Lê Xuân Khoa – Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại
02/07/2010 | 7:00 sáng | 30 Comments
Category: Hòa giải hòa hợp dân tộc, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: người Việt hải ngoại
Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[1], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.
Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.
Ba tiền đề
Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).
1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc
Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thế sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát Thái Bình Dương, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ[2]. Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc… mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[3] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.
Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng Trung Quốc lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa[4]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của Trung Quốc về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương[5]. Ngay tại Trung Quốc, đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc, vừa xuất bản cuốn Trung Quốc mộng, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ Trung Quốc không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “Trung Quốc phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[6] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.
2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam.
Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trụng Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.
3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại
Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.
Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[7]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung tâm SEARAC do tôi làm chủ tịch và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[8]
Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài Đảng Cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.
Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.
Kế hoạch cụ thể và toàn diện
Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:
1. Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước
a. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu vùng xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính Việt Nam của Trung Quốc bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo Việt Nam đối với Trung Quốc. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho Trung Quốc. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với Trung Quốc.
b. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.
c. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.
d. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.
e. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.
2. Quan hệ với chính quyền Việt Nam
Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với Trung Quốc để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.
Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.
Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank” này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên cứu Phát triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội đồng Quản trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.”
Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.
3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế
Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.
Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [9]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [10].
Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường đại học và các chuyên gia về Trung Quốc. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của Trung Quốc tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.
Kết luận
Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[11] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.
Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đối diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[12] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.
© 2010 Lê Xuân Khoa
© 2010 talawas
[1]Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.
[2]Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.
[3] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.
[4] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.
[5]John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.
[6]Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, Tuần Việt Nam, 15/03/2010
[7]Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa”, Đặc san Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý, Paris, France (2008).
[8]Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như những cuộc vận động của SEARAC (Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thời, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư viện Quốc hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.
[9]Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay, ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.
[10] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)
[11]Xem Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010, trong Phụ lục: “Việt Nam làm gì sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.
[12]Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời cơ vàng của Đảng ta” trên VietNamNet năm 2009.
Bình luận
30 Comments (bài “Lê Xuân Khoa – Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại”)
1 2 Trang sau »
Mời xem:
Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại
http://phivu1956.blogspot.com/2010/07/ho-chi-minh-man-and-myth-ho-chi-minh.html
“Da mồi tóc bạc ta già nhỉ !”
Cái sai lầm xuyên suốt bài viết là một sự không tỉnh táo, nó đặt nền móng thuyết phục và khuyến cáo người khác trên những giả định đến mức ảo tưởng. Tôi đồ rằng có ít nhiều nỗi lẩm cẩm của tuổi tác ảnh hưởng chăng, cũng chính vì có nỗi ái ngại buồn bã ấy mà tôi cũng thấy có cái gì hơi bất nhẫn khi có độc giả liệt kê ông vào những hạng như là “triết gia còi hụ” hoặc vị “đại gia hàng thần” nọ khuyến dụ người khác “làm lành với lịch sử” chẳng hạn. Đôi khi tôi lại nghĩ có lẽ ông vẫn chưa thoát ra khỏi cái “hội chứng” một lần được gặp gỡ với “một người cộng sản tử tế” chăng?
Dù quá trình thôn tính chưa hoàn tất nhưng xã hội ta đã là một xã hội lệ thuộc. Người nghèo lệ thuộc người giàu, người giàu lệ thuộc quan chức, quan chức thì bị chi phối bởi những kẻ cơ hội. Người ta bị điều khiển bởi đồng tiền và những động lực vật chất, thật đúng như Rousseau nói trong khế ước xã hội: “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ”. Sự lệ thuộc vật chất dẫn đến ý thức lệ thuộc và ích kỷ. “Thôi, lo làm mà kiếm tiền, để ý chi đến những việc đó, gặp phiền phức bây giờ” là câu nói mà nhiều người bật ra khi nghe ai đó bức xúc về những vấn đề của xã hội và chính quyền. Những ý thức và suy nghĩ độc lập ngày càng hiếm hoi làm sức đề kháng của xã hội ngày càng xuống thấp. Khi mà thế lực thôn tính nhận thấy rằng nó có thể dẫn dắt các hành động của số đông bằng những tin đồn liên quan đến quyền lợi của họ, đó là lúc mà nó ra sẽ đòn quyết định. Một vài phép thử đã được thực hiện như cơn sốt vàng năm trước và gần đây là chứng khoán.
Đáng lo hơn nữa là sự lệ thuộc suy nghĩ như vậy làm rất nhiều người, từ dân nghèo đến cả tầng lớp trung lưu hy vọng thụ động vào một sự thay đổi từ bên ngoài sẽ mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần và quyền lợi chính trị, mà không ý thức rằng chính mình mới là nhân tố quyết định những kết quả đó. Tác động từ bên ngoài là khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại, nhưng chính sức mạnh của nội lực mới quyết định kết quả của sự tác động đó là tốt hay xấu. Với sức đề kháng của xã hội như Việt Nam hiện nay, kết quả đó sẽ là một thảm họa. Chỉ cần nhìn vào thị trường thuốc chữa bệnh thì sẽ thấy quyền lợi và tính mạng của đại đa số dân ta đang bị hy sinh để phục vụ cho một nhóm lợi ích tư rất nhỏ trầm trọng đến mức nào. Các tập đoàn dược phẩm thao túng hoàn toàn thị trường nhờ sự tiếp tay của những kẻ cơ hội, đẩy giá thuốc lên khủng khiếp và liên tục nhiều năm qua bất chấp những nỗ lực của báo chí và những cố gắng của một số quan chức có trách nhiệm. Không cẩn thận thì thị trường xăng dầu sắp tới cũng sẽ bị lũng đoạn.
Ông Tri Ngộ trích câu viết của GS Lê Xuân Khoa 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“, và ông kết luận: Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng.
Chỉ xét về ý nghĩa riêng nói lên ở chỗ này, tôi nghĩ câu viết trên của giáo sư Lê Xuân Khoa dựa vào những kinh nghiệm đau thương đã xảy ra trong lịch sử dân tộc. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, một hành động dược coi trái đạo nghĩa đối với tư tưởng trung quân thời đó, nhiều người đã đi cầu cứu với nhà Minh bên ngoài, và tổ chức chống lại họ Hồ bên trong. Kết quả là thảm kịch: quân Minh chỉ cần mượn cớ phù Trần diệt Hồ đã chinh phuc nuớc ta rất dễ dàng, và sau đó nói con cháu nhà Trần chẳng còn ai để biến Đại Việt thành quận huyện của Trung quốc. Nhiều người Đại Việt thời đó đã phản ứng theo lòng uất hận kẻ bất nghĩa, bất trung, hay theo quyền lợi riêng vừa bị cướp mất, để chỉ thấy kẻ thù gần gũi cần tiêu diệt là họ Hồ, mà không thấy được kẻ thù còn ở xa nhưng nguy hiểm cho dân tộc hơn, là Trung quốc. Trong trường hợp khác, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để chống Tôn Sĩ Nghị, sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Thiếp đã hết lòng ủng hộ và bày kế cho ông (chưa kể đến Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở), và cũng chính ở vủng Thanh Nghệ Tĩnh nơi đã cung cấp quân binh trung thành nhất cho Chúa Trịnh (dẫn đến loạn Kiêu binh), Nguyễn Huệ đã mộ được hàng chục ngàn người cho đạo quân Tây Sơn Bắc tiến phá Thanh (cũng có nghĩa diệt luôn vua Lê chúa Trịnh). Cảm tính thường phản ứng cho quyền lợi tức thời, nên có khi thành nông nổi, và lý trì hướng dẫn cho hành động đúng đắn, hiệu quả hơn. Vấn đề là làm thế nào để tạo được sự quân bình giữa hai phản ứng, với nhiều xét suy, cân nhắc cho quyền lợi lớn và lâu dài.
2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK)
Ông Tri Ngộ nhận xét:” Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước…“.
Có lẽ không nên mất nhiều thời gian để bàn thật sâu về thế nào là lòng yêu nước, nhưng nếu nghĩ đơn giản và chấp nhận một số quan niệm thông thường, sẽ thấy câu viết của GS Lê Xuân Khoa nêu vừa đủ các điều kiện cần thiết cho những người lãnh đạo VN trong tình hình gay go hiện nay. Nếu thật lóng yêu nước, họ thấy được đâu là quyền lợi thiết thực, lâu dài, và đâu là nguy cơ thật sự cho dân tộc, đồng thời họ cũng thấy muốn bảo vệ được đất nườc, chống lại được kẻ thú cực mạnh, bên trong cần phải dựa vào sức mạnh toàn dân đoàn kết, với nghĩa tự nguyện, và bên ngoài cần nhờ vào sự ủng hộ của quốc tế (thiện cảm với VN, chống Trung Quốc). Từ nhận thức đó sẽ thấy họ cần phải thay đổi thế nào, và thấy vai trò của người Việt hải ngoại không nhỏ trong hành động chung cho dân tộc.
“CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.” (Tri Ngộ)
Bạn Tri Ngộ nói rất đúng. Nếu xảy ra cuộc chiến TQ trực tiếp tấn công VN trên Biển Đông hay trên bộ dọc biên giới phía Bắc, thì Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại sẽ lâm vào một hoàn cảnh rất khó xử, và có lẽ sẽ bị chia rẽ rất lớn do phải chọn lựa thái độ là có nên nhập cuộc để hỗ trợ ĐCSVN chống lại TQ hay không (giả sử rằng vào lúc đó ĐCSVN không còn chọn lựa nào khác ngoài việc phải chống lại Tàu xâm lược).
Một mặt, là con dân nước Việt, không ai có thể bàng quang tọa thị nhìn ngoại bang xâm lăng Tổ quốc mình, mà không chút xót xa, uất giận, và chắc chắn thế nào người Việt hải ngoại tuyệt đại đa số cũng phải tìm mọi cách để chống lại cuộc xâm lược này. Nhưng mặt khác, người Việt hải ngoại biết quá rõ bộ mặt phản dân hại nước của ĐCSVN. Họ cũng thừa biết là sau khi hy sinh tất cả để ngăn chận không cho Tàu xâm chiếm Tổ quốc thiêng liêng của họ, thì kẻ được hưởng lợi cũng lại là cái đảng thổ tả mắc toi mắc dịch CSVN này, chứ chẳng phải là đồng bào họ trong nước hay chính bản thân họ. Bởi vì, lúc đó cái đảng CSVN khốn nạn này lại sẽ tiếp tục hách dịch đè đầu cỡi cổ nhân dân ta trong nước như từ xưa đến nay.
Nhưng nếu trái lại, người Việt hải ngoại cũng như toàn dân ta trong nước thờ ơ không nhập cuộc để cứu nước, thì Tổ quốc ta sẽ không còn nữa. Đó là nỗi đau của chúng ta. Nói cách khác, từ ngày có ĐCSVN, đảng này đã coi đất nước VN là vật sở hữu của đảng họ, coi nhân dân VN là những kẻ tôi đòi, những con vật thí mạng mà đảng có thể sử dụng bằng đủ mọi cách (qua những lời kêu gọi hoa mỹ, đánh động tình cảm yêu nước của người dân như Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ) để bảo vệ cái ngai vàng cùng với những đặc quyền đặc lợi của bè đảng bọn họ.
Có điều, với sự chia rẽ trầm trọng giữa người Việt hiện nay, với sự suy yếu cùng cực, sự bất tài, tham nhũng, sự yếu hèn khiếp sợ Tàu của ĐCSVN hiện nay, cùng việc nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN đã không có được thiện cảm cùng sự kính trọng, quý mến và hỗ trợ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, việc chống cự lại cuộc xâm lăng của TQ (nếu có) lần này e rằng sẽ rất khó khăn.
Cá nhân tôi đã nhiều ngày đêm suy nghĩ về vấn nạn đau khổ này, nhưng thú thật vẫn chưa tìm ra giải đáp. Dù ai cũng biết rằng, để thoát ra nỗi khổ triền miên bất tận này, cách duy nhất là loại bỏ vĩnh viễn cái đảng CSVN này. Nhưng làm sao để thực hiện thành công chuyện này đây, khi ĐCSVN đang nắm trong tay bộ máy thống trị chuyên chính, với dùi cui, roi điện, súng đạn, tiền bạc dồi dào, đầy đủ và sau lưng còn có sự hỗ trợ của bọn bá quyền Bắc Kinh.
Để thay đổi chế độ, chắc chắn toàn dân ta sẽ phải làm lịch sử một lần nữa. Nhưng cái giá phải trả e rằng không nhỏ. Có thể phải trả bằng giá máu, mà đây là điều không ai mong muốn cả. Việc mong chờ ĐCSVN tự động thay đổi là chuyện không bao giờ xảy ra. Xin đừng có ai tơ tưởng vào điều bất khả này. Có lẽ, chỉ khi nào dân ta tỉnh ngộ trước thực tế đau xót này, và đồng lòng đứng dậy, hy sinh đòi lại quyền làm chủ đất nước, thì may ra mới có cơ hội thoát ra khỏi thế bí này. Sẽ có người hy sinh ngả xuống cho thế hệ VN tương lai còn được sống, hay nói theo ngôn ngữ của CSVN thì sẽ có người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Thật là một vòng lẫn quẫn khởi đi từ muà thu lịch sử năm 1945. Một chu trình kín dẫn dắt dân tộc qua ngàn cửa ải đau thương, để trở lại điểm bắt đầu, sau 65 năm tang tóc, núi xương, sông máu. Với một giấc mơ còn dang dỡ. Thật là buồn và giận ông Hồ vô vàn.
“Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội. (trích “Bill Hayton – Đảng Cộng sản và tương lai Việt Nam”)
Nhân đọc được đoạn trích trên đây, tôi xin mạn phép tác giả Bill Hayton cũng như dịch giả Đinh Từ Thức được ghi ra đây để làm rõ thêm cái ý “Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!” trong PH của bác Nam Phan. Dĩ nhiên là tôi rất hiểu “thâm ý” của bác Nam Phan, nhưng tiện đây tôi xin có một ý kiến như thế này:
Tại sao giáo sư Lê Xuân Khoa có quyền “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được””, còn tôi thì “đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất., hay nói như tác giả Bill Hayton là tôi phải “hạn chế tự do ngôn luận”?
Phải chăng, “Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm” là gián tiếp chấp nhận “sự hạn chế tự do ngôn luận” của ĐCSVN?
Và cuối cùng, chẳng lẽ giáo sư LXK, với cái ý “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được”” cũng muốn trở thành “cá mè một lứa” với “Tiến Sĩ triết gia”?
GS Lê Xuân Khoa viết: 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“.
Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Trên thực tế, điều này rất khó xảy ra. Dân tộc nào làm được điều này thì dân tộc đó rất hùng mạnh và chắc chắn có nếp sống đẹp và văn hoá cao. Câu hỏi tôi tự đặt ra là dân tộc chúng ta chưa đạt đến trình độ này. Đời nhà Trần sở dĩ chúng ta hùng mạnh và đánh đuổi được giặc Nguyên cũng nhờ nếp sống từ ái của Vua đối với dân. Vua biết thương dân, biết tha thứ những quan thần đã phản bội Vua. Vua biết hy sinh (đang đi tu và rũ áo tu, quay lại cùng dân quân đánh đuổi giặc Nguyên). Ngày nay những người lãnh đạo nước ta là những người do Đảng chỉ định. Họ là những đảng viên chỉ biết vâng lời Đảng. Họ là những người lãnh đạo bất tài. Họ vâng lệnh Đảng một cách tuyệt đối và mù quáng. Tôi xin trích lại lời của ông Lê Duẩn: “từ đỉnh cao thắng lợi ngày nay, nhìn lại quá trình chiến đấu và trưởng thành đã qua, quân đội ta nhận thức sâu sắc rằng tất cả những chiến công và thành tựu của mình đều bắt nguồn từ đường lối cách mạng độc lập tự chủ của Đảng. Đường lối đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” (NXBQĐND, Hà Nội, 1980). Chúng ta không thể coi thường những cái nhìn rất độc đoán và nguy hiểm này của người CS. Đây là một bức tường lớn ngăn cản sự hợp lực của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại (CĐNVHN).
2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK)
Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước. Sao ta không nói được “thật lòng yêu nước” thì phải trước tiên từ bỏ chủ nghĩa CS, lật đổ chính quyền hiện tại và tổ chức bầu cử cho một nước VN mới có dân chủ với một tương lai sáng lạn hơn. Điều này ai sẽ làm được nếu không có quân đội trong tay. CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.
Giáo Sư Lê Xuân Khoa đã học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được” cuả Tiến Sĩ triết gia!
Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!
Nhân một câu viết của ông Hoàng Trường Sa, xin có đôi lời.
Theo các thông tin trên mạng, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy học ở Hà Nội từ năm 1950, và tôi hiểu có lẽ là ông dạy thêm khi tiếp tục học như phần đông các sinh viên thời đó. Ông tốt nghiệp đại học Văn Khoa và Cao đẳng Sư Phạm năm 1953, được học bổng năm 1960 để theo học đại học Sorbonne (Pháp), và ghi danh luận án tiến sĩ triết học với dề tài Phật giáo Thiền tông tại Việt Nam. Ông qua Ấn Độ nhiều lần để nghiên cứu triết học Ấn, và giảng dạy triết lý Upanishad tại đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau này, ông cũng dạy tại đại học Đà Lạt, Minh Đức và Vạn Hạnh. Trong một thời gian, tôi đọc nhiều bài ông viết về Phật giáo và Thiền tông đăng trên tạp chí Bách Khoa, với giọng văn không khác ngày nay, sáng sủa và khúc chiết. Có thời gian ngắn ông làm tổng thư ký bộ Giáo dục (tương đương thứ trưởng), và chức vụ cuối cùng ở Việt Nam là Phó Viện trưởng Ðại học Sài Gòn. Sau năm 1975 khi qua Mỹ, ông là chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), và là giáo sư thỉnh giảng Ðại học Johns Hopkins tại Washington DC.
Khi mới vào Sài Gòn, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy tại trường Pétrus Ký (và Quốc gia Sư phạm gần đó), và tôi theo học giáo sư trong khoảng thời gian này. Tôi vẫn giữ nhiều hình ảnh đẹp về những thầy cũ của mình, và giáo sư là người thầy tận tâm, khả kính. Tôi còn nhớ một hôm khi bài đã giảng xong mà còn mấy phút nữa mới hết giờ, học trò hơi nhốn nháo, “thày Khoa” nói gì đó và chấm dứt với câu “giáo bất nghiêm sư chi noạ”, cả lớp nghe mà ngơ ngác, nhưng do đó cũng im lặng hơn. Mãi nhiều năm sau, tôi cũng “đứng lớp” mới hiểu hết ý nghĩa một câu nói trong nghề giáo, có lẽ đã có từ thời Khổng Tử.
Tôi và các bạn học có thể thắc mắc tại sao ông thầy cũ của mình xưa kia thật hiền, nho nhã, có nét mặt rất tươi tuy ít khi cười với đám học trò, chuyên về Triết Đông, suốt đời dạy học và làm việc cho người tỵ nạn, bây giờ lại thường viết về một vấn đề chính trị gai góc vào bật nhất để dễ gặp phản ứng mạnh ở nhiều người, thuộc nhiều khuynh hướng, từ nhiều phía khác nhau đến đối nghịch. Nhưng theo tôi hiểu, việc làm hiện nay của một ông giáo đã nghỉ hưu, như vẫn chuyên cần viết sử, tham luận chính trị, có lẽ bắt nguồn từ tấm lòng và sự can trường khi còn là học sinh Trung học ở Hà Nội: ông từng bị bắt với vài người bạn vì hoạt động chống Pháp (theo thư ông gửi cho BBC)
Bài viết “<i Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại ” của giáo sư Lê Xuân Khoa đáng được người Việt hải ngoại đọc và thảo luận ở các diễn đàn thích hợp, dù sẽ có nhiều người đồng ý hay phản đối quan điểm của ông. Đó là một cách nhìn, một phương sách, một giải pháp đề nghị cho một tình thế khẩn thiết lại như đang trong bế tắc. Dù thế nào, tôi cũng cảm thấy giáo sư thao thức nhiều với những suy nghĩ riêng của mính, đồng thời vẫn hy vọng, và có ước vọng lớn cho tương lai Việt Nam. Vấn đề đặt ra rất rộng, nhưng tạm thời, nên giới hạn trong ba tiền đề do ông nêu:
<i1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc :
Có thật hay không như giáo sư nói “ hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước “, và nguy cơ đó còn xa hay gần kề ?
<i2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam :
Khi điều kiện “ lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế ” không thể có được trong hiện tại, thì với hiểm hoạ Trung Quốc lớn hơn bao giờ hết, đất nước VN sẽ ra sao, và để mong cứu vãn tình thế, người Việt trong và ngoài nước có thể làm được gì.
<i3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại :
Bài viết gợi ý nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, nên phán định từng điểm để coi có thật sự lợi ích cho đất nước, có khả thi đối với cộng đồng người Việt hải ngoại không, và cũng xét tới làm như thế có gây cản trở gì không cho công cuộc vận động dân chủ, tự do ở VN .
Khi có thể, tôi sẽ góp ý tiếp.
“4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết!” (Trương Đức)
Làm răng mà bảo đảm chuyện nớ được, bác Trương Đức ơi ! Tui thấy rõ là không cần chờ tới khi “hiểm họa TQ” đã qua, mà ngay hôm nay, khi “hiểm họa TQ” đang đè nặng trên Tổ quốc ta, ĐCSVN cũng xem cái hiểm họa này rất nhỏ so sánh với kẻ thù không đội trời chung của họ là khối người Việt tỵ nạn CS trên toàn thế giới mà họ đang rắp tâm triệt hạ cho bằng được. Tôi thấy rõ chuyện nớ như đang thấy lòng bàn tay mình dưới bóng đèn điện 200 watt: Các đường chỉ tay ra răng, các đốt ngón tay ra răng. Họa chăng là những người chưa có kinh nghiệm về ĐCSVN hoặc là có kinh nghiệm đấy, nhưng lại tự lừa dối chính bản thân, do quá “yêu nước” hoặc quá ngây thơ, mà hy vọng đảng “ta” đã (hay sẽ) thay đổi.
Kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây do Đại Nghĩa sưu tầm:
Đảng cộng sản lấy gian dối làm phương châm
[…] Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại Lê Xuân Khoa – Talawas […]
“Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.”(Lê Xuân Khoa)
Tôi xin được xin lỗi trước giáo sư LXK, nếu trong phản hồi này có điều gì không phải!
Đọc bài này tôi thấy giáo sư Khoa, khi viết bài này, như thể làm cái công việc “vá víu” lại cái “tấm áo dân chủ” đã rách bươm gần thế kỷ nay cho dân tộc VN. Và một câu hỏi hiện lên trong đầu tôi: Tại sao ông LXK không tìm cách “cởi ra” và “vứt bỏ” cái “tấm áo vá chằng vá chịt” ấy đi, và bày cách “mặc” cho dân tộc mình một “tấm áo dân chủ” hoàn toàn mới đi? Tôi xin được phát biểu vài cảm nghĩ của mình như sau:
1. Giáo sư Khoa nêu ra “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.“, thì tôi thấy, giáo sư không những không nêu ra được điều gì mới mẻ cả, mà còn “quên béng” mất một điều kiện tối quan trọng và là tiền đề cho ba điều kiện kia, là “Ngay bây giờ, càng sớm càng tốt, nên THIẾT LẬP NỀN ĐA NGUYÊN DÂN CHỦ cho VN”. Bởi vì, khi có được một nền dân chủ đa nguyên đa đảng thực sự tại VN, thì:
– Điều kiện thứ nhất là “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước” sẽ được đáp ứng, bởi vì lúc đó, “lãnh đạo”(đảng hoặc liên minh các đảng thắng bầu cử tự do và được quyền thành lập chính phủ) đương nhiên phải “tài giỏi” và “thực lòng yêu nước” rồi, nếu không thì nhân dân đã không “bầu”.
– Điều kiện thứ hai là “huy động được sự đoàn kết của toàn dân” cũng dễ dàng được thực hiện, bởi vì, đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền sẽ huy động được toàn thể số cử tri(nhân dân) của mình, cộng với số cử tri(cũng là nhân dân) của các đảng khác trước nguy cơ xâm chiếm Tổ quốc VN của ngoại bang.
– Và như thế, điều kiện thứ ba là “vận động được sự ủng hộ của quốc tế.” chỉ là một mệnh đề kéo theo, cũng sẽ xảy ra, bởi vì cuộc kháng chiến chính nghĩa chống xâm lược của một đất nước dân chủ, bao giờ cũng được quốc tế ủng hộ.
2. Tất nhiên là giáo sư Khoa sẽ bảo tôi rằng, ông nêu ra “3 điều kiện” trên là với tình trạng hiện nay của VN. Vâng, nhưng tôi cũng xin hỏi giáo sư rằng: khi nào thì xảy ra “hiểm họa TQ”? Hiện nay thì chưa, đúng không? Vậy thì tại sao ngay bây giờ “ông Nhà nước VN” không tiến hành một cuộc “thay áo” (tôi không muốn dùng từ “thay máu”, sợ rằng ông Nguyễn Minh Triết lại bảo tôi là kẻ “thích đổ máu”!) cho dân tộc đi? “Ông Nhà nước VN” muốn đợi đến bao giờ? Và giáo sư Khoa còn muốn “vá áo” đến bao giờ nữa? “Tấm áo dân chủ” hiện giờ mà ĐCSVN đã “khoác” lên cho dân tộc hơn 80 năm qua đã “cũ rích”, đã bị “rách bươm” qua “những tháng năm cuồng nộ” và đã bị “vá chằng vá chịt” chẳng ra thể thống gì cả rồi. Nên “thay áo” đi, kể ra bây giờ, sau cuộc chiến 1954-1975 đã hơn 35 năm, là đã muộn lắm rồi, nhưng muộn còn hơn không!
3. Dân tộc VN đã mất lòng tin vào ĐCSVN, nên “Ông Nhà nước VN” có làm gì cũng là những hành động “vá víu” vớ vẩn. Cái hiện tình(sự thoái hóa về đạo đức và văn hóa của xã hội và con người, đời sống thiếu thốn nghèo đói, kinh tế đi xuống, nguy cơ mất nước, không có lối thoát,…) của đất nước VN ta chứng minh điều đó. Tất cả cũng chỉ là do toàn dân không còn tin vào Nhà nước nữa. Không có niềm tin thì khó có thể “xây dựng” hay “bảo vệ” một cái gì cả!
4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết!
5. Để tạm kết luận, tôi xin được trích lại đây lời PH của bác Lề Trái, coi như là bác LT nói hộ ý kiến của mình (Xin cám ơn bác Lề Trái!): “Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác.”
[…] KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI TRƯỚC HIỂM HỌA TRUNG QUỐC Bởi ngoclinhvugia Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại […]
“phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế”
Đã có một dữ liệu nào để bảo đảm cái giả định trên là khả thể, hay những gì xảy ra đều chỉ ra giả định trên đang mấp mé giả tưởng? Nếu dữ liệu không đỡ nổi cái giả định, thì những đề nghị trên có còn giá trị nữa hay không? Và cả bài này có đáng giá như những giả định chính trị đầy rẫy ở hải ngoại kiểu “những người hải ngoại phải làm gì”? Đôi khi muốn giải quyết vấn đề, người ta phải truy ngược lên vấn đề bắt nguồn từ đâu, và giải quyết từ gốc thay vì cứ chữa triệu chứng kiểu tương tylenol cho bệnh liệt kháng đơn thuần chỉ vì dễ nhiễm lạnh.
Nhân tiện, tôi nói luôn: Một trong những kết quả cuối cùng của Marxism là chủ nghĩa thực dân mới. Vì nó ở mức cao hơn, nên có người đã giả định (theorize) là thực dân tự nguyện ie vũ lực phần lớn mang ý nghĩa tượng trưng. Tiếc dân Đông Âu hình như nhận ra nên cứ cù nhầy cù dưa, còn lòi ra anh Nam Tư cứng đầu cứng cổ. Nhưng sự xuất hiện của xe tăng LX (cũ) ở Tiệp và Hung năm nào là những dấu hiệu đáng kể. VN & TQ có thể sự chuyển tiếp sang thực dân mới sẽ suôn sẻ hơn, tức là trên phương diện lý thuyết, rất có thể VN sẽ thành 1 tỉnh không thể thiếu của TQ, hay ít nhất 2 nền hành chính sẽ sáp nhập.
Chừng nào chuyện này xảy ra? Thiển ý của tôi, VN là điểm nổ của Critical Mass TQ. Hiện giờ chưa xảy ra vì TQ vẫn còn nén mình. Tới 1 lúc nào đó khi TQ đã đủ sức “vươn vai đứng dậy sáng lòa”, VN nếu chưa bị thôn tính bằng chính trị sẽ lãnh ngay hậu quả quân sự. TQ muốn tiến ra thế giới sẽ phải bước qua VN.
Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác.
Nếu dân ta cứ để sự thôn tính xảy ra, tôi sẽ buồn, rất buồn nữa là đàng khác. Nhưng để gỡ gạc, tôi đặt sẵn cục gạch xí chỗ trong những người ủng hộ giả thuyết trên.
Ngoài lề 1 tí, tưởng đã ăn chắc vụ VN vào Cambodia và TQ chiếm Tây Tạng, LHQ lao vào cứu 1 bàn thua trông thấy vụ VN/Cambodia. TQ/Tây Tạng thuộc loại thực dân thẳng thừng ie bạo lực “không” tượng trưng, nên bên pro-marx cãi là không tính. TQ/VN là hy vọng cuối cùng!
“Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa)
Tôi đọc bài này của Giáo sư Lê Xuân Khoa đang ngon lành, đến đoạn này thì KHỰNG lại luôn, mồ hôi đổ toát ra dù lúc này bên Úc tiết trời đang giá lạnh. Dù kính trọng Giáo sư (một phần do nể bác Hòa Nguyễn, một học trò cũ của Giáo sư) và ghi nhận thiện chí của Giáo sư Khoa, tôi thấy Giáo sư có vẻ quên bài học lịch sử năm 1945 quá nhanh. Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (nguyên văn) mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua.
Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946).
Cái tiền đề của Giáo sư Khoa rằng ĐCSVN cũng muốn chống lại sự xâm lấn bành trướng của TQ, theo ngu ý, là một tiền đề còn quá mù mờ chưa thể tin ngay được, cần xem kỹ lại, bởi vì ngay cả việc người dân trong nước chỉ muốn nói lên câu “Hoàng Sa và Trường Sa là của VN” mà cũng bị nhà nước CS ngăn cấm và đàn áp.
Tôi xin lỗi phải tạm ngưng đọc tiếp bài này cho đến khi HOÀN HỒN, sau đó sẽ tính lại. Dù sao cũng phải cám ơn tác giả Lê Xuân Khoa đã cất công viết bài này để mọi người cùng suy ngẫm.