thấp đầu óc thực dân cực kỳ ngoan cố của người Pháp khi cho rằng “De Gaulle không chịu trả Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh mà chủ trương áp dụng lá bài Duy Tân,” vì họ Hồ là CS.

    Như GS Nguyễn Thế Anh nhận định trong một bài nghiên cứu đã được trích dẫn: Thậm chí cho đến năm 1949 người Pháp vẫn chưa chịu từ bỏ đường lối thực dân này đối với Bảo Đại. Điều này đã làm cho lá bài Bảo Đại mất hết uy tín. Sử gia Phạm Văn Sơn cho biết:

    “Nhưng sau 80 năm sống dưới quyền Pháp, nhân dân Việt Nam đã hiểu người Pháp quá nhiều, lại nhìn vào Bảo Đại và thành phần của chính phủ Bảo Đại, nhân dân cũng hết tin tưởng, vì vậy mà cây bài quốc gia tức cây bài Bảo Đại không có hiệu nghiệm.

    Ta nhận thấy rằng trong giai đoạn này, Pháp rất lúng túng. Từ cuối năm 1946 họ dùng quân sự đối với chính phủ Việt Minh, cho tới năm 1949 không thâu được kết quả theo ý muốn. Những lời ước đoán của đại tướng Valluy và Morlière đều sai hết bởi dân tộc Việt Nam năm 1946 đã khác dân tộc Việt Nam 1858. khi mà người Pháp bước chân vào xứ Nam kỳ là lúc mà dân trí của ta còn thấp kém hơn nhiều.

    Dân vẫn theo kháng chiến, kháng chiến vẫn có vẻ bền bỉ, trường tồn. Cái độc lập trao trả cho Bảo Đại và các tay sai của Pháp là Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, …vẫn là cái trò bánh vẽ không đánh lừa được ai hết.”

    (Việt Sử Toàn Thư, trang 493, http://www.viethoc.org/eholdings/sach/vstt.pdf)

    Trước đó, trong thập niên 30, người Pháp cũng có một thái độ ngoan cố tương tự đối với Phạm Quỳnh, một người thật tâm muốn hợp tác với Pháp. Xem Gerard Sasges, “’Indigenous Representation is Hostile to All Monopolies’: Pham Quynh and the End of the Alcohol Monopoly in Colonial Vietnam,” Journal of Vietnamese Studies 5/1 (Winter 2010), p 24.

    Xem thêm một nhận định khác của GS Nguyễn Thế Anh về thái độ ngoan cố của thực dân Pháp trong thập niên 30:

    “Mais le gouvernement français ne se montrait aucunement prêt à abandonner le rapport de domination politique, même après l’avènement du Front populaire….De la sorte, depuis 1930 les gouvernements français successifs avaient constamment suivi la même politique coloniale au Vietnam, quelle qu’ait été leur appartenance politique. Le même principe directeur continuait à prévaloir : les concessions n’étaient faites qu’à petites doses, et elles étaient faites non pas aux dépens de l’autorité française, mais dans le but de la consolider.”

    http://vninfos.com/selection/histoire/Impact.html

    Ai cũng biết, Bảo Đại và Phạm Quỳnh không có liên hệ nào với CS. Thế nhưng người Pháp vẫn ngoan cố với họ.

    Điều nói trên khiến tôi thấy GS Anh đáng tin hơn BS Tích, khi vị sử gia này chép:

    “In the long run, the historical deadlock over decolonization proved to contain the germ of war between French imperialism and the Vietnamese independence movement. The French colonial power was not prepared to give up any of its control. The only solution left to the Vietnamese national movement was therefore to go to the bitter end in the struggle for independence.”

  4. Trần Kinh Kha viết:

    Buồn cười! Quý vị tham gia Talawas để làm gì? Để nói lên suy nghĩ của mình – quá bình thường – nhưng nên nhớ:

    Nói: về Nguyễn Mạnh Tường,

    Là: một lịch sử,

    Là sự phán xét đúng, sai.

    Chứ không phải kiểm thành tích mà phong huy chương hay lời khen tặng.

    Đất nước này không cần thành tích (quá nhiều và nhảm cũng lắm)

    Mà cần đúng hay sai cho hậu thế.

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Tôi nghĩ dù chứng minh của ông Trần Văn Tích rất đúng về chuyện học vấn, văn bằng xét ở trường hợp của ông Nguyễn Mạnh Tường, dù không cho ông NMT là thiên tài xuất chúng, có một không hai, nhưng không thể phủ nhận ông là trí thức của VN vào thời đó (cho tới bây giờ), khi ông xuất hiện giữa những đám người VN đa số thất học mà nếu nhìn từ châu Âu dù không coi họ còn dã man, thì cũng chưa được khai hóa để thành văn minh đúng nghĩa. Chúng ta biết có sự cách biệt lớn giữa cái học ở trường để đạt một mảnh bằng chuyên môn với sở đắc được kiến thức sâu và rộng (cả với cái tâm) đòi hỏi ở một trí thức. Ông Nguyễn Mạnh Tường học giỏi nhưng chưa thấy được công nhận là bậc trí thức của nước Pháp hay châu Âu, được xếp đứng chung hàng với các nhân vật ông Trần Văn Tích nói tới trong bài (như André Gide là một thí dụ). Nói cho cùng, tôi nghĩ ông Nguyễn Mạnh Tường chỉ như một con gà trong đàn gà đông đảo, nhiều màu sắc, tầm cỡ ở Pháp và châu Âu, nhưng ông nổi bật như một chim phượng hoàng khi đứng ở Đông Dương hay VN của thời đó.

    Thật sự, ngày xưa tôi chỉ nghe tiếng ông Nguyễn Mạnh Tường học giỏi, nói tiếng Pháp giỏi hơn cả Tây, được ca ngợi trong lần hội nghị Pháp-Việt ở Đà Lạt, và chỉ vậy. Ông không để lại ấn tượng, ảnh hưởng gì lớn hơn cho đám hậu sinh VN (ít ra ở miền Nam), theo như ông TVT nhận xét. Ông Hoàng Xuân Hãn được nhiều người biết hơn, và đem lại lợi ích, tạo được ảnh hưởng tốt nhiều hơn đối với người VN sau này (nhưng không phải bằng tài toán học mà ông chuyên môn). Ông Hoàng Xuân Hãn cũng có cái thông sáng, “trí tuệ” để không rơi vào trường hợp của ông NMT.

    Nhưng chủ đích của bài ông Nguyễn Thanh Giang là nêu lên trường hợp một trí thức VN đúng nghĩa đã bị ngược đãi, áp bức, chà đạp từ khi tỏ ra không còn đồng ý với chế độ, và vì thế ông Nguyễn Mạnh Tường đáng nêu lên hơn những người khác, và có thể tạo thành một trường hợp tiêu biểu (vẫn còn có Trần Đức Thảo, nhưng ông này đã tự ý chọn chủ nghĩa CS). Chuyện ông NMT đi theo với phong trào VM, và lúc đó nhiều người biết là CS trá hình, cũng không nên chỉ trích thái quá. Nếu vì mục đích chống Pháp, giành lại độc lập, ở hoàn cảnh một trí thức đang giữa Hà Nội và trong vòng bủa vây của VM, thì ông NMT không có cách nào khác. Đã có những người chống lại ông Hồ ngay từ lúc đó, nhưng thất bại, hay theo ông Hồ một thời gian rồi sau thoát ly, chống lại (cũng thất bại), thì nên thông cảm với sự chọn lựa của ông Nguyễn Mạnh Tường, chỉ là một trong nhiều cách chọn lưa, và có thể là bất đắc dĩ: đứng hẳn về phía ông Hồ trong một thời gian phục vụ cho chính nghĩa chống Pháp, rồi khi thắng Pháp không chịu được nữa, nên bất mãn, chống lại, để bị ngược đãi, nhưng sau này khi có cơ hội thoát ly, vẫn gióng lên tiếng nói phản kháng của mình, để vừa tố cáo chế độ, vừa giúp cảnh tỉnh một số người (ít ra ở Pháp). Tôi nghĩ ngay trường hợp ông MNT nói về vụ “lê máy chém” tưởng tượng ở miền Nam thời ông Diệm, cũng có thể hiểu được. Đang phục vụ cho chế độ miền Bắc, không có thông tin chính xác về miền Nam, ông chỉ trình bày trước hội nghị quốc tế những điều ông nghe kể và tin là đúng, hoặc giả phải nói điều ông biết là không thật, để phục vụ mục tiêu chính trị ông cho là đúng (như đánh đổ chế độ “Mỹ nguỵ” để đi tới thống nhất). Tóm lại, không nên trách cứ mãi ông NMT là trí thức mà (ban đầu) không đủ “trí” để thấy chủ nghĩa CS độc hại như thế nào. Thời đó vẫn còn nhiều điều không rõ được trắng đen (ngay cả bây giờ nữa) để một nhà bác học Mỹ cung cấp tài liệu làm bom nguyên tử cho Liên Xô. Nhiều trí thức thượng thặng trên thế giới cũng đã bị mê hoặc, lừa dối về chủ nghĩa CS như ông Trần Văn Tích viết, để sau này tự sát hay phản tỉnh và chống lại khi họ có cơ hội. Điều may là ông Nguyễn Mạnh Tường có được cái cơ hội để phản tỉnh, và trường hợp ông nên coi là một bài học có ích cho nhiều người.

    Tôi nghĩ ông Nguyễn Thanh Giang không chỉ dừng lại ở chỗ bài học có ích trên, mà còn muốn dùng trường hợp của NMT để đi xa hơn, ít ra để nói lên những điều chắc là khó nói thẳng và nói rõ trong một bài viết muốn được dễ phổ biến rộng ở cả trong nước và ngoài này.

  6. Đỗ Kh. viết:

    @ Nguyễn Đăng Thường

    Cám ơn anh về hiểu lầm và dịp để nói rõ hơn
    Xin đọc là:

    Hoà bình, đa đảng và bầu cử tại Mozambique chỉ có được sau khi đa số da màu nắm quyền ở Nam Phi và Rhodesia (Zimbabwe) khiến RENAMO mất các hậu thuẫn này.

  7. Nguyễn Đăng Thường viết:

    @Trần Văn Tích

    – Xin bổ sung cho phản hồi trước đã gõ sót: “Xin cám ơn ông “lương y” (bác sĩ còn lương tri chỉ cạn lương tháng) TRẦN VĂN TÍCH chuyên trị chứng LIỆT NÃO dù tui chưa đọc kỹ bài chủ nhưng rất “tín nhiệm” ông chủ tiệm “văn ôm”.

    @Đỗ Kh.

    – “Hoà bình, đa đảng và bầu cử chỉ có được sau khi đa số da màu nắm quyền ở Nam Phi và Rhodesia (Zimbabwe) […..] (Đỗ Kh.)

    Xin thưa: Zimbabwe nay không chỉ có “bầu cử tự do” mà có cả “đắc cử tự do” và “tổng thống tự do” nữa. Sir Robert Mogabe sẽ luôn luôn đắc cử (tự do) và sẽ giữ ghế tổng thống (tự do) mười chưn… forever and forever?!

  8. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Trí thức là… CỤC VÀNG!

    Xin cám ơn ông “lương y” (bác sĩ còn lương tri chỉ cạn lương tháng) TRẦN VĂN TÍCH dù tui chưa đọc kỹ bài chủ nhưng “tín nhiệm” ông chủ tiệm “văn ôm”

    Riêng tui:

    TUI chỉ là TRÍ NGỦ
    Qua Mỹ bán TRIẾT LÚ
    Được che dù chụp mũ
    Là TRIẾT GIA CÒI HỤ

  9. Đào Nguyên viết:

    Trí thức Việt là đất chẳng được tẩy sạch, chẳng được mưa dào.
    Những lãnh tụ vĩ đại của trí và thức Việt lập mưu. Họ như rắn rít hùm beo lập mưu nhằm cắn xé con mồi trí thức. Họ nuốt các linh hồn của trí thức, bần cùng trí thức từ vật chất, trí tuệ đến tinh thần. Trí thức Việt trở thành những con người cô đơn lang thang giữa chốn thị thành quốc nội lẫn hải ngoại.
    Các lãnh tụ vĩ đại hủ hóa trí và thức khiến trí thức vi phạm luật pháp của ngay cả chính trí và thức. Trí thức làm dơ cả trí lẫn thức. Trí thức mất dần khả năng phân biệt lẽ thật giả thanh tục, cái gì là ô uế, cái gì là tinh sạch.
    Các lãnh tụ vĩ đại của trí và thức trở thành muông sói xé mồi, chỉ lo làm đổ máu, làm mất linh hồn trí thức, để mưu lợi bất nghĩa.
    Các lãnh tụ vĩ đại của trí và thức dùng bùn trét vào mắt vào tai trí thức khiến trí thức hết thấy điều giả dối, lại còn phải nói điều gian dối.
    Các lãnh tụ vĩ đại của trí và thức hành sự bạo ngược, công khai phạm sự trộm cướp, khủng bố kẻ nghèo nàn thiếu thốn, và ức hiếp người trí thức.
    Các bác Trần Văn Tích, Nguyễn Thanh Giang, Đinh Từ Thức,… và luôn cả Đào Nguyên này đã và đang tìm một trí thức giữa vòng trí thức Việt hầu xây lại cái thành trì của trí và thức đang rạn nứt giữa một cảnh đời trí và thức nhiễu nhương nói trên, rồi đây sẽ mang nhiều thất vọng. Rất hiểu vì sao bác Trần Văn Tích thất vọng rồi sanh ra nỗi giận. Tui cũng vậy thôi!

  10. Trương Đức viết:

    “Là triết học về xã hội hay về đạo đức, chủ nghĩa xã hội đã dựa trên lý tưởng về tình huynh đệ con người, mà có thể không bao giờ thực hiện được bằng biện pháp thể chế. Chưa từng bao giờ có, và sẽ không bao giờ có một biện pháp thể chế nào bắt buộc con người phải trở thành anh em với nhau. Tình huynh đệ bị ép buộc ấy là ý tưởng độc hại nhất mà con người đã nghĩ ra trong thời hiện đại; nó là con đường tất yếu dẫn tới chế độ chuyên chế toàn trị. Chủ nghĩa xã hội theo ý nghĩa này chẳng khác gì toàn là dối trá lọc lừa.“(Leszek Kolakowsi)

    Trước hết, cho tôi được bày tỏ sự cám ơn đến BBT talawas. Bởi vì, tôi thấy là, liên tiếp mấy tuần vừa qua, dường như BBT talawas đang “chủ ý” tiến hành một “phép so sánh”. Và kết quả của “phép so sánh” đó, có thể nói, đối với tôi, rất là ngoạn mục! Qua “phép so sánh” đó, tôi học được khá nhiều điều bổ ích. Trong những “phép so sánh” được đăng tải gần đây như là “Vụ Ngô Tự Lập – Vụ Nguyễn Trường Tô”, “Còi không hụ du kí – Xứ Úc Thòi Lòi: đi dễ khó về”, “Cầm bút – Cầm búa”,v.v… thì tôi thấy nổi bật lên hơn cả, là “phép so sánh” giữa Leszek Kolakowsi và Nguyễn Mạnh Tường. Đến đây, chắc các bác sẽ hỏi là tôi muốn nói lên điều gì? Vâng, tôi muốn nói lên “Sự Còn Lại”, các bác ạ. Bởi vì, nói theo ngôn ngữ triết học, sau “phép so sánh” là “sự còn lại”. Và hôm nay, đọc được bài viết rất tâm huyết này của bác Trần Văn Tích, thì tôi như được thấy rõ hơn điều: “Nguyễn Mạnh Tường còn lại gì”, hay nói rộng ra là “Trí thức Việt Nam còn lại gì”.

    Đối với tôi, “sự còn lại” của “trí thức Việt Nam” là: Những “trí thức Việt Nam”, ví dụ như Nguyễn Mạnh Tường, cũng có một cái “tâm” như những trí thức trên thế giới, mà tiêu biểu là Leszek Kolakowsi, nhưng không có được một cái “tầm” như họ. “Tầm” ở đây, ngoài trí tuệ, còn bao hàm cả “sự ảnh hưởng” đến vận mệnh dân tộc của người trí thức. Những trí thức như Leszek Kolakowsi, (“Leszek Kolakowsi (1927-2009) là một triết gia Ba Lan nổi tiếng thế giới, có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào phản kháng ở Đông Âu, đặc biệt tại Ba Lan.”, trích Trần Quốc Việt), đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự đi lên của đất nước bằng cái “tầm” lớn lao của mình. Ngược lại, những trí thức Việt Nam, mà cụ thể là Nguyễn Mạnh Tường, đã không có được một cái “tầm” như thế. Tôi nghĩ, cuộc đời bi kịch của Nguyễn Mạnh Tường, về một khía cạnh nào đó, chính là hệ quả của cái sự “Tình huynh đệ bị ép buộc ấy là ý tưởng độc hại nhất mà con người đã nghĩ ra trong thời hiện đại; nó là con đường tất yếu dẫn tới chế độ chuyên chế toàn trị. Chủ nghĩa xã hội theo ý nghĩa này chẳng khác gì toàn là dối trá lọc lừa.”, mà “phiên dịch” sang trường hợp của Việt Nam ta, không gì khác chính là cái sự “cha già dân tộc”. Người trí thức Nguyễn Mạnh Tường đã bị cái “tình huynh đệ” của Hồ Chí Minh chinh phục và lừa lọc! Nguyễn Mạnh Tường không có được một cái “tầm” đủ lớn để nhìn ra sự thật. Đây là điều “trớ trêu” trong cuộc đời của ông, mà giờ đây, nếu có thể dùng từ của Leszek Kolakowsi, cũng chính là “sự còn lại” của con người Nguyễn Mạnh Tường!

  11. […] HIỆN TƯỢNG NGUYỄN MẠNH TƯỜNG Bởi ngoclinhvugia Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường […]

  12. Camillia Ngo viết:

    “Người trí thức có vẻ không trí và không thức”. Cảm ơn bác Trần Văn Tích đã nhận định về ông Nguyễn Mạnh Tường như vậy. Điều đáng buồn là mãi cho tới bây giờ trong giới trí thức người Việt ở trong và ngoài nước vẫn còn quá nhiều kẻ “không trí và không thức”.

  13. Đỗ Kh. viết:

    Xin phép được góp ý bên lề bài viết của ông Trần Văn Tích.

    “Tôi còn nhớ mài mại là cái nước châu Phi Mozambique này được trả độc lập muộn màng như thế mà còn… từ chối, yêu cầu hoãn ngày tuyên cáo độc lập lại sáu tháng vì chưa kịp chuẩn bị chu đáo để thu nhận độc lập!”

    Độc lập của Mozambique (và Angola) không được đơn giản như được nói đến qua ở đây để làm quà, và nhất là để minh hoạ cho “phương thức đấu tranh thâu tóm vào phương châm không bạo động và không liên kết” của tác giả.

    Bồ Đào Nha cho đến Cách mạng 1974 mới thoát khỏi chuyên chế độc tài tại ngay mẫu quốc thì hòng gì mà có chuyện “trả độc lập” sớm hơn cho các thuộc địa châu Phi! Thật ra, chính các phong trào giải phóng dân tộc tại Phi Châu thuộc Bồ và bế tắc quân sự tại Phi Châu đã khiến quân đội Bồ lật đổ độc tài trong nước, cho nên có thể nói là các phong trào này mới là thành phần “trả lại dân chủ muộn màng” cho chính nước Bồ!

    Tại Mozambique, mặt trận FRELIMO đã đấu tranh vũ trang giành độc lập từ 1964. Sau độc lập 1975, Mozambique còn phải trải qua một nội chiến 15 năm giữa chính quyền FRELIMO được Liên Xô và Cuba ủng hộ và đối kháng RENAMO được Rhodesia và Nam Phi (chính quyền thiểu số da trắng) giúp đỡ. Hoà bình, đa đảng và bầu cử chỉ có được sau khi đa số da màu nắm quyền ở Nam Phi và Rhodesia (Zimbabwe) khiến RENAMO mất các hậu thuẫn này.

    “André Breton vào Đảng Cộng sản Pháp năm 1927 nhưng năm 1929 thì cắt đứt liên lạc với Aragon và năm 1933 thì bị khai trừ khỏi đảng đồng thời bị tống xuất ra khỏi Hiệp hội Văn sĩ và Nghệ sĩ Cách mạng (Association des Écrivains et Artistes Révolutionnaires, AEAR), một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản4.
    Nguyên do chỉ vì từ khi gia nhập đảng, Breton luôn luôn chủ trương tôn trọng quyền phê phán chỉ trích và khước từ chấp nhận bất cứ hình thức quản lý tư tưởng nào. Tháng Sáu năm 1935, chính thức đoạn tuyệt với Đệ tam Quốc tế, kịch liệt tố cáo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa vì nó chỉ xiềng xích tự do sáng tạo. Năm 1938 Breton đi Mễ Tây Cơ gặp Trotsky và viết bản tuyên ngôn Pour un art révolutionnaire indépendant (Vì một nền nghệ thuật cách mạng tự chủ).”

    Tôi hoàn toàn đồng ý với trích đoạn trên và ghi chú của ông Trần Văn Tích. Tuy nhiên, bản tuyên ngôn (viết chung với Trotsky hay viết chính bởi Trotsky và ký chung với Diego Rivera) thì phê bình Đệ tam Quốc tế ở trong trường hợp này là một phê bình từ phía tả của Đệ tam, trên một lập trường cộng sản được gọi là Đệ tứ.

    Về việc này, có thể tham khảo phần giới thiệu của bản tiếng Việt “Văn học và cách mạng” của Trotsky ở đây

    http://www.tusachnghiencuu.org/

  14. Hoàng Trường Sa viết:

    “Nói chung, đa số nếu không là hầu hết hoặc tất cả các quốc gia cựu thuộc địa sau Đệ nhị Thế chiến theo phương thức đấu tranh thâu tóm vào phương châm không bạo động và không liên kết trong khi các đảng cộng sản Việt Nam, Cao Mên và Ai Lao hoàn toàn dựa vào Quốc tế Cộng sản để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc rồi cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng bạo lực chiến tranh với sự cổ vũ của nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường tại Bruxelles. Do sự cấu kết chặt chẽ này, họ trở thành đối thủ của Hoa Kỳ và đồng minh. Cho nên De Gaulle không chịu trả Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh mà chủ trương áp dụng lá bài Duy Tân. Cũng vì vậy mà chiến tranh xảy ra, trước sau không dưới hai mươi năm, đúng như ước nguyện của nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường. Lý do chính là vì Hồ Chí Minh, Khieu Samphan và Souphanouvong đã chủ trương đấu tranh vũ trang và liên kết với cộng sản; tự mình tự nguyện tự giác tự động đối đầu với thế giới dân chủ, tạo cơ hội và đưa lý do cho Tổng thống Kennedy tuyên bố biên thùy thế giới dân chủ trải dài từ Berlin tới vĩ tuyến 17 tại Việt Nam.” (Trần Văn Tích)

    Đúng thế. Ông Hồ và ĐCSVN tiến hành cuộc “kháng chiến chống Pháp” từ năm 1946 đến 1954 và cuộc chiến xâm lược miền Nam VN với chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” từ 1960 đến 1975, thực chất chỉ là theo đúng sách lược hai giai đoạn của Quốc tế 3 Cộng sản là cuộc “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” giành quyền cai trị toàn cõi VN, tiếp nối bằng cuộc “cách mạng xã hội chủ nghĩa” để tiến lên CNXH và Chủ nghĩa CS. Hoàn toàn không vì Độc lập, Tự do, Hạnh phúc của dân tộc VN như họ lớn tiếng lu loa từ hơn 65 năm qua.

    Cố sử gia Hứa Hoành, qua bài Hồ Chí Minh Gây Nội Chiến Và Chủ Trương Chiến Tranh Trường Kỳ đã phân tích rất chi tiết các ý đồ, thủ đoạn và động thái của ông Hồ và ĐCSVN.

    Đây chính là nỗi bất hạnh lớn nhất của Tổ quốc ta mà mọi người VN cần phải thấy để can đảm vượt qua bóng đen của lịch sử do ĐCSVN tạo ra hòng lường gạt nhân dân và lịch sử VN ta.

  15. noileo viết:

    “Nhưng đối với những người tự nhận hay được coi là trí thức của Việt Nam hôm nay, tại quốc nội hay nơi hải ngoại, bài viết này có chủ đích nhắc lại những gì đã xảy ra để dùng cho hôm nay. Đã có những người tự nhận hay được coi là trí thức Việt Nam ra công khuyển mã, theo kiểu ma giáo, nhằm góp phần xây dựng nên một guồng máy tinh vi và tàn bạo để cho chính guồng máy đó quay lại đóng cũi họ nếu chưa hay không nghiền nát họ. Và họ nghiến răng trèo trẹo hỏi cái guồng máy đó nhân danh gì. Và họ viết họ nói lèm bèm phê phán nó, thường khi nói dông dài và viết lê thê. Và họ cổ vũ cho những gì là hoà hợp hoà giải, giao lưu hội nhập, quên đi quá khứ, hướng tới tương lai. Như tôi từng viết trong một phản hồi trên talawas, họ dốc lòng vun xới cho một gốc cây bàn đào mà họ nghĩ là có thể đơm hoa kết quả trên mảnh đất ma quỉ marxist-leninist.” (Trần Văn Tích, bài chủ)

    Cám ơn Bs Trần Văn Tích rất nhiều, đã pót lên ý kiến trên.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>