Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (2)
02/08/2010 | 1:00 sáng | 16 Comments
Category: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Thơ đến từ đâu
Nguyễn Đức Tùng: Chị có phải là “người Huế” không?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi là người Huế đó chứ. Ba mẹ tôi đều là người Huế mà. Nhưng tôi vẫn thường đùa là Huế nhà quê chứ không phải là Huế Kim Long hay thành nội. Ba tôi quê ở làng Đồng Di, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang. Một địa danh đã đi vào ca dao: Không đi thì sợ chính phủ tình nghi/ Mà đi thì sợ Đồng Di, Tây Hồ. Tôi nghe kể những người lính quốc gia trước đây, đã rất sợ nếu phải đi càn quét nơi này. Ở đây, thời đó, người chết nhiều hơn cả người sống.
Còn quê của mẹ tôi lại có một cái tên nghe rất lạ: Sịa.
Ba mẹ tôi đã vào Đà Nẵng sinh sống từ sau năm 1960. Vậy nên tuy sinh ra ở Huế, tuy giọng nói của tôi mang âm sắc Huế rõ rệt, ai nói chuyện với tôi đều nhận ra tôi là người Huế. Nhưng tôi lại có lỗi vô cùng vì tôi không biết gì nhiều, không gắn bó gì sâu sắc với vùng đất này. Những gì tôi biết về quê hương phần lớn đều qua sách vở và những câu chuyện kể. Huế vẫn luôn như một vùng đất lạ trong tôi. Đó thật sự là một điều đáng tiếc phải không anh?
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi bỗng nhớ đến câu thơ sau đây:
Je cueillis un nid dans le squelette du lierre
(Tôi tìm thấy tổ chim
Trên bộ xương của dây thường xuân)
(Yvan Goll, dẫn theo Gaston Bachelard)
Những nơi chốn mà ta đã sống, đã đi qua, đang sống, ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành tâm hồn một người. Đối với nhà thơ Đinh Thị Như Thúy, Huế, Tây Nguyên và những nơi khác để lại dấu ấn như thế nào trong thơ chị?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi lớn lên tại Đà Nẵng. Một thành phố tràn ngập biển. Tôi mê núi nên muốn có thời gian sống ở núi. Tôi chọn học đại học ở Đà lạt là vì thế. Giờ nghĩ lại tôi vẫn biết ơn mảnh đất đó. Đà Lạt là một nơi nhiều người ao ước có dịp đến, tôi đã sống ở đó những năm Đà Lạt còn nhiều yên lặng vắng vẻ. Yên lặng vắng vẻ nhưng vẫn rất “Tây”, vẫn sáng điện, vẫn café quán, vẫn những con đường dạo quanh hồ nước…
Khi về Đắc Lắc dạy học, sống ở một vùng heo hút, những năm đầu, điện đóm không, quán sá không, phải một thời gian sau tôi mới quen được. Nhưng vùng đất này quả thật là một nơi không để cho ai có cơ hội nhàm chán. Những khắc nghiệt dữ dội, những thay đổi sống động, của thiên nhiên đất trời cây cỏ qua từng thời điểm luôn làm tôi ngạc nhiên. Và tình yêu, và những buồn vui, được mất của những con người nhỏ bé, lương thiện. Tôi đã viết về những điều đó.
Còn Huế?
Tôi nhớ: Tháng 1 năm 2009, tôi về Huế để nhận tặng thưởng về Thơ của Tạp chí Sông Hương. Khi được mời lên phát biểu tôi đã không nói được gì. Tôi không phải là người ứng khẩu nhanh nhạy. Lời mời lại đột ngột quá. Nhưng lý do chính là tôi đang tràn ngập buồn vì thấu rõ sự lạc lõng khi đứng trên quê hương. Tôi nghe những giọng nói, tôi nhìn những khuôn mặt, tôi nghĩ về số 32 – Phủ Hoài Đức, ở Phường Phú Cát, nơi tôi sinh ra…
Số phận đã không cho tôi gắn bó với nơi này.
Mỗi ban mai/ Những ám ảnh của giấc mơ đêm đè nặng/ Như chiếc đòn gánh trên vai người thiếu phụ chân đất đầu trần/ Gánh đậu hủ qua cầu Bạch Hổ ban trưa/ Hai tà áo gió cuốn về hai phía.
Trong bài “Người đàn bà không giấc ngủ” tôi đã viết như thế. Một người bạn của tôi đã hỏi: sao không viết là gánh cơm hến vì gánh cơm hến có màu sắc Huế rõ rệt hơn? Tôi không lý giải. Tôi nhớ, đã nghe mẹ tôi kể về những dấu chân hằn trên mặt nhựa đường nóng chảy mùa hè ở Huế. Đậu hủ thường được bán vào tầm trẻ con ngủ trưa dậy. Người bán dạo phải gánh khắp phố phường vào ban trưa. Tôi nghĩ về sự mưu sinh vất vả, và những giằng xé khác trong bản thân mỗi con người, mà sự vất vả về thân xác kia chỉ là một.
Nguyễn Đức Tùng: May mà chị đã không sửa gánh đậu hủ thành gánh cơm hến, nếu không thì chúng ta đã mất đi một câu, thậm chí một bài, thơ khá hay.
Mặc dù ngoài đời cả cơm hến lẫn đậu hủ gánh tôi đều thích; và cơm hến thì đúng là đặc trưng cho Huế thật. Câu chuyện (vui) của chị gợi ra nhiều vấn đề của thơ Việt Nam: để thoát ra được khỏi luồng chảy lờ đờ hiện nay, các nhà thơ sẽ phải dùng sức rất nhiều, phải làm việc ghê gớm lắm, chống lại sự sáo rỗng, sự giả dối và nhiều thứ khác. Chống lại các huyền thoại.
Tôi cũng thường tự hỏi: thơ của các nhà thơ nữ hiền lành, dịu dàng cũng như tính cách của họ trong cuộc đời. Họ có thể làm mới mà không “nổi loạn” được chăng?
Đinh Thị Như Thúy: Những bài thơ là chân dung thật sự của người viết, phải không anh? Tôi nhớ trong một bài phỏng vấn anh đã nhắc đến Maya Angelou với câu nói: tôi là người phụ nữ da đen, vì vậy, thơ tôi lúc nào cũng có hơi hướm của một người phụ nữ da đen. Những nhà thơ nữ (Việt Nam), tôi nghĩ cũng có người hiền lành, dịu dàng, cũng có người không như thế. Cả trong thơ và trong đời.
Có thể tôi phải hỏi lại anh về chữ “làm mới” trong câu hỏi này? Một bài thơ tỏa lan hơi thở sống động của cuộc sống hiện đại từ đề tài cho đến cách thể hiện phải chăng là một bài thơ mang tinh thần mới?
Tôi thấy rất nhiều tác giả nữ bây giờ viết rất táo bạo anh ạ. Và thật thú vị, khi ta được tiếp nhận nhiều cách viết, cách thể hiện khác nhau với nhiều đề tài khác nhau như vậy. Điều đó cho thấy sự vận động không ngưng nghỉ của thơ. Tôi nghĩ cứ để cho mọi người được viết một cách tự do về những điều họ muốn viết. Và những gì còn lại phải chờ thời gian.
Tuy nhiên, trên thực tế, tôi cũng thấy: có những điều tưởng nổi loạn táo bạo trong thơ, lại không mới. Cũng như vấn đề trẻ hay già, có người già nhưng làm thơ rất trẻ trung, có người mới viết lại viết rất già nua cũ kỹ đó thôi. Như vậy, rốt cuộc, có lẽ vẫn phải là: hơi hướm của một người phụ nữ da đen như đã nói ở trên phải không anh?
Nguyễn Đức Tùng: Tôi cho rằng hiện nay có những nhầm lẫn lớn về quan niệm đối với thơ hay và thơ mới, thậm chí có thể mở rộng ra đối với các sáng tạo văn học khác. Đây là một đề tài lớn, tôi chỉ xin nhận xét về một khía cạnh nhỏ.
Một số người cho rằng muốn làm mới trong thơ thì cần viết rất táo bạo như chị vừa nói. Viết táo bạo theo họ có nghĩa là đụng đến các đề tài cấm kỵ như tình dục, dung tục v.v…
Thật ra, táo bạo không phải chỉ ở đề tài mà còn là, và căn bản là, ở phong cách thể hiện, nội dung xã hội và tư tưởng thẩm mỹ. Không có phong cách riêng, không có nền tảng tư tưởng khai phá, sự nổi loạn về đề tài sẽ bị dừng lại vì nhiều lý do. Các đề tài cấm kỵ văn hóa sau một thời gian ngắn bị đập phá sẽ không còn tính chất cấm kỵ nữa. Tác phẩm khó đứng được với thời gian. Những người có ý thức muốn làm mới văn chương về chính trị nhưng không dựa trên một nền tảng tư tưởng thẩm mỹ cách tân, sẽ sáng tạo ra các tác phẩm mang tính “chửi bới”, thiếu chất văn học, không có tính thuyết phục lâu dài.
Ngược lại, một nền văn học nhút nhát, thường xuyên tránh né chạm mặt với các sự kiện chính trị sôi động sẽ không bao giờ là một nền văn học lớn. Nhiều tác giả tài năng của Việt Nam trước đây, có người thậm chí được gọi là nhà văn lớn, hiện nay đều tàn đi, nhỏ lại, phần lớn là theo kiểu như thế.
Tôi có tỏ ra khó tính quá chăng, thưa chị?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi không biết anh có tỏ ra khó tính quá không. Nhưng những điều anh nói trên đây rất thú vị.
Tôi cũng đã có nhiều suy nghĩ khi đọc các tác phẩm về những đề tài cấm kỵ và nhiều băn khoăn trong tôi đã được giải đáp khi nghe anh.
Nguyễn Đức Tùng: Trong một bài thơ của chị trên Tiền Vệ, tôi nhớ câu này:
Nơi chỉ biết tranh đoạt mà không biết chinh phục.
Nơi chỉ biết đòi hỏi mà không biết lao động nghiêm túc.
Nơi đầy ắp những hèn hạ đố kỵ soi mói khó chịu với tất thảy những gì tốt đẹp chung quanh.
Điều này tôi tin là đúng với người Việt ở khắp nơi, hiện nay, trong nước cũng như hải ngoại. Một nhà thơ bạn tôi mới đây nhận xét: Đinh Thị Như Thúy là một tiếng nói mới giữa những nhà thơ trẻ hiếm hoi, có mang được những vấn đề xã hội vào trong thơ của mình. Chị nghĩ sao về điều này?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi là người cảm tính, tôi thường chỉ viết được về những gì ập vào tôi, ám ảnh tôi, làm nên sự run rẩy chao đảo trong tôi. Tôi nghĩ, những vấn đề xã hội (nếu có như anh nói), có thể cũng đã đi vào thơ tôi bằng con đường đó chăng?
Cuộc sống bên ngoài luôn tác động vào ta theo một cách nào đó. Và theo một cách nào đó, chúng ta phải tìm được cách dung hòa những tác động đó để tồn tại, và giữ được bản thân ta thăng bằng trong tồn tại. Có một thực tế tôi thấy, là môi trường sống bây giờ đã có quá nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu. Tôi luôn có cảm giác bị nhiễm độc bởi những gì phải ăn, phải hít thở, phải nghe, phải tiếp nhận… hằng ngày. Như trong bài thơ:
ngày nhiễm độc
đã dai dẳng trở lại nhiều lần cơn sốt u buồn làm nhoè mờ mọi cảm giác, đó là ngày hai mươi mốt tháng bảy bờ biển phía nam thái bình dương phủ đầy tảo đỏ, người đàn bà trở mình ngồi dậy sự đau nhức trú ngụ trong từng ống xương đã làm nên những cơn ác mộng suốt đêm, thế giới đang bị nhiễm độc những độc tố đang đi vào mỗi vật thể theo những con đường khác nhau, những con cá nhiễm độc những trái táo đỏ nhiễm độc, nhiễm độc dòng sông nhiễm độc bầu trời nhiễm độc sữa, nhiễm độc truyền thông nhiễm độc những ruộng rau muống những nồi thịt hầm, nhiễm độc những tách café sủi bọt, những vô cảm những thản nhiên những cơ hội những đổi thay tráo trở của những con chữ trong những bài thơ của những nhà thơ
người đàn bà với cơn rúc rỉa trong ống chân, nghe ngóng sự đau nhức ứ căng tưởng chừng trong ống xương không là tuỷ mà tràn đầy độc tố, những cào cấu man dại vào thịt da rướm máu là phản ứng tức thời muốn thanh lọc mình bằng thương tích, đau đớn hãi sợ nàng quẫy cựa muốn hét lên nhưng không một tiếng vang nào được thoát ra từ vòm họng trống rỗng, ngay lúc đó nàng cay đắng nhận ra mình đã đánh mất chiếc lưỡi trong những triền miên trốn chạy, ôi những lời định nói những bài hát định thì thầm những tiếng gọi định gửi vào không gian thinh lặng lúc bình minh tất thảy đã thành vô vọng rồi sao
từ đó nàng tập nói bằng mắt bằng hơi thở bằng những cọng tóc mai cứ chực xoã bung khi bị kích động, từ đó nàng tập nuốt những suy nghĩ xuống bụng và vùng bụng dưới của nàng luôn căng tức nóng ran, chỉ một thời gian sau nàng đã có cái vẻ nặng nề chậm chạp ưu tư của môt thiếu phụ mang thai đang chờ ngày sinh nở
(5.7.2009)
Vì vậy, viết là một cách để tôi thanh lọc bản thân. Tôi thường nhìn ngó tôi trong những trạng huống khác nhau để thấu rõ những cảm xúc suy tư của mình. Tôi cũng mong rằng những bài thơ tôi viết ra sẽ không chỉ là lời thì thầm của mình nói với chính mình, mà nó sẽ tìm được sự sẻ chia từ ai đó khi họ tình cờ đọc được.
Nguyễn Đức Tùng: Tôi rất thích cách nói của chị, và xin nhắc lại, tổng quát hơn: viết là để thanh lọc.
Hình như sự thanh lọc này cũng can dự vào một nỗi ám ảnh dữ dội ngấm ngầm mà tôi thường tìm thấy trong thơ Đinh Thị Như Thúy:
Cách biệt không là núi
Cách biệt không là sông
Ngoảnh mặt về bóng tối
U u miền gió giông
Cuộc sống của chị ra sao? Điều gì làm cho chị hạnh phúc?
Đinh Thị Như Thúy: Cuộc sống tôi bình thường như nhiều người khác anh ạ. Tôi có chồng, có hai con trai. Chồng tôi dạy toán cùng trường với tôi. Ngoài thời gian đi dạy, tôi lo công việc nhà và viết khi có điều gì đó thôi thúc. Bạn bè tôi cho rằng: tôi không được buồn, vì không có lý do để buồn.
Nhưng như nhiều người làm thơ khác tôi vẫn thường băn khoăn: Đời sống ta đang sống có thực sự là một đời sống không? (Nguyễn Quang Thiều). Tôi biết cuộc sống luôn bất toàn. Đôi khi có những tan vỡ dịu dàng kiểu như: Sự vỡ tan mang khuôn mặt trăng rằm. (Không là cổ tích). Và những xa cách không phải do khoảng cách địa lý mà tự lòng người.
Điều gì làm cho tôi hạnh phúc? Trong một bài tùy bút, tôi có viết: Cuộc sống đã làm ta yêu vì những điều nho nhỏ như thế này, đúng không? Và hạnh phúc phải chăng cũng thế? Hạnh phúc đôi khi không đến từ những điều gì đó thật lớn lao mà đến từ những điều thật nhỏ bé. Ví như bông hoa này? Hay màu trời xanh kia? Hay một ly cafe cùng bè bạn? Một bàn tay xiết chặt? Một cái ôm ghì thương yêu trong bóng tối?
Một ngày bình yên, nhẹ nhõm cho mọi người thân trong gia đình, và một điều thú vị nho nhỏ từ cuộc sống cho tôi. Với tôi vậy là hạnh phúc rồi. Anh có thất vọng vì câu trả lời này không?
Nguyễn Đức Tùng: Thưa không.
Don’t want nothing
That can’t be
Left out in the rain
(Đừng đuổi theo hoài
Điều chi chẳng đặng để ngoài trời mưa)
(Gary Snyder)
Hay là:
Hạnh phúc rất đơn sơ
Nhịp đời đi chậm rãi
Mái nhà yên bóng trưa
Ong hút chùm hoa cải
(Huy Cận, trích theo Đặng Tiến, báo Diễn Đàn)
Như thế thì hạnh phúc ấy ngày xưa Huy Cận đã có rồi, lúc nhỏ tôi cũng đã có rồi, bây giờ chị cũng có nữa, vậy thì tôi chỉ mong là có nhiều người hiện nay sẽ được như chị. Có vẻ như chúng ta không cần nhiều lắm những thứ xa vời ảo tưởng khác chăng? Bao nhiêu người sẽ đồng ý với chúng ta?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi mong là ít thôi. Nếu ai cũng bằng lòng với những điều nhỏ bé thì ai sẽ làm nên những điều lớn lao cho xã hội? Mà xã hội bây giờ lại rất cần những người làm được những điều lớn lao anh ạ. Là tôi nghĩ thế.
Nguyễn Đức Tùng: Tôi hiểu điều mong ước của chị. Ai cũng mong như thế, nhưng tôi không mấy tin vào chuyện “những điều lớn lao”, không tin vào tự sự về các anh hùng, vĩ nhân và những huyền thoại tương tự. Có lẽ nên bắt đầu từ những việc tốt đẹp giản dị và nhỏ nhặt nhất chăng? Bởi vì: đã lạc đường càng đi nhanh càng lạc, đã gãy đổ càng lớn lao càng gãy đổ.
Nhưng tôi đi hơi xa, xin trở lại với thơ của Đinh Thị như Thúy nhé?
Vì sao chị viết?
Đinh Thị Như Thúy: Câu hỏi này của anh thật sự làm tôi lúng túng. Trả lời được, thì tôi, có khi không viết được nữa anh ạ.
Đôi khi tôi viết như một cách trò chuyện với mình, nhìn vào bản thân mình, nhìn cuộc sống quanh mình với một tâm thế khác? Có khi tôi viết để trốn chạy sự mỏi mệt? Có khi tôi viết với lòng hân hoan say đắm. Có khi tôi viết trong buồn bã chán chường hoang mang.
Tôi không có những khát vọng lớn lao muốn thay đổi cuộc sống quanh tôi. Tôi viết với mong muốn thay đổi bản thân tôi. Nhưng, có khi nào tôi thay đổi thì cuộc sống quanh tôi cũng sẽ đổi khác không, anh?
Dù gì đi nữa, thì thơ tôi là chính tôi, với tất cả những suy tư chiêm nghiệm của tôi trước mọi vấn đề đến với tôi trong đời sống. Tôi trung thực và chân thành với cảm xúc và suy tư của mình. Tôi nghĩ, thơ ca được viết ra, trước tiên, để an ủi chính người làm ra nó.
Nhưng tôi có biết một cô giáo. Dạy văn anh ạ. Cô này không bao giờ đọc sách. Nhất là thơ. Cô ấy bảo với tôi là: sách là sản phẩm của những người có tâm trí điên loạn. Họ viết ra để gieo rắc sự điên loạn của họ. Đọc họ có khi ta sẽ điên loạn như họ, nên tốt nhất là đừng đọc!
Nguyễn Đức Tùng: Những nhà thơ nào mà chị thường đọc nhất hay chịu ảnh hưởng nhiều nhất?
Đinh Thị Như Thúy: Việc đọc của tôi thật lung tung lộn xộn. Cái gì tôi cũng thích đọc, dù không phải cái gì đọc tôi cũng hiểu hết được. Tôi không có nhiều bạn bè văn chương nên việc trao đổi tác phẩm cho nhau để đọc cũng hạn chế. Thị trấn Krông Pắc nơi tôi đang sống không bày bán nhiều sách báo. Thỉnh thoảng tôi được một số người làm thơ gửi tặng những cuốn thơ của họ và tôi thấy đó là những món quà rất quý.
May mắn là tôi có nối mạng internet. Tôi thường nói năm 2005 là năm vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của tôi. Năm đó tôi in tập thơ đầu tiên, tập Cùng đi qua mùa hạ, và quan trọng hơn, năm đó tôi nối mạng internet.
Những trang web văn chương mà tôi thường xuyên đọc là trang Tiền Vệ và trang Văn Chương Việt. Tôi đã học hỏi được rất nhiều từ những tác phẩm văn chương in ở các trang này. Cả những tác phẩm của những người mới viết, và những tác phẩm của các tác giả nổi tiếng. Cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Tôi nghĩ tất cả đều ảnh hưởng đến tôi và các bài thơ của tôi theo một cách nào đó. Tôi rất biết ơn những người dịch vì nhờ họ tôi có cơ hội tiếp nhận những bài thơ rất hay rất khác biệt.
Có một cuốn sách ảnh hưởng nhiều đến tôi anh ạ. Đó là cuốn Khải hoàn môn của Erich Maria Remarque (bản dịch của Cao Xuân Hạo). Tôi thường đọc lại cuốn này khi tôi có thời gian và muốn tự “thưởng” cho mình một cảm giác dễ chịu.
Nguyễn Đức Tùng: Theo chị thế nào là một bài thơ hay, thế nào là một bài thơ dở?
Đinh Thị Như Thúy: Những bài thơ hay thường mang đến cho tôi một cảm giác khát khao. Có thể mơ hồ có thể rõ rệt. Nhưng đó là cảm giác làm tôi không yên ổn. Tôi phải ngay tức khắc làm một điều gì đó. Như hít thở thật sâu, hay bước ra sân chạm tay vào cây lá. Những bài thơ hay khiến tôi thấy mình yếu đuối hơn lại thấy mình mạnh mẽ hơn, thấy yêu cuộc sống và yêu những thân phận. Và thấy cần làm một điều gì đó cụ thể, rõ rệt cho những người thân và cho cả những người xa lạ.
Những bài thơ hay theo tôi còn là những bài thơ có khả năng khơi gợi sự sáng tạo trong người khác. Tôi thường bị thôi thúc viết khi đọc thơ của các nhà thơ: Thanh Thảo, Inrasara, Mai Văn Phấn, Ý Nhi, Giáng Vân, Lê Vĩnh Tài, Hoàng Vũ Thuật… và nhất là khi đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Mặc dù tất cả những điều nhà thơ này viết ra đều mang một vẻ rất riêng về một vùng đất mà tôi chưa hề biết đến. Nhưng những gì thể hiện trong đó đã khiến tôi phải có cái nhìn khác vào đời sống mà tôi đang sống. Tôi gọi đó là những bài thơ chứa đầy ánh sáng.
Nguyễn Đức Tùng: Về nghệ thuật, tôi cũng nhìn thấy một vài điểm tương tự trong phong cách của thơ Đinh Thị Như Thúy và thơ Nguyễn Quang Thiều, và có thể một số nhà thơ khác nữa, như đặc tính dàn trải, giàu chi tiết, nhiều hình ảnh, nặng tính toàn thể. Tôi nghĩ rằng phong cách ấy sẽ ngày càng có nhiều độc giả hơn.
Làm thơ đối với chị dễ dàng hay khó khăn?
Đinh Thị Như Thúy: Với tôi cuộc sống không có gì dễ dàng. Làm thơ cũng vậy.
Nguyễn Đức Tùng: Chị có thường sửa đi sửa lại một bài thơ hay không?
Đinh Thị Như Thúy: Hầu như không anh ạ. Những bài thơ đã được viết ra rồi, cũng như những sinh thể đã được sinh ra rồi, sẽ có một số phận và tôi chấp nhận số phận đó của nó. Như đã nói ở trên, tôi thường viết nương theo cảm xúc và viết là một cách để tôi tự trò chuyện, khám phá, hay thanh lọc bản thân tôi. Bài thơ, do đó, khi viết ra đã làm được điều mà nó phải làm. Nếu có những vụng về, nhạt nhẽo thì cũng đã rồi. Tôi không thích phải can thiệp vào nó bằng cái nhìn tỉnh táo quá. Mà chắc gì sửa đi sửa lại sẽ làm cho bài thơ thú vị hơn?
Nguyễn Đức Tùng: Một trong những định nghĩa căn bản nhất của thơ là: sự sắp xếp tối ưu của các chữ tối ưu.
Định nghĩa này có lẽ đang bị thử thách trong thời kỳ hiện nay, nhất là với chủ nghĩa hậu hiện đại.
Đọc tiểu sử một số nhà thơ, tôi có nhận xét riêng: những người làm thơ dài hơi có khuynh hướng làm một lần, ít sửa lại, những người làm thơ ngắn, cô đọng, có khuynh hướng ngược lại, sửa đi sửa lại nhiều lần. Sự khác nhau này gợi ra nhiều vấn đề về sáng tạo và nhất là về mỹ học. Ví dụ: sự khác nhau giữa những người làm thơ có vần và những người làm thơ tự do, xa hơn, giữa lối đọc cổ điển và lối đọc hiện đại.
Ngoài ngôn ngữ thơ, tôi cũng quan tâm đến cấu trúc: một bài thơ của chị kết thúc như thế nào?
Đinh Thị Như Thúy: Khi những dồn nén ám ảnh thôi thúc trong tôi đã chảy trôi hết theo câu chữ thì bài thơ kết thúc. Ví dụ như bài “Với con tàu mắc cạn”. Cảm giác bất lực của những con tàu đứng sừng sững trên cát dọc bờ biển Nguyễn Tất Thành – Đà Nẵng sau cơn bão làm tôi ngột ngạt. Tôi đã nghĩ đến những thân phận mắc kẹt đâu đó trong cuộc đời. Tôi thấy như thể tôi cũng đang mắc kẹt. Và tôi viết. Khi tôi có cảm giác được giải thoát thì bài thơ đã hoàn thành.
Với con tầu mắc cạn
Sinh ra là để đi
Để dịch chuyển tự do
Để đối mặt với bát ngát xa xăm phơi mở những chân trời sóng
Chiều nay con tầu mắc cạn chết sững sờ bãi cát
Bất lực chịu đựng bao ánh mắt
Thảng thốt giấc mơ về lại biển khơi
Chiều nay con tầu đã làm tôi buồn quá
*
Chúng đã từng bồng bềnh duyên dáng
Từng ngạo nghễ rướn tấm thân vạm vỡ
Từng rúc vang những hồi còi náo động
Những cánh tay đã vẫy chào
Những hải âu đã bay vờn
Những lượn sóng bạc đã dựng tường thành cao vút
Những sao đêm đã nhấp nháy cười
Chúng có thể tan nát nơi ghềnh đá
Có thể nhàn rỗi rũ buồn trong bến cảng già nua
Có thể chìm sâu đáy đại dương
Không một tưởng tượng nào về con tầu sừng sững cô đơn đứng chôn chân trên cát mịn
*
Sinh ra là để khát khao
Rạch trên bao la xanh những con đường bạc
Mỗi lần rời bến là một lần sáng tạo
Những lối đi những hải cảng không trùng lắp
Một chân trời khép mở một chân trời
Chiều nay con tầu kinh ngạc chết trong bất động
Kinh ngạc chết mãi không sao hiểu được
Vì sao
Đám đông hiếu kỳ ném vào con tầu cái nhìn giễu cười thương hại
Mơ hồ những dự báo đáng sợ
*
Sinh ra là để mơ
Những giấc mơ sẽ vẫn tiếp tục tràn trề biển khơi và ánh sáng
Khi những giây leo xanh xanh lạnh bắt đầu bò lan
Khi bóng tối mục ruỗng thân tầu lặng lẽ đến
Cùng những con còng lăng xăng gió
Đà Nẵng, 10.10.2009
Nguyễn Đức Tùng: Đây là bài thơ hay và cũng là một trong những bài hay của Đinh Thị Như Thúy. Chị đi tìm điều gì khi đọc một bài thơ (của người khác)?
Đinh Thị Như Thúy: Có nhiều điều để tìm kiếm lắm chứ anh. Cảm xúc, nội dung, đề tài, cách thể hiện. Tìm những điều tôi có. Tìm những điều tôi thiếu.
Tuy nhiên cũng như khi viết, phần nhiều là: tôi đọc thơ chỉ vì thích đọc thôi. Tôi cũng thích được trôi chảy cùng sự trôi chảy của người khác trong các bài thơ của họ. Sự tìm thấy là điều đến sau, và không phải khi nào cũng cần tìm cho bằng được phải không anh?
Nguyễn Đức Tùng: Mặc dù là người nổi tiếng về các bài thơ xúc động lòng người, có khuynh hướng mạnh về xã hội, chính trị, Auden lại là người cho rằng thơ không nhắm hướng tới một vấn nạn nhân sinh gì cả. Ông nói đại ý: tôi hỏi một người trẻ tuổi mới tập viết, tại sao anh làm thơ? Nếu anh ta trả lời rằng anh có một điều gì đó để bày tỏ, phải nói ra cho bằng được, thì tôi sẽ khuyên anh ấy từ bỏ công việc này.
Theo chị, thơ có mục đích gì không?
Đinh Thị Như Thúy: Mục đích của bài thơ là làm xúc động lòng người đó thôi. Và khi lòng người lay động thì người ta có thể làm tiếp một điều gì đó, mà mơ hồ đâu đó trong bài thơ thúc giục. Nhưng những mục đích như thế trong thơ không thể do cố tình mà làm nên được. Tôi nghĩ: tự thân bài thơ sẽ làm được một điều gì đó, nếu nó thực sự được viết ra từ thẳm sâu những xúc động của người viết, trước một vấn đề nào đó của đời sống con người.
Nếu khi viết, người viết có mục đích rõ ràng quá, tính toán sắp đặt gửi gắm quá, tôi nghĩ có khi bài thơ sẽ bị mang vác những thứ không phải là thơ.
Nguyễn Đức Tùng:
Đã có điều gì đó không kịp thời
Đã có cái gì đó chắn ngang đường
(Đinh Thị Như Thúy)
Là một thứ thơ trữ tình mà có tư tưởng, duyên dáng nữ tính mà cứng cỏi. Thơ của chị đầy những nhận diện, chị có sẽ đi đến tận cùng quá trình nhận diện ấy trong thơ chăng?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi không thể nói trước điều gì anh ạ. Biết đâu sẽ có những thay đổi nào đó trong tôi làm thơ tôi khác đi. Duy chỉ một điều tôi chắc không thể khác là những gì tôi viết ra vẫn sẽ trung thực với chính những cảm xúc suy tư trong tôi. Tôi chỉ mong có nhiều khả năng hơn, nhiều cơ hội hơn để được động chạm sâu xa hơn, rõ rệt hơn, cụ thể hơn những đau khổ thực sự của đời sống quanh mình.
Nguyễn Đức Tùng: Những ý kiến của chị rất xúc động. Xin cám ơn chị về cuộc trao đổi thú vị này.
© 2010 Nguyễn Đức Tùng
© 2010 talawas
Bình luận
16 Comments (bài “Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (2)”)
1 2 Trang sau »
“Trong một xã hội mà những quyền tự do tối thiểu của con người bị triệt tiêu, thì cái “tự do” duy nhất mà con người có thể có mà không phải trả giá gì cả là “tự do làm nô lệ”.”(Nguyễn Việt Thanh)
Tôi đọc được đoạn trích trên đây trong PH của NVT, một PH nói về “tự do” của con người khá “êm tai”. Rồi thấy cái tiêu đề của cuộc phỏng vấn này là “Sinh ra là tự do” cũng nói về “tự do”, nên “nổi hứng” suy nghĩ lan man (trong lúc kẹt xe trên đường đi làm) như thế này, xin được chia sẻ với các bác:
1. Như trong PH của tôi dưới bài “Nguyễn Viện – Một tiếng nói khác”, tôi có nói: các nhà văn nhà thơ họ rất khao khát tự do, như cỏ cây khao khát ánh mặt trời và nước mát. Tự do như một “nàng Muse” đem lại cho họ cảm hứng sáng tác. Những tác phẩm để đời, chẳng hạn như các tác phẩm đoạt giải Nobel văn học, có một đặc điểm chung là tác giả đã viết ra chúng trong sự tự do tuyệt đối của tư duy và trí tưởng tượng. Những tác giả ấy đã phân biệt được đâu là “tự do” và đâu là “nô lệ”, bởi vì họ có được một đức tính quí báu, đó là “bản lĩnh”. “Bản lĩnh” giúp họ đi gần đến “sự thật”, nhìn thấy “bản chất” và những “mối tương quan” của “vấn đề”, và đương nhiên, hiểu được thế nào là “tự do” và đâu là “nô lệ” như tôi đã nói ở trên.
2. Theo tôi nghĩ, cái “bản lĩnh” mà nhà văn “Lão Tạ” đề cập, chính là cái “bản lĩnh” này đây. Nhiều nhà văn không có được một cái “bản lĩnh” cần có, nên đã không “phân biệt” được sự “khác nhau một trời một vực” giữa “tự do” và “nô lệ”. Họ cứ ngỡ rằng, là “nhà văn”, rồi làm chức này chức nọ, viết này viết kia và được “nhà nước” cho in ra, thế là họ “tự do sáng tác”, “tự do ngôn luận”. Nhưng kỳ thực, họ đã tự trở thành “nô lệ”, hay nói như độc giả Nguyễn Việt Thanh là, họ thực thi cái “tự do” duy nhất mà họ có “trong một xã hội mà những quyền tự do tối thiểu của con người bị triệt tiêu”, đó là “tự do làm nô lệ”.
3. Thành ra, những cái sự như là “sinh ra là tự do”, hay “Tôi muốn mình hoàn toàn tự do khi sáng tác.”(Tạ Duy Anh) trong cái đất nước VN hiện giờ, nếu không có “bản lĩnh” để duy trì “tự do”, thì chỉ là cách nói cho “văn vẻ”, không có thực chất, trong cái xã hội Việt Nam hiện giờ!
4. Vì nhà văn Việt Nam không có được cái “bản lĩnh” cần thiết, nên niềm mong ước VN ta có được “tác phẩm lớn”, đoạt giải Nobel văn học chẳng hạn, chỉ là một “giấc mơ” dài, nếu không muốn nói mãi mãi là niềm mong ước hão huyền!
Thưa ông Nguyễn Đăng Thường,
Lời lẽ của ông khiến tôi thấy ngại quá. So bề tuổi tác, tôi chỉ là kẻ hậu sinh. Thực không dám nhận chữ “Kính” của ông.
Xin ngừng tranh luận tại đây. Chúc ông an khang.
Thưa ông (?) Sacroyant Nguyen
Tôi đúng là thằng mù coi tranh, thằng ngọng đọc thơ.
Cám ơn vô cùng.
Kính.
Thưa ông Nguyễn Đăng Thường,
Tôi không hề có bất đồng nào với ông trong chuyện các tảng đá “Stonehenge” đẹp như một bài thơ. Nhưng đó không phải là nghệ thuật. Người ta có thể so sánh cái đẹp đến từ thiên nhiên với cái đẹp của nghệ thuật, nhưng không thể đồng nhất chúng với nhau.
Bởi lẽ, nghệ thuật chỉ có thể là sản phẩm được sáng tạo bởi con người. Yếu tố làm nên sự khác biệt giữa bức họa đồng quê và chính phong cảnh đồng quê trong tự nhiên là: tác phẩm hội họa được tạo nên bởi bàn tay con người. Do đó, bức họa đồng quê không chỉ là phong cảnh thuần túy, mà còn bao hàm trí tuệ và cảm xúc của người họa sĩ trong từng nét vẽ, từng mảng màu…
Ông có thể xem lại định nghĩa “Art” trên Wikipedia:
“Art is the process or product of deliberately arranging elements in a way to affect the senses or emotions. It encompasses a diverse range of human activities, creations, and modes of expression, including music, literature, film, photography, sculpture, and paintings. The meaning of art is explored in a branch of philosophy known as aesthetics.”
(Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Art )
Về nhận xét của ông với câu thơ “Những luồng run rẩy rung rinh lá”, tôi cho là ông hơi quá xét nét câu chữ. Hãy thử đọc câu này bằng cách ngắt nhịp 2-2-3, ông sẽ thấy “Những luồng run rẩy” làm thành một vế của câu thơ và vế câu này cũng giữ vai trò chủ ngữ.
Ở đây, rõ ràng là có sự danh từ hóa động từ. “Run rẩy” vốn là động từ, nhưng Xuân Diệu đã biến nó thành danh từ bằng một thủ pháp nghệ thuật quen thuộc trong thơ ông. Thủ pháp này đem lại một cảm giác là lạ, hình như thi sĩ đang cố nắm bắt cái vô hình. Gió là thứ vô hình. Qua sự dao động của cây lá, thi sĩ mới cảm nhận được gió đang thổi qua. Nhưng trong câu thơ ông ấy không nhắc gì đến gió nữa, chỉ còn “những luồn run rẩy”. Vậy mà đọc lên người ta vẫn thấy hơi gió nhè nhẹ… Đó chẳng phải chỗ thần tình của thi sĩ hay sao?
Nếu ông Thường cho 4 chữ “run rẩy rung rinh” là “trò chơi chữ trẻ con” và bị lặp từ, thì tôi không nghĩ thế. Vì khi “run rẩy” đã bị danh từ hóa rồi, nó sẽ không còn đồng nhất với “rung rinh” nữa. Ngược lại, việc sắp đặt 2 từ láy với 4 tiếng có phụ âm “r” liên tiếp còn mang lại hiệu quả về mặt ngữ âm và nhờ đó, nâng cao tính biểu hình cho trạng thái “rung ring” mà câu thơ mô tả.
Vài dòng sơ lược, có gì sai mong ông chỉ giáo thêm.
Trong trận tranh cãi huyên náo cuối năm ngoái về chuyện cuốn THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU có bị kiểm duyệt hay không, ông Nguyễn Đức Tùng cùng với nhóm người của nxb đã đem hết sức bình sinh ra mà nói quanh là không có kiểm duyệt (mặc dù cuốn đó bị cắt tùm lum ai cũng thấy!)
Nay có ông Tạ Duy Anh là người làm trong ngành xuất bản ở VN phát biểu về tình trạng kiểm duyệt:
“Ông bảo chưa thấy chuyện đó, còn tôi (đang làm việc biên tập ở một nhà xuất bản lớn) thì khẳng định luôn là có. Bằng những hình thức tinh vi đến mức những người làm công tác quản lý phải chịu trách nhiệm về việc cấm đoán ấy dễ dàng phủi tay để vẫn đủ tự tin, ở đâu cũng có thể trơ tráo nói làm gì còn tác phẩm nào đã viết mà bị cấm chưa cho in? Họ ăn lương để làm điều đó thì thôi chúng ta cũng nên thông cảm. Nhưng cấm, ngăn cản việc công bố tác phẩm là có, vẫn đang diễn ra. Bản thân tôi cũng đang là nạn nhân.
Mời ông Tùng đọc bài của Tạ Duy Anh – Chưa khi nào nhà văn xứng đáng bị coi thường như hiện nay
http://www.talawas.org/?p=23039
– “Một cây viết xuất hiện rất đều đặn trên một trang mạng như Tiền Vệ mà nói “kính nhi viễn chi” những viết lách của Võ Phiến (tôi không nói Mai Thảo) thì thực tình là khiến tôi kinh ngạc lắm và nghĩ là ông bạn đùa già này đấy thôi !” (Phùng Tường Vân)
Xin thưa: Tôi ko đùa đâu anh Phùng Tường Vân ơi, tính anh sao hay nghi ngờ quá nhỉ. Tôi không xuất hiện “điều đặn” trên Tiền Vệ mà chỉ thỉnh thoảng mới gởi vài đối thoại hay dăm bài thơ, Tiền Vệ thích thì đăng chơi.
Ngoài ra, gởi bài cho TV không có nghĩa là tôi chia sẻ các “gu” của những người chủ trương. Không thích một nhà văn, một nhà thơ (hay chưa có dịp đọc) cũng không có nghĩa là tôi “chê bai” họ.
Trân trọng.
“Tôi mù tịt về văn chương Mai Thảo Võ Phiến nên cũng đành phải kính nhi viễn chi luôn.”
(NĐT)
Một cây viết xuất hiện rất đều đặn trên một trang mạng như Tiền Vệ mà nói “kính nhi viễn chi” những viết lách của Võ Phiến (tôi không nói Mai Thảo) thì thực tình là khiến tôi kinh ngạc lắm và nghĩ là ông bạn đùa già này đấy thôi !
– “Nhân thể muốn nói với ông Thường một chuyện (phụ) như sau : thấy ông có tham khảo từ điển của soạn giả Nguyễn Lân, theo tôi biết thì nhà giáo này soạn khá nhiều từ điển, tự điển… nhưng tào lao, cẩu thả lắm. Học giới trong nước đều đã kêu trời về chuyện này.” (Phùng Tường Vân)
Xin thưa: Bác Phùng Tường Vân “ui”, ông già Thường hết xíu quách rồi nên hay nói bậy nói bạ lắm, xin bác thứ lỗi cho. Tôi chỉ vì “ngứa miệng ngứa tay” nên đêm qua gõ phím tơ lạm bàn về chuyện thơ thẩn nói chung cho “dzui” trong khi chờ “ông buôn cát” tới 2 giờ sáng vì có đêm bị mất ngủ. Thú thật tôi đọc các phản hồi trước, rồi mới lướt qua bài chủ xem qua vài câu, thấy hai chữ “dã quỳ” trong thơ Như Thúy tôi “hãi” quá nên chỉ đứng xa mà nhìn… trộm dung nhan.
Tôi mù tịt về văn chương Mai Thảo Võ Phiến nên cũng đành phải kính nhi viễn chi luôn. Tuy nhiên thiển nghĩ của tôi là văn xuôi mà đọc nghe như “thơ” thì thường là thơ… “sến”, dù có khi tôi thích thơ “sến” hơn thơ “đài các”. Tôi còn nhớ các câu văn rất “thơ” của Vũ Anh Khanh hồi lớp nhì lớp nhất tôi rất mê nhưng bây thì xin để trên kệ (dù tôi không có sách).
Xin trích dẫn câu văn mở đầu một truyện ngằn của Vũ Anh Khanh đăng nhật báo: “Thơ (tên nhân vật nữ) thẩn thờ ấp chiếc áo len rét vào ngực, mắt đăm chiêu nhìn con chim chào mào đậu trên cành cây phượng vĩ hót líu lo. Không hiểu sao sáng nay…”.
Và vài câu khác của một bài dẫn nhập cho một cuốn truyện ngắn hay tiểu thuyết: “Nắng đã vàng lắm rồi đấy. Ra mà đi thôi. Ta sẽ theo gương Yên Đan mà tiển người qua bên kia sông hoang lạnh. Lòng mi ấm đấy chứ? Ô kìa cười lên đi. Nơi đây còn có gì mà luyến tiếc? Dăm loài hoa xấu xí, đôi cánh bướm điếm đàng, một vòm trời thấp lè tè xám xịt cả ngày lẫn đêm…”
Đêm mà trời chỉ xám xịt thôi thì chắc là đêm chưa thật ba mươi… tối trời?. Xin nói rõ là về cá nhân thì tôi rất kính cẩn, rất quý họ Vũ. Tôi đọc các tác giả miền Nam, Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc trước khi đọc Tự Lực Văn Đoàn. Lúc đó sách cũ (in trước 45) ở Sài Gòn rất hiếm.
Bài tựa của họ Vũ tất nhiên là để xúi giục thanh niên bỏ học ra chiến khu. Trong số này có người anh lớn của tôi và mấy cô em họ. Văn xuôi đọc như thơ của Vũ Anh Khanh “vần vè” rất dễ nhớ nên tôi còn nhớ tới bây giờ. Cuốn tiểu thuyết hai tập (?) “Nửa bồ xương khô” của Vũ Anh Khanh là một “best seller” lúc đó. Tôi không có tiền mướn nên chưa được đọc, tiếc thay.
Từ điển loại lớn tôi chỉ có 2 cuốn đã kể. Và tôi đã đưa ra cả hai định nghĩa tương tự của cả hai tác giả về “run rẩy/rung rinh”. Một “đứa vô học” vẫn có thể nói đúng hơn một “vị thức giả” chứ? Tác giả Nguyễn Lân có thể là một “nhà giáo” với hiểu biết còn nông cạn nhưng cuốn tự điển của ông ta ko hẳn phải là sai tất cả, chằc bác Vân cũng đồng ý với tôi chứ? Thiển nghĩ của tôi là phê phán nên dựa trên văn bản thay vì tên tuổi hay tai tiếng. Mong bác cũng “đắc co”. Mong lắm thay!
Tôi thấy một vài vị ở đây vẫn còn phân biệt thơ và văn xuôi theo cách rất là giáo khoa căn bản. Thử mua một tuyển tập thơ hiện đại của Âu Mỹ hôm nay thì ai cũng có thể thấy thơ có muôn vẻ. Trong đó có rất nhiều bài viết như văn xuôi kể chuyện, nhưng vẫn được các nhà phê bình đánh giá là những bài thơ rất hay.
Có lẽ không nên chỉ bám vào một định nghĩa nào đó như “thơ là thế này…”, “văn là thế kia…” để mà xét đoán giá trị một tác phẩm.
Hình như văn học Âu Mỹ bây giờ không còn xem thể loại là điều quan trọng nữa vì họ đã có rất nhiều tác giả viết theo lối xóa mờ thể loại.
Có lẽ bây giờ khi đọc thì khỏi cần biết là thơ hay văn. Miễn là hay. Nhưng có thấy hay hay không thì còn tùy trình độ của người đọc.
Đối với tôi, thơ và văn xuôi khác nhau ở tính thời gian . Thơ là khoảnh khắc cô đọng, là thời gian kết tinh, văn xuôi dàn trải . Thơ là phim kinh dị Mỹ, văn xuôi là phim bộ Hồng Kông .
Ron Silverstein viết về điều này:
văn xuôi sáng chế, thơ mổ sẻ
văn xuôi là bất cứ đại dương nào bạn nghĩ tới, thơ là đít cá mập
thơ có thể chui qua lỗ kim, văn xuôi không thể
văn xuôi là những gì người ta nói mớ khi ngủ, thơ làm người ta buồn ngủ
văn xuôi là sự hình thành của kim cương, thơ là đập bể viên kim cương để xem trong có gì
(câu này dịch không được)
if it gives you the map of the Dead Sea, then it is prose, but if it follows that plundering whirpool to its source, then it is poetry
Nếu tôi nhớ không lầm thì Baudelaire đã gọi các đoản văn của ông là “Poèmes en prose”. Ngày nay ta vẫn tiếp tục gọi “thơ văn xuôi” là để phân biệt với “thơ vần điệu” và “thơ tự do”…” (NĐT)
Co lẽ là sự phát biểu của tôi không được rõ ràng chăng nên tôi thấy tôi nói một chuyện mà ông Nguyễn Đăng Thường nói một chuyện, vậy chỉ xin thưa lại vắn tắt như thế này, dù Baudelaire có gọi các đoản văn của mình là “Poèmes en prose” chăng nữa thì tôi vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, chúng “tất tật” chỉ là thơ thôi, miễn sao nó là thơ, tôi dẫn Võ Phiến là vì vậy. Nhưng thôi, chuyện cũng “chả” quan trọng gì, ông nhỉ?
Nhân thể muốn nói với ông Thường một chuyện (phụ) như sau : thấy ông có tham khảo từ điển của soạn giả Nguyễn Lân, theo tôi biết thì nhà giáo này soạn khá nhiều từ điển, tự điển… nhưng tào lao, cẩu thả lắm. Học giới trong nước đều đã kêu trời về chuyện này.
Xin bổ sung hai câu thơ Xuân Diệu:
Buồng hương bóng bóng hình hình
Gió hiu hiu hắt xuyên mành mành hoa
Về “tảng đá và điêu khắc” có nên kể thêm vẻ đẹp “điêu khắc” của các hòn “Trống Mái”, “Hòn chồng” (Nha Trang)?
Thơ Nguyễn Nhược Pháp:
Qua núi Oản, Gà, Xôi
Bao nhiêu là khỉ ngồi
Tới núi con voi phục
Có đủ cả đầu đuôi…
Xin thưa tiếp: Các phản hồi trước đây của tôi không để bênh vực thơ của Đinh Thị Như Thúy. Xin quý bạn chớ hiểu lầm. Cám ơn.
– “Tảng đá thì cũng đẹp đấy, nhưng chắc chắn không phải là một tác phẩm điêu khắc”. (Sacroyant Nguyen)
Xin thưa: Với tôi các tảng đá “Stonehenge” là cả một bài thơ, đẹp hơn điêu khắc. Và các tảng đá của những Kim Tự Tháp. Đó là chưa kể “Hòn vọng phu” dù tôi chưa được thấy. Mặt khác, cái bồn cầu, cái bánh xe đạp do Marcel Duchamp trưng bầy cũng có thể là tác phẩm điêu khắc, cũng có thể đẹp chứ?
– “Khi Xuân Diệu viết : “Những luồng run rẩy rung rinh lá”, ông đã gạn lọc rất nhiều từ bức tranh thu trước mặt và bao nhiêu cảm nhận ngổn ngang trong tâm thức để có một câu thơ tinh tế làm rung động lòng người.” (Sacroyant Nguyen)
Xin thưa: Ta có nên tổng luận, suy bụng ta ra bụng người, nhất là trong việc thưởng ngoạn, phê bình văn chương nghệ thuật hay không? Nó (câu thơ của Xuân Diệu) có thể “rung động lòng người”… Sacroyant Nguyên, nhưng nó không “rung động lòng người”… khác cũng được chứ? Người khác có thể nhìn thấy trong “run rẩy rung rinh” một trò chơi chữ khá trẻ con hoặc khá tếu (dù ngoài ý muốn của nhà thơ) tương tự “bà ba bả bán bánh bò bánh bao bả bẻ bông bí bông bụp…/ông Nỉnh ông Nang ông ra đầu làng ông gặp ông Nỉnh ông Ninh ông ra đầu đình…”. Với tôi các câu văn xuôi vừa kể rất thi vị rất giản dị tự nhiên, (dù có thể lê thê) hơn sự cầu kỳ của câu thơ “chắc lọc”. Vì bởi trong đời sống người ta chỉ dùng “run rẩy” hay “rung rinh” mà thôi. Đây là một thứ dư nghĩa (pléonasme) thừa thãi không cần thiết, vì “rung rinh” không thêm nghĩa mà thậm chí còn làm yếu bớt nghĩa của “run rẩy”.
Từ điển Lê Văn Đức-Lê Ngọc Trụ: run rẩy=run sợ, rung rinh=lắc lư. Từ điển Nguyễn Lân: run rẩy=run nhiều, rung rinh=lung lay nhè nhẹ.
Xuân Diệu “chuyên trị” những câu thơ cà lâm (“Đây mùa thu tới-mùa thu tới”) hoặc nhảy rumba, cha cha cha, như câu thơ “run rẩy rung rinh” hay như câu thơ này: “Buồn hương bóng bóng hình hình/Gió hiu hiu thổi rung mành mành hoa”.
Ngày xưa trẻ con ở xóm tôi đã nhại câu hát “Rung rinh rung rinh gánh lúa rung rinh…” trong ca khúc “Gánh lúa” của Phạm Duy thành: “Rung rinh rung rinh “cái đít” rung rinh…”
– “Tôi không nhất thiết nghĩ rằng không thể có thứ thơ ấy [thơ văn xuôi], nhưng tôi cho rằng nếu có cái gì đáng gọi là “thơ văn xuôi” thì chỉ nên gọi nó là thơ thôi….” (Phùng Tường Vân)
Xin thưa: Nếu tôi nhớ không lầm thì Baudelaire đã gọi các đoản văn của ông là “Poèmes en prose”. Ngày nay ta vẫn tiếp tục gọi “thơ văn xuôi” là để phân biệt với “thơ vần điệu” và “thơ tự do”. Trong “thơ văn xuôi”, “thơ vần điệu”, “thơ tự do” có “thơ” hay không là một chuyện khác.
Thiển nghĩ của tôi là “thơ” cũng như “cái đẹp” chỉ nằm trong mắt người đọc, người xem, chí it là bây giờ, khi đã có sự tự do lựa chọn trong cách thưởng ngoạn. Cá nhân tôi thích bài thơ “con cóc”, và ưa giọng “thơ bình dân/dân gian” của Lục Vân Tiên hơn Truyện Kiều.
– “Theo tôi, không thể ghép nhiều đoạn văn xuôi dài dằng dặc với nhau và bảo đấy là thơ. Cái gì muốn đẹp cũng phải giản dị, đừng thái quá.” (Hoàng Trường Sa).
Xin thưa: Người viết có quyền gọi bất cứ cái gì là… bất cứ cái gì (“thơ” hay “vè” hay “văn xuôi”). Ngược lại tất nhiên không ai có thể bắt buộc người đọc phải đồng ý với cách gọi của người viết nên việc ấy không thành vấn đề ở đây.
“Giản dị=đẹp” tuy có thể đúng nhưng là một quan niệm đã hơi “bị xưa” và không nhất thiết phải là khuôn vàng thước ngọc?
Câu văn “lê thê” của Proust, của Faulkner rất thi vị. Phần “độc thoại nội tâm/dòng chảy ý thức” tràng giang đại hải trực ngôn tục tĩu đời thường kết thúc cuốn “Ulysses” của Joyce rất thi vị, rất tuyệt vời với tôi và với khá nhiều độc giả.
Phần lớn bài này là dài, nhạt, khá vô bổ! Nếu các nhà thơ muốn thơ được công chúng yêu mến hâm mộ nhiều hơn thì bớt vô bổ đi. Đâu phải là cứ có tấm lòng đôn hậu và có tình yêu tha thiết với chữ nghĩa vân vân là có thơ lay động lòng người đâu. Phải có tài!
Tôi nghĩ các nhà thơ nên tự nhìn vào mình, xem những điều mình viết ra có đủ hay, đủ sắc, đủ độc đáo, xuất sắc để độc giả phải tán thưởng hay không.