talawas blog

Chuyên mục:

Đỗ Anh Thơ – Những mẩu chuyện kể bên giếng nước (kì 2)

08/07/2010 | 7:00 sáng | 5 Comments

Tác giả: Đỗ Anh Thơ

Category: Đời sống

(xem kì 1)

3. Nhặt những quả cau chài biếu mẹ

Có lẽ từ nhỏ cho tới lớn, không ai lười lao động chân tay như tôi. Bạn bè trong xóm bằng tuổi tôi, lúc đó đã đỡ đần mẹ và anh chị được rất nhiều việc rồi. Riêng tôi, sau những buổi đi học về chỉ biết ôm lấy những cuốn tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn. Tôi mê sách tình đến mức nhiều hôm mưa lắc rắc theo gió Lào mà không biết. May mà có chị dâu tôi về kịp.

Tôi lười có lẽ do cha mẹ nuông chiều, nhưng cái tự kiêu, tự phụ, hay khoe chữ… thì có lẽ do trong làng trong xã lúc đó nhiều bạn tuy hơn tuổi nhưng đều học kém tôi đến một, hai lớp. (Nay vẫn còn tính hay khoe, thì không biết là tại sao?) Hồi đó, tôi đã võ vẽ vài câu tiếng Pháp, tiếng Anh. Cuối năm 1946, trước cánh cửa ngăn đi ra giếng, tôi đã viết câu: “Attention, chien méchant!”[1] và câu tiếng Pháp giả cầy để địch vận, dù chẳng có Tây: “À qui versez vos sang?”[2] Còn trên thành giếng tôi viết “Le puit à l’eau fraiche”[3]

Hôm đầu dùng vôi viết xong câu trên, tôi chơi quanh quẩn bên cửa ngăn và liếc các bà các chị ở kẻ Gai, Phan thôn… đi chợ, xem họ có để ý đến không, nhưng chẳng có ai thèm nhìn.

Tôi mắc phải cái bệnh kiêu căng và cuồng chữ có lẽ còn do di truyền bởi người cha. Cha tôi hỏng tam trường về làm thuốc, nhưng ông chê hầu hết các tú tài, cử nhân… trong huyện là dốt. Ở gian giữa nhà, bạn bè ông đã tặng ông một bức hoành phi sơn son thiếp vàng và do ông cho chữ. Ông đã không theo lệ viết từ phảỉ qua trái, mà viết từ ngoài vào trong như sau

壘  絨   元   醫[4]

Mấy ông đồ trong làng cứ tấm tắc khen chữ đẹp và thường phải nhờ ông  giải thích. Ông sính cả mũi.

Tôi thì mới có chừng một vẹm tiếng Pháp, nhưng có một lần gặp cha cố ở Xã Đoài đã dám nói tiếng Tây với ông: “Père, donnez -moi un sou!”[5]

Cha cố đó đã móc túi ra đưa cho tôi hai xu và thoa đầu: “Bon garçon!”[6]

Tôi đâm ra có cảm tình với ông cha này. Nhưng đến sau vụ giáo dân ở chợ Già và Hưng Yên bên kia Xã Đoài nổi lên, tôi có dịp lên xem thì hình như người cha này đã về Pháp. Mấy câu tiếng Pháp của tôi trên cửa ngăn bị vàng ố dần với thời gian, làm trò cười cho mấy đứa bạn. Chúng nó nhại lại câu “chien mechant” thành “ăn khuyếc ỉa ra rơm“. Tôi chạm nọc, nóng cả mặt, nhưng vì nhỏ lại yếu nên đành im lặng và chửi chúng bằng câu tiếng Anh vừa học: “It’s the dog!”

Chúng không hiểu nên nhe răng cười!

Nay nghĩ lại, với cái tự cao và kiêu ngạo của mình, trong cải cách và chỉnh đốn tổ chức, nếu cha còn sống và tôi còn ở nhà, không bị đấu cùng mẹ thì cũng bị những thằng bạn bần cố nông đã từng chia nhau những củ khoai nướng kia, quy là địa chủ phản động… không bị xử cùng những ông Trựu, ông ký Nhuận… hiền lành, thì cũng bị hạ nhục bằng cách bắt tôi khoanh tay cúi chào, rồi cho vài cái tát tai cho bõ ghét.

Trở lại chuyện quanh giếng nước.  Mùa gió Lào chiều chiều nhạt nắng, tôi thường tha thẩn một mình quanh đó nhặt cau chài cho mẹ. Mẹ tôi nghiện trầu rất nặng. Cau tươi thường là thứ xa xỉ đối với bà, nên mùa hè bà thường nhờ tôi nhặt cau chài. Vườn bên giếng nhà tôi có bốn cây cau. Chúng thường phơi bông vào đầu tháng Ba thơm nức. Nhưng gặp gió Lào sớm, nên quả non rụng lả tả. Quả cau non gọi là cau chài, ăn rất nhạt. Mẹ tôi ăn nó có phải kèm thêm một nhúm thuốc lào xỉa răng với trầu cho đậm thêm.

Tôi còn thú vui khác là thả diều quanh giếng nước. Cha tôi mất rồi, cả một tủ sách thuốc đồ sộ, tôi đưa ra phết diều gần hết. Còn một ít, dượng Dung (tức chồng của o tôi) và ông Ba (bố của chị dâu tôi) lấy đi sau khi nhìn mẹ tôi, mắng tôi và buông một câu mà tôi đau đớn cho tới tận ngày nay: “Cha như rứa mà con như ri! Thật là đồ vô phúc!”

… Sau giải phóng, khi vào Đà Nẵng họp, thấy cau to, mặc dầu mẹ không còn nữa, tôi vẫn mua một buồng, đi máy bay mang ra. Tôi bảo vợ bổ ra phơi khô. Vợ tôi ra vẻ giấu diếm, bổ phơi từng ít một, nên nhiều mẻ bị mốc, hỏng phải đổ đi. Tôi hỏi tại sao vậy? Vợ tôi rỉ tai: “Anh không biết à? Vừa rồi chị Nhỏ đi về quê ở Huế, mang ra chỉ có một buồng cau mà cũng bị bọn quản lý thị trường cho là đi buôn. Chúng tịch thu mất. Cau anh mang ra mà bán là chết ngay, nên tôi phải bổ ra phơi dần, mốc cũng được, dùng để xỉa răng thôi mà!”

Ngày nay không mấy ai ăn trầu nữa. Đến ngày giỗ mẹ, vợ tôi vẫn cố tìm mua cho được một lá trầu không với một quả cau đặt lên bàn thờ, có khi đắt tới hai chục ngàn đồng.

Nhà tôi hiện nay ở Hà Nội, có một cây cau cao vút. Mùa Xuân vẫn phơi bông thơm ngát trước cửa sổ phòng đọc sách của tôi. Nó vẫn rụng xuống những quả cau chài. Nhưng tôi không còn có thể nhặt lên để biếu mẹ được nữa vì giỗ bà vào giữa tháng Tám kia mà! Tháng đó cây cau đã treo lủng lẳng những quả gìa, có quả đà đỏ rực. Cho ai họ cũng ngại hái.

Qua cửa sổ, tôi nhìn cây cau và tự kiểm điểm bao nhiêu lỗi lầm đối với cha với mẹ. Cha tôi luôn luôn mong cho tôi làm sao xứng danh dòng họ! Nhưng lỗi lầm tôi không thể chuộc lại. Tuy nhiên, cái bệnh tự cao, cuồng vọng như cha tôi, cái không chịu làm đặc cách cái bằng tiến sĩ mua, cái bệnh ngông, “mục hạ vô nhân” không chịu luồn cúi ai, không cần lề phải lẫn lề trái, tuy khiến cho tôi có khi đi trệch đường ray… nhưng mà lại thực thoải mái trong lòng. Nhiều khi biết cái dốt của mình, đêm về tôi mới tìm sách, tâm niệm theo đúng lời khuyên của Georges Sand: “Un livre a été pour moi un ami, un conseiller, un consolateur éloquent et calme.“[7]

Nay đứa con út của tôi là á khoa chuyên toán từ cấp 1 đến đại học, là kỹ sư tin học ở FPT dễ thường rồi cũng mắc phải chứng bệnh như tôi và ông nó. Khi tôi nói “dù sao thì con cũng nên đi làm cái bằng tiến sĩ của nước ngoài đang được quảng cáo rùm beng ở nước ta đi thôi”, nó đã buông một câu: “Tất cả chỉ là bằng rởm! Mời con dạy chưa chắc con đã nhận nữa là học!”

Tôi thật sự đã hoang mang về cha mình, về mình. Nay lại hoang mang về con!

Trong cái đám Ma giáo và Thiếu Lâm hiện nay kia, vẫn biết rằng trong tà có chính, trong chính có tà, nhưng làm thế nào để mà phân biệt đươc những  Lệnh Hồ Xung, với Nhạc Bất Quần đây?

Viết nhân ngày giỗ lần thứ 65 của cha (27-5 Âm lịch)

© 2010 Đỗ Anh Thơ

© 2010 talawas


[1] Cẩn thận có chó dữ!

[2] Các anh đổ máu cho ai?

[3] Giếng có nước mát.

[4] Y lũy nguyên nhung = Tướng soái trong thành trì Y học

[5] Cha, cho con xin một xu.

[6] Cậu bé ngoan!

[7] Một quyển sách đối với tôi luôn luôn là một người ban, một kẻ khuyên răn, một người an ủi hùng hồn và trầm lặng.

Bình luận

5 Comments (bài “Đỗ Anh Thơ – Những mẩu chuyện kể bên giếng nước (kì 2)”)

  1. vantruong viết:

    Từ câu “đó là tiếng Tây giả cầy của bọn tôi” của ông Đỗ Anh Thơ tôi lan man nghĩ thấy sang những chuyện bên lề này xin được trao đổi với ý “vui thôi mà” riêng với ông. Chắc ông cũng biết tiếng Pháp (hay tiếng Anh cũng vậy) được dùng ở một số xứ trên trái đất, tiếng Pháp nói ở Thụy Sĩ, ở Bỉ, ở Canada và vài chỗ khác có những “bản sắc” khác tiếng Pháp “chính thống/thời nay” ở Pháp. Lần đầu nghe dân ở Québec mới gặp nhau “Bonjour”, lúc chia tay cũng “Bonjour” tôi cũng giật mình vì ở Pháp lúc đó họ nói “Au Revoir”. Cái “Dépanneur” là tiệm bán chạp-phô trong đó có nước… chứ không phải là chỗ sửa xe như ở bên Pháp. “Lait de poule” như ở đây: http://fr.wikipedia.org/wiki/Lait_de_poule là thứ sữa pha với trứng gà, có chỗ thêm tí rượu, chứ không phải con gà mọc vú thành “mammifère”. “Appuyer un mouvement” là ủng hộ một cái gì đó thì ở bên Pháp là “soutenir”, và nhiều thứ như thế mà tôi không thể nào kể hết ở đây. Sang Québec câu “T’es un Français” là một câu có ý chê đấy, dù ông bà cố nội họ có di cư qua đây.
    Sang Bỉ làm “candidatures (tiếng Hòa Lan: kandidaats)” là học 2 năm đầu đại học.
    Trong tiếng Anh nhiều thứ cũng “apples” và “berries” lắm, quả vú sữa đó có người gọi nó là “milk-apple” nghĩ cũng thực dụng. Tôi có hai người bạn từ thuở cởi truồng tắm biển và đi bắt dế, vẫn còn ở trong nước Việt Nam, từ đào tạo là kỹ sư Nông Lâm Súc trước năm 1975, có lần về nước chơi với bạn nước ngoài, hai bạn tôi dùng gốc gác từ ngữ Latin để giải thích cho người nước ngoài hiểu bật ra một thứ cây bông mà bọn họ đã thấy giông giống một thứ gì ở đâu đó. Vài chữ trân trọng vậy.

  2. Đỗ Anh Thơ viết:

    Bác Phùng kính mến,
    Tôi phải dẫn hai cháu ngoại ở Đức mới về đi nghỉ ở Nha Trang đúng ngày giỗ ông cụ. Mọi năm những ngày này bao giờ tôi cũng về quê, đứng trước mộ cha mẹ mà suy tư, trong nắnggió Lào. Năm nay phải nhờ đến mạng Talawas lại được người tri kỷ chưa biết mặt khen, làm tôi bớt ân hận. Những từ địa phương, câu văn Pháp gà què tôi viết đúng theo cái học và cảm nhận của tuổi ấu thơ.
    Ở trên tầng thứ 17 khách sạn, mà tiền phòng mỗi ngày bằng cả năm thu nhập của nông dan VN, tôi đang cố làm sao cho các cháu thấy được cái nghịch cảnh này, nhưng chúng chỉ giỏi tiếng Dức còn tiếng Việt,tiếng Anh, Pháp chỉ có mỗi thứ mỗi “vẹm” ( vỏ con trai biển ngày xưa dùng để xới cơm ở quê tôi) nên tôi không làm sao truyền cho chúng được những cuộn phim ký ức này để mai này khi đất nước hết ma quỷ, chúng về lại VN không phải là dân du lịch chê VN bẩn, thiếu kỷ cương …mà chúng phải tự bắt tay xây dựng lại cùng dân nghèo trong nước!

  3. Phùng Tường Vân viết:

    Những Chữ Nhặt Được… Bên Giếng Nước
    (Thư giãn cuối tuần)

    1/Trước hết là bốn chữ (vàng thiệt) của bức hoành “Y Lũy Nguyên Nhung” viết “từ ngoài vào trong” (có lẽ phải nói là “viết từ trái sang phải” chứ nhỉ, bác nói “trong, ngoài” ở đây khiến tôi không thể mường tượng cái không gian ấy nó ra sao, nhưng đây là điểm không quan trọng gì), tôi thấy tiên nghiêm là một nhà nho tuy bất đắc chí nhưng quả là “chịu chơi” lắm và tôi rất “khoái” ông cụ. Tôi chợt có ý kiến là nếu nay mai có vị nào thuộc Hội Nhà Văn Việt Nam mà muốn mừng ông tân chủ tịch (có nhiều phần vẫn là cái ông Hữu Thỉnh ấy) thì có lẽ nên mượn bốn chữ này, “chế” thêm chút xíu cho nó thành Thi Luỹ Nguyên Nhung thì thiết tưởng không còn gì thích hợp hơn bởi vì ông thi sĩ chủ tịch này mặc dầu bị nhiều người cáo buộc – trong số đó người kiên trì và cả tiếng nhất vẫn là ông Trần Mạnh Hảo – nhiều điều về một nhân cách không được hữu chỉnh lắm mà có chiều hướng vẫn trở nên một ông “tiên chỉ muôn năm” của “hội ta” thì chắc hẳn là ông ta phải sính mũi lắm!

    2/ Chuyện liên quan thứ hai là xin hỏi (để học) là bác nói: “… Mấy ông đồ trong làng cứ tấm tắc khen chữ đẹp và thường phải nhờ ông giải thích. Ông sính cả mũi.” Tôi không hiểu chữ “sính” ở đây có nghĩa gì, hay là ở trong ta chữ này có nghĩa như là “phổng” (phổng mũi) chăng, còn chữ “sính” theo tôi hiểu thì nó lại có nghĩa là “thích, “ưa chuộng”… như: sính thơ, sính tổ tôm chẳng hạn.

    3/Chữ thứ ba là chữ vẹm trong câu ông viết: “Tôi chỉ mới có chừng một vẹm tiếng Pháp…”, tôi đóan rằng từ này (một vẹm) ở trong ta nó có nghĩa như là “một dúm” không hiểu có đúng không?

    “Ta hồ! Văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ.”

    Trân trọng,

  4. Đỗ Anh Thơ viết:

    ban Vantruong,
    Tôi đã nói đó là tiếng Tây giả cầy của bọn tôi hồi còn nhỏ, thời mà thày giáo tuy có bằng tú tài tây như cụ Nguyễn đức Bính Nguyễn Huy Tý … đã từng viết báo bằng tiếng Pháp, viết báo địch vận đấy, nhưng dạy cho học sinh chúng tôi dịch chữ “thi đua yêu nước” là “concours patriote”! Sau này vẫn còn những khái niêm như nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú mà ở Pháp Anh không có, chúng tôi cũng cứ dịch bừa là People’s lecturer. Elite lecturer. Cái kiểu sính tiếng Tây, một thời còn di lụy mãi cho đến nay như gọi kẹo ông Cu Hai nổi tiếng là kẹo cu đơ ( deux), áo hiệu Cát tường là áo le mur…Vantruong thong cảm nhé./.

  5. vantruong viết:

    Chỉ là chuyện nhanh nhẩu thôi và chẳng có ý gì khác, chắc đã quá lâu nên ông Đỗ Anh Thơ nhớ lộn vậy thôi.
    Họ quen nói:
    À qui de droit có thể là To whom it may concern.
    Pour qui sonne le glas cũng là For whom the bell tolls.
    Vì vậy chắc là “Pour qui versez votre sang?”, “Pour qui travaillez vous?”
    Có thể nói “À qui…” đúng văn phạm nhưng không đúng “lề”.
    Những chuyện ông kể làm tôi bâng khuâng nhớ lại những kỷ niệm, tuy có khác, của một thời êm đềm mà tôi cũng có một ít hồi thuở bé, phải nói rằng thời nay mọi chuyện ào ào như vũ bão, không “Zen” chịu không thấu. Về chuyện sách đọc chắc là hồi nhỏ tôi không có hoàn cảnh để có, nên khi lớn đi học ra đời tôi là người mọt sách trong mạng hơn 30 đứa bạn bè, trừ “sách chưởng” thì phải đi năn nỉ mượn các “sư phụ” khác, ngoài ra thì tốn bộn vì tậu sách. Nổi tiếng trong đám vì có lần lùng ra được sách cũ cho bạn tìm hiểu về “Kinh Dịch” viết bằng tiếng Đức của Richard Wilhelm trên những quầy bán dọc sông Seine. Ngày nay Paris thay đổi quá nhiều.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>