talawas blog

Chuyên mục:

Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (1)

01/08/2010 | 12:00 chiều | 5 Comments

Tác giả: Nguyễn Đức Tùng

Category: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

Nguyễn Đức Tùng thực hiện

Nguyễn Đức Tùng: Chào nhà thơ và cô giáo dạy văn Đinh Thị Như Thúy. Cám ơn nhà thơ Lê Vũ đã giới thiệu chúng ta với nhau. Được biết chị đang sống và làm việc ở một huyện thuộc tỉnh Đắc Lắc, Tây Nguyên. Chị có tìm thấy cho mình một quê hương ở đó không?

Nhà thơ Đinh Thị Như Thúy (ảnh do tác giả cung cấp)

Đinh Thị Như Thúy: Dạ. Kính chào anh Nguyễn Đức Tùng. Xin cảm ơn anh và xin được bắt đầu cuộc trò chuyện với anh.

Hơn hai mươi năm sống và gắn bó với một vùng đất có làm cho nơi đó trở thành quê hương không anh? Những đứa con của tôi đã được tôi sinh ra và nuôi dạy ở đây. Mỗi buổi sáng thức dậy, mở cửa nhìn ra bầu trời, tôi có thể hình dung được hôm nay, mùa này, kiểu thời tiết gì sẽ diễn ra, những người dân sẽ làm công việc gì cho mùa màng của họ. Tôi nghe tiếng chim hót cùng với tiếng xe máy cày chạy rầm rập. Nơi đây, những biến chuyển của đất trời, sự lam lũ mệt mỏi của con người, đều không xa lạ với tôi.

Mà vùng đất này kỳ lạ lắm anh ạ. Nắng bụi, mưa bùn. Vất vả, cực nhọc. Cây cỏ, gió, côn trùng… Tất cả đều có gì đó hoang dã, khắc nghiệt nhưng lại rất đẹp đẽ, lôi cuốn. Con người không thể sống quá tỉnh táo khi ở đây. Bao giờ tôi cũng có cảm giác bị dẫn dắt vào mộng mị. Nhất là những lúc ngồi một mình hay lang thang một mình đâu đó. Tôi không biết Tây Nguyên có là quê hương của tôi hay không, nhưng tôi yêu và khó lòng rời xa cuộc sống nơi này.

Nguyễn Đức Tùng: Tuổi thơ của chị ra sao?

Đinh Thị Như Thúy: Nhà tôi rất đông chị em gái. Tôi có ba chị và ba em gái, hai em trai. Hồi nhỏ tôi ở Đà Nẵng, tôi nghĩ tuổi thơ tôi cũng như phần đông những bé gái khác thôi. Cũng thích chơi đồ hàng bằng lá cây, bông bụt, trái bàng… Cũng ao ước bánh kẹo, búp bê.

Nhưng tôi còn nhớ những cuốn sách ba tôi cấm đọc như Tóc mây của Lệ Hằng, hay Điệu ru nước mắt của Duyên Anh, được các anh lính không quân ở gần đó tuồn cho các chị tôi đọc trộm trong căn hầm tránh đạn, xây bằng bao cát choán hết cả gian nhà trên của gia đình. Những hốc kín trong hầm là nơi các chị tôi giấu những cuốn sách. Và tôi đã lén đọc. Khi đó, trước năm 1975, tôi chưa được mười tuổi.

Còn có một câu chuyện khác đã ám ảnh tôi từ thuở nhỏ. Chuyện do mẹ tôi kể. Anh có biết con chim gọi vịt không? Hình như ở bất cứ miền quê nào trên đất nước ta cũng có loài chim đó. Tiếng kêu của nó thật buồn. Bắt đầu bằng những thanh âm cao vút thảng thốt rồi nhỏ dần, thấp dần nghe rất não lòng. Mẹ tôi bảo: đó là tiếng gọi tìm đàn vịt của một cậu bé. Vì ham chơi và lơ đễnh cậu bé đã để đàn vịt mình chăn đi lạc, lạc mãi đến sông Ngân Hà (!) và biến mất. Tiếc đàn vịt, sợ bị mẹ mắng, cậu bé đi tìm hoài, cho đến lúc chết vẫn chưa tìm thấy, nên biến thành con chim gọi vịt.

Tôi nghĩ có lẽ cho đến bây giờ cậu bé kia vẫn chưa tìm thấy đàn vịt đã mất của mình. Nên loài chim gọi vịt vẫn còn. Tôi vẫn nghe tiếng kêu của nó. Lạ, là tiếng chim gọi vịt cứ vang lên vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Thảng thốt buổi mờ sáng. Uể oải lúc đứng trưa và buồn da diết khi hoàng hôn xuống.

Nguyễn Đức Tùng:

Một mùa một ngày một người
bao gi
ờ cũng nhỏ bé
bao gi
ờ cũng chẳng có gì đáng nói

Đó là cách nói giản dị nhưng bay bướm ngấm ngầm, tiêu biểu cho phong cách của Đinh Thị Như Thúy. Đọc mấy câu này của chị không hiểu sao tôi lại tin rằng, để bắt chước cách nói của nhà thơ Dương Tường, chị có một “tuổi thơ giàu có”. Thêm nữa, giàu có hay không, có lẽ là do tâm hồn mỗi đứa trẻ, sự phản chiếu của cuộc đời lên nó, nhiều hơn là do hoàn cảnh xung quanh.

Tôi cũng nghĩ: giáo dục là chuẩn bị một tuổi thơ đẹp đẽ cho con người. Trước hết là chuẩn bị cho một tâm hồn thơ mộng ra đời.

Trong chuyện ấy, liệu thơ ca có làm được gì không, thưa chị?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi đã đọc ở đâu đó rằng: khi chúng ta nói với những đứa trẻ về cái hay cái đẹp của một bài thơ là chúng ta đang xây dựng nền tảng mỹ học trong tâm hồn chúng. Và tôi thấy: thơ ca ngấm vào tâm hồn một đứa trẻ trước tiên là bằng những câu hát ru. Cái thiệt thòi của trẻ nhỏ bây giờ là không còn được nghe hát ru nữa. Có thể chúng sẽ có một “tuổi thơ giàu có” theo một cách khác. Sẽ có những đầy đủ về đời sống vật chất và đời sống tinh thần theo một cách khác. Nhưng dù sao tôi vẫn thấy thiếu một điều gì đó, khi những câu hát ru cứ dần mất đi, cùng với sự mất đi của những điều kỳ diệu đến từ thiên nhiên, trong đời sống hiện nay.

Có thể cách nghĩ đó của tôi là phiến diện. Có thể bởi tôi luôn nhớ những câu hò ngày xưa của mẹ tôi. Có những câu luẩn quẩn, loanh quanh buồn cười kiểu như: Than rằng vịt lội hồ sen / Vịt ai không biết con đen con đà/ Than rằng vịt lội giang hà / Vịt ai không biết con đà con đen. Hay: Bèo than thân bèo nằm trên mặt nước / Bạc than thân bạc đeo trước lỗ tai / Khoai lang than thân đào lên bới xuống hoài / Ngọn rau muống nọ than thân bứt đọt nấu canh / anh than thân anh vợ con chưa có / Người nói tiếng nọ kẻ nói tiếng kia. Có những câu buồn hơn trong giọng hò: Canh chua nấu cá ngạnh nguồn / Thương anh em phải bán buồn mua vui; Em như quả ớt chín cây / Càng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng.

Những câu hò (những bài thơ) như thế đã gieo vào tôi những băn khoăn về thân phận. Tôi đã nghĩ nhiều đến tình thương yêu, những bao dung hy sinh, những quắt quay rát bỏng và cả những phức tạp vô cùng trong tâm trạng con người.

Nguyễn Đức Tùng: Bài thơ nào của mình mà chị thích nhất? Tại sao?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi không thể nói là thích nhất một bài thơ nào trong những bài tôi đã viết. Nhưng tôi rất thích hoa dã quỳ. Tôi muốn chia sẻ với anh một bài thơ tôi viết về hoa dã quỳ.

Viết cho dã quỳ

(…nhưng em nói là dã quỳ của mùa nào / mùa đông / đúng rồi mùa hoa / cây non mọc lên nở hoa và tàn rụi trong vòng một năm…)

1.

Từ tàn rụi nụ mầm vươn lên vào lúc không ai còn nhớ (sự lãng quên luôn thường trực trong tâm trí con người) những mầm xanh không như lá cỏ mà được xem như lá cỏ cứ khuất lấp trong ngăn ngắt rậm rạp cứ lặng lẽ bên vệ đường trước thềm nhà khắp chân đồi (giờ đồi hoang cũng không còn nhiều vì loài người sinh sôi nẩy nở bung chiếm còn nhanh hơn cả cỏ cây)

Rồi những chiếc lá hình bàn tay xoè ra run rẩy hân hoan trong mưa bụi (dường như tất cả hạnh ngộ thuở ban sơ đều như vậy) mưa càng dấm dứt đất càng đỏ ứ cây lá càng xanh non tươi rờn rợn mưa mưa mưa mưa nước nuôi dưỡng sự sống bằng những ngập tràn thấm sâu dịu nhẹ (cũng có lắm khi hung tợn trào dâng) mưa mưa mưa mưa dã quỳ theo mưa mà lớn

Đó là cách tồn tại cổ xưa nguyên thuỷ nhất tồn tại theo bầy đàn mỗi đơn lẻ là một trong nhiều trong những của cộng đồng mỗi đơn lẻ (tưởng như) giống nhau về hình thể về tính cách về thân phận đứng bên nhau làm nên thế giới (tưởng như) công bằng bình đẳng hướng về ánh sáng hướng về bầu trời mà ngờm ngợp mà mải miết mà vươn cao mà xoè tay mà ươm nụ mà hồn nhiên mà chờ đợi

2.

Có xứ sở chọn khắc nghiệt làm tính cách đặc thù (không chừng mực không điều độ không sắc màu trung tính) xứ sở dã quỳ không có mùa thu không có mùa xuân (chỉ hai mùa mưa nắng) xứ sở buồn muôn thuở bụi mù trời (bụi lừng lững đi lừng lững dựng từng cột đỏ trên những con đường mòn vắng vẻ khô khát) tháng mười hai lạnh lẽo khô ngùn ngụt nắng là tín hiệu để dã quỳ mở bung.

Đó là không gian mênh mông (đồi nối tiếp đồi thung lũng kéo dài thung lũng) là cuồng nộ gió (gió như đoàn chiến mã ràn rạt lao qua không cần biết sẽ về đâu không cần biết gì đang đón đợi cứ phía trước mà phi mà lồng lộn sải vó) là bướm hoang là ong rừng là bước chân bồn chồn của những người đàn bà luôn mơ những giấc mơ bất ổn

Là dã quỳ tồn tại như một dâng hiến không cần lý do

3.

Dã quỳ dã quỳ dã quỳ cứ vàng mơ vàng tươi vàng xuộm vàng cháy cứ rừng rực mê đắm miên man trên nền xanh của lá nền đỏ của đất bazan cứ tạo nên những đối cực nhức nhối xốn xang đôi khi khó chấp nhận trong mắt người

không chờ đợi không khát khao không hoài vọng, dã quỳ (dường như) hồn nhiên bung nở hồn nhiên toả hương hồn nhiên vàng vào nắng vào sương vào bụi đỏ hồn nhiên làm mặt trời thắp nắng trong hoang lạnh hồn nhiên làm nên linh cảm bất an mùa xao xác

Đã có những ngợi ca đã có những cười cợt đã có những rắp ranh đòi chia sẻ đã có những dự tính can thiệp riêng tư dã quỳ (dường như) vô tâm (dường như) ngoài cuộc cứ vàng cho hết đời sống mình (vì đó chính là mình) rồi rời rã rũ rượi trong gió đông rồi khô đi nâu sẫm trên những cành nhánh trụi trơ rồi khuất lấp rồi biến tan

Mùa đã khô ngày đã không còn hoang hoải gió

Dã quỳ bình thản đợi hồi sinh

4.

Những người đàn bà mang giấc mơ bất ổn chôn trên sườn đồi đêm đêm chờ mưa chờ quên lãng nghe trong tiếng sấm khắc khoải có niềm âu lo rồi đồi hoang sẽ không còn là đồi hoang nữa

29.12.2007

Nguyễn Đức Tùng: Việc một tác giả thích một tác phẩm nào của mình có lẽ nằm ngoài các bậc thang của phê bình khách quan, nhưng cũng gợi ra hiểu biết đối với tác giả ấy. Tôi không để ý lắm đến… hoa dã quỳ, nhưng chú ý đến thơ của Đinh Thị Như Thúy cách đây vài năm lúc đọc chị rải rác trên một số trang mạng, như maivanphan.com, văn chương Việt, inrasara.com, thanh niên… cùng với nhận xét của các nhà thơ Mai Văn Phấn, Thanh Thảo, Inrasara và những người khác nữa, nhưng gần đây lúc đọc kỹ hơn trên Tiền Vệ.

Thơ Đinh Thị Như Thúy nổi bật không phải ở những đột phá về thẩm mỹ và nổi loạn về ngôn ngữ nhưng thu hút người ta ở chất giọng vừa u hoài buồn bã vừa sáng láng, tin tưởng. Tôi không chỉ nói đến giọng điệu (tone) mà nghĩ nhiều hơn đến một điều gì như chất giọng (voice).

Chị đã tìm ra chất giọng của chị chưa? Bao giờ?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi không ý thức lắm việc tìm cho mình một chất giọng đâu anh. Tôi cứ viết thôi (như một đứa trẻ) vừa viết vừa lớn lên, vừa viết vừa già đi. Khi viết tôi chiều chuộng bản thân mình ghê lắm. Có thể nói, đó là lúc duy nhất, tôi có cơ hội để chiều chuộng bản thân mình. Tôi lắng nghe tôi, và dò hỏi ý tứ của tôi. Có khi tôi thử viết về vấn đề này, vấn đề khác, có khi tôi xuống dòng, hay tạo vần, hay đặt các dấu câu, ở một số vị trí nào đó, ở những bài thơ nào đó, rồi thử đọc lại cho mình nghe. Và tôi tôn trọng trực giác của bản thân tôi. Nếu tôi nghe tôi thở ra nhẹ nhõm, thì tôi biết: tôi đã được tôi chấp nhận. Những bài thơ của tôi được hình thành như vậy đó.

Có khi nào, làm thế, cũng là một cách nỗ lực đi tìm một chất giọng riêng cho mình không anh? Tôi đọc trên inrasara.com thấy câu: Không ai có thể hát thay chúng ta. Nhà thơ Thanh Thảo thì bảo tôi: “Thơ là số phận. Em đừng thay đổi số phận của em”.

Nguyễn Đức Tùng: Đó là cách nói đặc biệt của Thanh Thảo. Có lẽ như thế thật. Chị có nghĩ rằng độc giả Việt Nam ngày nay vẫn còn yêu thơ và rất theo dõi các nhà thơ của họ không?

Đinh Thị Như Thúy: Làm thế nào để biết độc giả Việt Nam ngày nay vẫn còn yêu thơ và rất theo dõi các nhà thơ của họ hả anh?

Thơ gần như đã vắng bóng trên các trang báo có số lượng phát hành lớn ở Việt Nam.

Nếu có tờ báo nào còn in thơ (thường xuyên hay đặc biệt nhân một dịp nào đó), thì thường ưu tiên cho những bài viết theo đề tài, hay những bài tứ tuyệt, hay những bài trào phúng, hay những bài có một chút đèm đẹp một chút xúc động, một chút dí dỏm vui vui, và nhất là phải không được dài. Như thế thì thơ có còn được yêu nhiều không?

Ngày Thơ Việt Nam vừa rồi diễn ra ở khắp đất nước với rất nhiều hoạt động. Đặc biệt ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám – Hà Nội, số lượng người tới kiên nhẫn xếp hàng mua vé chờ đợi để vào sân tham gia, làm nô nức những người làm thơ và những người trong Ban tổ chức Ngày Thơ. Ở một góc nhìn nào đó ta thấy như thế là thơ vẫn có công chúng, thơ vẫn được quan tâm, thơ vẫn thu hút mọi người…

Nhưng nhìn rộng ra một chút, tôi thấy có lễ hội nào mà người Việt Nam ở khắp nơi không tham gia một cách nồng nhiệt và đông đúc? Các lễ hội Hoa (khắp nơi), các festival (đủ loại), các lễ hội trong tháng Giêng: Lễ hội Khai Ấn nhà Trần; lễ hội Chùa Hương, hội Đền Cổ Loa;  lễ hội An Dương Vương, lễ đền Bà Chúa Kho… Lễ hội nào cũng tràn ngập người, đến nỗi chen chân nhau còn khó.

Rồi lòng yêu bóng đá của người Việt? Rồi các quán cà phê từ bình dân vỉa hè đến nhà hàng sang trọng? Rồi các quán nhậu khắp nơi?…  Tôi có cảm giác như mỗi con người Việt Nam bây giờ đều đang có thừa thời gian và thiếu nhiều hoạt động tinh thần, nên mỗi khi có dịp hội hè đâu đó, họ đều hồ hởi kéo nhau đi xem. Như là xem hội.

Tôi nghĩ dù giữa xem “hội thơ” và lòng yêu thơ còn có khoảng cách, nhưng vậy cũng là mừng rồi. Để thấy những hoạt động về thơ đang sống, và thơ vẫn có người quan tâm. Còn quan tâm như thế nào thì lại là chuyện khác nữa.

Anh có nghĩ rằng những người làm thơ cũng là những độc giả yêu thơ không? Tôi thường thấy các nhà thơ quan tâm đến tác phẩm của nhau. Họ có theo dõi những bài thơ của những người viết mà họ thấy thú vị.

Nguyễn Đức Tùng: Nghe chị kể về ngày hội thơ, tôi liền nổi tính hiếu kỳ, vào tìm đọc trên các trang mạng, như trang của Hội Nhà văn Việt Nam. Thấy vài đoạn như sau, vui vui, nhưng tự chúng gợi ra rất nhiều suy nghĩ cho các nhà thơ.

Thử trích vài đoạn.

“Được xem như là điểm nhấn quan trọng nhất của ngày thơ, chương trình buổi tối được mở đầu với tiết mục đinh là màn hát bội “Chiếu dời đô” do Đoàn nghệ thuật Hát bội TPHCM biểu diễn.” (Báo Sài Gòn Giải phóng)

“Vào giờ cao điểm, khoảng 9-10 giờ, tất cả các khu vực: triển lãm Vườn thơ đất nước, triển lãm Thơ trên gốm, các sân thơ truyền thống và thơ trẻ trong Văn Miếu… đều nghẹt cứng người (ban tổ chức ước lượng có khoảng 15.000 người). Tất cả đều chỉ có thể… đứng im để nghe thơ và nghe thấy 4-5 giọng đọc thơ già trẻ nam nữ khác nhau vang lên ở các khu vực khác nhau. Muốn nghe trọn chỉ một bài cũng là điều không thể.” (Báo Tuổi trẻ)

Tôi có dịp đến dự những buổi đọc thơ ở trong nước cũng như ở hải ngoại, của các nhà thơ người Việt hoặc người Mỹ, Canada. Có khi tôi cũng bị “bắt cóc” lên đọc thơ trên sân khấu. Theo tôi đó là những kỷ niệm rất đẹp, rất ấm áp, nhưng hoàn toàn cá nhân. Những người tham dự có khi lên đến năm, bảy chục người, có khi chỉ độ mười người. Nhưng những cuộc trình diễn thơ rộng rãi như hiện nay, một mặt có lẽ là những hoạt động đáng khuyến khích, mặt khác lại gây cho tôi cảm giác ngần ngại về một điều gì xa lạ, khó diễn tả.

Có vẻ như thơ ca Việt Nam đang tiến gần đến nghệ thuật hát bội?

Đinh Thị Như Thúy: Anh nói: “vài đoạn… vui vui, nhưng tự chúng gợi ra rất nhiều suy nghĩ cho các nhà thơ”.

Có những ý nghĩa nằm ngoài văn bản phải không anh? Tự dưng tôi bỗng nhớ: Tháng 8 năm 2007, Tây Nguyên mưa bão dữ dội. Có một cơn lũ ghê gớm ở huyện Krông Năng, Đắc Lắc. Tôi đang ở Đà Nẵng, sốt ruột nhắn tin hỏi thăm. Một phóng viên đã nhắn cho tôi tin nhắn có nội dung như sau: “Nay đã hết mưa. Cả tỉnh chết 12 dân thường, mất tích 7 người vì lũ quét. Lãnh đạo không ai sao cả chị ạ.”

Liên tưởng như vậy có xa xôi quá không anh? Đôi khi tôi cứ có những suy nghĩ lung tung như vậy đó.

Nguyễn Đức Tùng:

Đã viết những câu thơ màu hoàng lan
Ti
ễn mùa về xa ngái
Th
ương chút ngọt ngào vướng lại
Th
ơm trang giấy ta cầm

(2005)

Từ những bài thơ trước đây sử dụng nhiều vần điệu cổ điển, có phải là chị ngày càng có khuynh hướng làm thơ tự do, thơ xuôi, phóng túng, không vần? Tại sao?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi thường viết nương theo cảm xúc. Tôi nghĩ, có thể đã có những vận động nào đó trong chính bản thân tôi. Từ những bài thơ sử dụng nhiều vần điệu cổ điển, giờ đây, trước bao bộn bề ồn ào của cuộc sống hiện đại, với nhiều suy tư đa chiều gấp gãy, tôi thích viết như sự giải phóng tôi khỏi mọi gò bó.

Đôi khi những ý tưởng cứ miên man trong tôi, tôi thích để chúng được miên man chảy như thế trong bài thơ của mình. Ngay cả cách dùng dấu câu cũng vậy. Có lúc tôi thấy dấu câu làm ý nghĩa câu thơ bị hạn hẹp, câu thơ không có dấu chấm câu là câu thơ lỏng lẻo, có thể nó sẽ làm người đọc tự do hơn trong cách hiểu cách cảm nhận bài thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Có nhiều chuyện để nói với một cô giáo dạy văn trung học, thời cắp sách của tôi gọi là các nữ giáo sư trung học. Chị nghĩ sao về nghề dạy học văn chương của mình?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi lên Tây Nguyên dạy học từ năm 1989. Những năm đầu tôi dạy ở một trường trung học cơ sở nằm sâu trong xã Hòa An, huyện Krông Pắc. Tôi vẫn luôn nhớ những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời dạy học của mình. Nhớ ngôi trường với một dãy phòng học nền đất mái tôn vách ván. Những tấm ván qua nhiều mùa mưa nắng cứ co rút lại cong vêu rồi bày ra những khe hở. Lời giảng, tiếng cười, tiếng nói chuyện, tiếng ho, thậm chí tiếng thở cứ từ lớp này lấn sang lớp khác. Mùa khô con đường vào trường chìm trong bụi đỏ. Mùa mưa lại lầy lội bùn. Có những hôm tôi và các thầy cô khác, lội mưa vào trường rồi lại lội ra vì học sinh không đến lớp, mà giờ học cũng đã hết. Năm 2000 tôi được chuyển về một trường trung học phổ thông của huyện và dạy ở đó cho đến nay.

Tôi vẫn thường đùa là không có ai phải chịu sự thanh tra kiểm soát thường xuyên về mọi mặt như các thầy, cô giáo, nhất là ở những huyện nhỏ (nơi mà ai cũng quen biết nhau) như địa phương nơi tôi đang dạy. Đến đâu, làm gì cũng như thấy mắt nhìn của học sinh và phụ huynh học sinh mình. Có thể chính vì phải nghiêm túc khuôn mẫu trong đời sống nên tôi cần thoáng đạt, tự do, không vần trong thơ để bù lại chăng?

Tôi dạy văn, một môn học tưởng chừng nhẹ nhàng thú vị trong nhà trường. Nhưng cho đến lúc này, sau hai mươi mốt năm đứng lớp, tôi vẫn hoài băn khoăn về việc học văn và dạy văn trong môi trường cụ thể là ở một huyện miền núi. Tôi không đổ hết lỗi cho chương trình, nhưng rõ là đã có sai lầm ở đâu đó.

Các em học sinh ở đây rất thiếu truyện sách. Ngay các những tác phẩm mà các em phải học trích đoạn trong chương trình Văn, các em cũng không được đọc. Học sinh không có tác phẩm để đọc đã đành, mà ngay cả giáo viên dạy cũng rất nhiều người không đọc tác phẩm trọn vẹn. Họ đọc các sách tham khảo, sách hướng dẫn giảng dạy và căn cứ vào đó để soạn giáo án. Khi chúng ta nhìn tác phẩm trong trạng huống cắt cúp rời rạc như thế thì làm sao tránh được cái nhìn phiến diện? Vả lại, tôi cứ thấy môn Văn trong nhà trường phổ thông đang phải mang vác quá nhiều nhiệm vụ. Phải tích hợp cả với bảo vệ môi trường, với tư tưởng đạo đức, với rất nhiều điều khác. Giờ học, nếu theo yêu cầu như thế bỗng trở nên nặng nề. Người dạy thì mệt mỏi mà học sinh thì chán chường.

Cũng cần phải nói thêm một điều rằng: những tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay cũng làm cho các em hoài nghi và thấy văn chương xa rời cuộc sống. Các tác phẩm văn chương được chọn dạy trong nhà trường thường xây dựng những con người rất đẹp rất lý tưởng. Nhưng vừa bước ra (thậm chí chưa bước ra) khỏi cổng trường các em đã gặp ngay bao điều phi lý: những chạy trường, chạy điểm; những học thật bằng giả, học giả bằng thật… Rồi mua quan bán chức. Rồi tham nhũng quan liêu. Rồi sự tha hóa của bao con người đang ở những cương vị không được quyền tha hóa. Lời giáo huấn khuyên răn của thầy cô bỗng dưng trở thành lạc lõng.

Nguyễn Đức Tùng: Thời đi học, tôi có nhiều kỷ niệm với các thầy các cô. Đến nay mặc dù ở xa tôi vẫn thường liên lạc, thỉnh thoảng một hai năm lại có dịp đoàn tụ với các giáo sư ở Nguyễn Hoàng, nay đã bị đổi tên thành trường Trung học Phổ thông Thị xã Quảng Trị, một cái tên tương tự như “cửa hàng bách hóa tổng hợp rau quả và thực phẩm tươi sống” trước nhà người yêu cũ của tôi ở quận mười một. Tôi lớn lên ở vùng đất nổi tiếng khó nghèo, chiến tranh, nhưng tình thầy trò sâu nặng. Đối với các cô, các thầy, những người sống trong một nền giáo dục trong sạch, học sinh chúng tôi đều thương mến, kính trọng. Tôi nghĩ ở ngoài Bắc hồi xưa chắc cũng thế. Hiện nay, mọi người đang nói về tình trạng giáo dục đi xuống trong cả nước, tình thầy trò tan rã, một điều đáng buồn.

Tiếp xúc với các em và phụ huynh hàng ngày, có lẽ chị có nhiều suy nghĩ về vấn đề này?

Đinh Thị Như Thúy: Câu hỏi của anh rất dễ làm tôi sa đà vào việc kể lể hay than thở về tình trạng giáo dục ở đất nước ta trong thời buổi hiện giờ. Nhưng đâu phải chỉ tình trạng giáo dục là đang đi xuống? Tôi đang thấy sự thay đổi ghê gớm của rất nhiều vấn đề trong xã hội. Mà đạo đức chỉ là một. Khi có sự vênh nhau quá xa giữa những điều chúng ta nói và những điều chúng ta làm, thì sự đổ vỡ niềm tin trong thế hệ trẻ là điều tất nhiên. Mà niềm tin đã đổ vỡ thì những hành xử thiếu tôn trọng, thậm chí khinh miệt hay bất cần giữa thầy và trò, giữa người này với người khác sẽ phải diễn ra.

“Khi sự thật đã không là sự thật  / Những sự cần mà không thật sự cần / Những cải cách cứ loanh quanh chán chường mỏi mệt / Khi năng lực được đo bằng những bước chân của bò sát / Những tâng bốc cất nhắc cứ trơn tru / Những nói một đằng làm một nẻo / Khi những chuẩn mực đạo đức dao động với biên độ vô cùng / Những dối trá thường trực khắp mọi nơi / Những niềm tin thành xa xỉ…

Người người tìm đến giấc mơ / Đau nhói tim âm vang tiếng cười giễu cợt / Tiếng búa nện đinh trên nắp quan tài

Nếu không cẩn thận, chúng ta phải trả giá bằng một thế hệ / Nếu không cẩn thận, chúng ta không chỉ phải trả giá bằng một thế hệ”

(Trích bài thơ “Trước tỉ lệ tốt nghiệp 18,1% của một trường trung học”)

Tôi nghĩ sự giáo dục không thể chỉ diễn ra trong khuôn khổ nhà trường. Giáo dục phải là việc thường xuyên và toàn diện khắp nơi trong xã hội. Làm sao chúng ta yêu cầu các em học sinh đừng phá một tổ chim trong sân trường nếu chúng ta tàn sát tất cả những cánh rừng bằng lòng tham của chúng ta? Làm sao chúng ta buộc học sinh phải trung thực, phải học hành, phải lao động nghiêm túc khi có bao người lớn đang giàu lên không phải bằng con đường lương thiện? Làm sao học sinh có thể nhường nhịn thương yêu nhau khi ngoài xã hội chúng ta tìm mọi cách lấn lướt nhau, gây gổ nhau, đánh đập nhau, cư xử tàn tệ với nhau, miễn có lợi cho bản thân mình. Cha mẹ làm hư con trẻ khi lén lút đưa phong bì cho thầy cô và các cấp lãnh đạo rồi công khai bàn bạc dè bỉu chuyện đó trong các bữa cơm. Thầy cô làm hư con trẻ khi phân biệt đối xử giữa học sinh này với học sinh khác vì những điều rất cảm tính. Và bao điều khác nữa…

Nguyễn Đức Tùng: Những ý kiến của chị rất thẳng thắn và xây dựng. Tôi ít khi về nước, nhưng tôi nghĩ rằng chính sách giáo dục hiện nay cũng phản ảnh các chính sách chung và tình trạng xã hội.

Đó là lấy việc chạy đua phát triển làm trọng tâm, thay thế cho các nhu cầu tâm linh, ngày càng xa rời giá trị văn hóa gốc. Trong đời sống thì tinh thần cạnh tranh, giẫm đạp lên nhau mạnh hơn tinh thần hòa hiếu, thương yêu. Trong văn học trong khi vừa đóng cửa, bảo thủ, lại vừa có những giấc mơ đại khái như nỗi thèm khát Giải Nobel. Kiến trúc thì ước mong có những thành phố lớn nhất Đông Nam Á hay lớn nhất thế giới. Vân vân.

Trẻ con cần một tuổi thơ hồn nhiên, một học đường lãng mạn, thì lại không có.

Chị có lo lắng cho tương lai của các em học sinh không? Chị có người học trò nào ngoan, giỏi, thân thiết?

Đinh Thị Như Thúy: Tôi không làm được nhiều đâu anh, nên lo lắng cũng chỉ để lo lắng thôi.

Còn học trò ngoan, giỏi, thân thiết thì thầy cô nào cũng có anh ạ. Nhiều hay ít. Tôi đi dạy đã lâu nên rất nhiều học sinh của tôi đã trưởng thành. Có em làm việc ở nơi khác, có em về dạy cùng trường với tôi. Cũng có nhiều em không tốt nghiệp hoặc tốt nghiệp trung học nhưng chẳng biết làm gì lại quay về nhà làm rẫy. Cô trò khi gặp nhau có rất nhiều chuyện kể. Tôi nghĩ niềm vui của người làm thầy đôi khi rất giản đơn: được những học sinh cũ của mình đến thăm, kể chuyện, tâm sự như những người bạn, nhất là khi trò đã lớn khôn, đã hiểu biết và đã nhiều gánh nặng lo toan cuộc sống.

(còn 1 kì)

© 2010 Nguyễn Đức Tùng

© 2010 talawas

Bình luận

5 Comments (bài “Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (1)”)

  1. […] 11:20 – – Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (talawas). Phần 1 – http://www.talawas.org/?p=22864 […]

  2. […] 11:20 – – Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (talawas). Phần 1 – http://www.talawas.org/?p=22864 […]

  3. Hoàng Trường Sa viết:

    “Đặc tính tiêu biểu nhất của thơ là cô đọng. Để có một bài thơ cô đọng, người làm thơ phải biết chắt lọc để đưa vào bài thơ những gì tinh túy nhất, theo cách Michelangelo loại bỏ những phần thừa của tảng đá, cho cái còn lại chính là tác phẩm nghệ thuật.” (Sacroyant Nguyen)

    Tôi hoàn toàn đồng ý với Sacroyant Nguyen. Theo tôi, không thể ghép nhiều đoạn văn xuôi dài dằng dặc với nhau và bảo đấy là thơ. Cái gì muốn đẹp cũng phải giản dị, đừng thái quá. Trong khoa học, ngay cả toán học, đã có câu “simple is best” (giản dị là nhất). Dù là thơ tự do đi chăng nữa cũng phải có giới hạn của nó. Vượt khỏi giới hạn, là đi vào cái mà ta gọi là cầu kỳ, nhảm nhí và lố lăng. Theo điệu này, tôi e sẽ có ngày người ra ráp nhiều bài văn xuôi dài chừng trang giấy kế nhau và gọi nó là thơ. Xin lỗi. Có lẽ tôi quá khó tính chăng?

  4. Phùng Tường Vân viết:

    Thơ Văn Xuôi,

    Tôi không nhất thiết nghĩ rằng không thể có thứ thơ ấy, nhưng tôi cho rằng nếu có cái gì đáng gọi là “thơ văn xuôi” thì chỉ nên gọi nó là thơ thôi : Rất nhiều đoản văn của Võ Phiến rõ ràng là thơ, những trang văn ấy của ông mà một số ông đem vào thi phẩm “Thơ Thẩn” mênh mang một chất thơ, đúng như Đặng Tiến nói, rất khám phá, rất hùng biện :”Võ Phiến là thi sĩ trong văn xuôi, thi sĩ của trần gian. Là thi sĩ.” Cho nên, có lẽ cũng hơi (bị) “dated” khi tôi thú nhận là tôi thấy thích thú khi đọc : “Đã viết những câu thơ mầu hoàng lan/Tiễn mùa về xa ngái/Thương chút ngọt ngào vướng lại/Thơm trang giấy ta cầm…” thì tôi lại không thấy thơ trong (dài dòng) Viết cho dã quỳ và theo tôi, “thơ đến từ đâu” thì xin thú nhận là mình còn mù mịt lắm nhưng có lẽ nó không thể đến từ những giá trị chưa được thử thách.

  5. Mỗi khi đọc những bài thơ kiểu văn xuôi, tôi thường nhớ đến một câu nói của ai đó trong chuyện về ông Jourdain của Molière : “Tout ce qui n’est point prose, est vers; et tout ce qui n’est point vers, est prose”.

    Tôi cảm nhận được vẻ đẹp hoang liêu nơi thung lũng đầy hoa dã quỳ trong “Viết cho dã quỳ”, nhưng lại bâng khuâng với một ý nghĩ tiếc rẻ : giá như đấy là tản văn thì tốt hơn!

    Những câu văn dài lê thê kiểu L. Aragon này không có gì mới, nhưng tôi vẫn chẳng thể nào quen được với quan niệm đấy là những câu thơ. Có thể tôi hơi thủ cựu. Nhưng thơ, với tôi, trước hết và nhất định không phải là… văn xuôi! Những trường ca bằng thơ có thể dài như tiểu thuyết, hoặc một truyện ngắn có thể lấp lánh vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ, nhưng ranh giới để phân biệt giữa thơ và văn xuôi vẫn luôn hiện hữu. Người đọc sẽ phát hiện ranh giới ấy rõ nhất thông qua những quy tắc phối trí thanh âm và nhịp vận.

    Đặt ra cái gọi là “thơ văn xuôi” rồi ca ngợi nó như biểu tượng của sự đột phá hình thức thơ, của tự do sáng tạo, thực chất chỉ thể hiện nỗi bế tắc, bất lực trong khát vọng kiến tạo nên một thi phẩm đúng nghĩa nhưng vẫn chứa đựng hết những gì tác giả cảm nhận được từ ngoại cảnh. Nghĩa là thi nhân, trong khoảnh khắc sáng tạo, có quá nhiều suy nghĩ nảy ra trong tâm trí, anh ta không muốn bỏ sót bất cứ điều gì, mà nếu tuân thủ đúng những quy tắc của thơ thì anh ta sẽ phải lược bỏ nhiều thứ. Thế là anh ta viết ra tất cả. Mặc dù không thấy giống thơ, anh ta vẫn buộc thiên hạ phải gọi nó là thơ, vì anh ta là nhà thơ! Thế là chúng ta có “thơ văn xuôi”.

    Đặc tính tiêu biểu nhất của thơ là cô đọng. Để có một bài thơ cô đọng, người làm thơ phải biết chắt lọc để đưa vào bài thơ những gì tinh túy nhất, theo cách Michelangelo loại bỏ những phần thừa của tảng đá, cho cái còn lại chính là tác phẩm nghệ thuật.

    Khi Xuân Diệu viết : “Những luồng run rẩy rung rinh lá”, ông đã gạn lọc rất nhiều từ bức tranh thu trước mặt và bao nhiêu cảm nhận ngổn ngang trong tâm thức để có một câu thơ tinh tế làm rung động lòng người. Nếu ông ấy để nguyên những phần thừa, tảng đá sẽ có dạng : “Những luồng gió thổi qua khiến lá cây rung rinh như đang run rẩy”. Tảng đá thì cũng đẹp đấy, nhưng chắc chắn không phải là một tác phẩm điêu khắc.

    Nói thế không phải tôi chê bai chị Như Thúy, chị có nhiều bài thơ hay mà tôi từng đọc. Tôi chỉ không thích cái thể thơ văn xuôi ấy mà thôi, chị ạ!

    Rất cảm ơn anh Nguyễn Đức Tùng về nhiệt tình của anh với thơ Việt đương đại.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>