Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 1: Sơ lược qua các thống kê
01/07/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 1: Sơ lược qua các thống kê
Category: Pháp luật
Thẻ: hình phạt tử hình
Hình phạt tử hình là một chủ đề gây tranh cãi tại nhiều nước trên thế giới trong nhiều thập kỷ qua. Theo xu hướng chung, ngày càng có nhiều nước bãi bỏ hình phạt tử hình. Xu hướng chung đó được thừa nhận, ngay cả bởi nhiều nước còn giữ hình phạt tử hình, là xu hướng của sự tiến bộ.
Việt Nam là một trong các nước vẫn duy trì hình phạt tử hình, mặc dù số tội danh được áp dụng hình phạt tử hình đã giảm hơn một nửa trong vòng 11 năm qua (từ 44 – năm 1999, xuống 21 – năm 2010)[1]. Luật thi hành án hình sự mới được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 quy định hình thức hành quyết mới cho tử tù[2]. Hình thức mới, tiêm thuốc độc thay vì xử bắn như trước, được xem là nhân đạo hơn.
Bài viết này và các bài viết kế tiếp trong cùng chùm bài, được viết nhân sự kiện trên đây, tổng hợp lại những nội dung thiết yếu về hình phạt tử hình. Người viết mong muốn rằng chủ đề sẽ nhận được sự quan tâm rộng rãi của người đọc, nhất là khi các cuộc tranh luận về hình phạt tử hình hầu như vắng bóng tại Việt Nam.
Thống kê các nước bỏ và giữ hình phạt tử hình
Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), một tổ chức toàn cầu vận động cho các quyền con người, thống kê cho đến tháng 12 năm 2009 của tổ chức này[3] cho thấy:
- 95 quốc gia và vùng lãnh thổ đã bỏ hình phạt tử hình cho mọi loại tội phạm; con số này đã tăng lên đáng kể so với năm 1977, với chỉ 16 quốc gia.
- 9 quốc gia đã bỏ hình phạt tử hình cho các tội phạm thông thường, và giữ hình phạt cho các tội phạm đặc biệt như tội phạm chiến tranh.
- 35 quốc gia đã bỏ hình phạt tử hình trên thực tế: hình phạt tử hình tuy vẫn còn trong luật pháp nhưng đã không được thi hành trong vòng ít nhất 10 năm qua; trong số này bao gồm các quốc gia đã cam kết không sử dụng hình phạt.
- 58 quốc gia và vùng lãnh thổ khác vẫn duy trì hình phạt tử hình nhưng ngày càng ít các quốc gia trên thực tế thi hành hình phạt trong một năm nào đó.
Tại châu Âu, tất cả các quốc gia đã bỏ hình phạt tử hình, trừ Belarus[4]. Tại châu Mỹ, Mỹ và ‘Saint Kitts and Nevis’ là hai ngoại lệ[5]. Trong số các nền dân chủ tiên tiến trên thế giới, chỉ còn lại Mỹ, Nhật Bản và Nam Hàn giữ hình phạt từ hình. Tại Mỹ, mỗi bang có bộ luật riêng; hiện tại, cùng với Washington D.C, 15/50 bang đã bỏ hình phạt[6].
Philippines, Nepal, Papua New Guinea, và Gambia là bốn nước đã bỏ hình phạt tử hình nhưng sau đó đã khôi phục lại. Hai nước Philippines và Nepal, sau khi khôi phục hình phạt, đã bỏ hình phạt lần nữa. Hai nước còn lại không có vụ hành quyết nào kể từ sau khi hình phạt được khôi phục.[7]
Nhiều nước trong số các nước bỏ hình phạt tử hình đã đi xa hơn bằng việc quy định cấm hình phạt trong hiến pháp. Theo một báo cáo của AI đưa ra vào ngày 4/4/2005, có ít nhất 42 nước đã đưa vào hiến pháp quy định cấm hình phạt tử hình[8].
Các quốc gia có số vụ hành quyết cao nhất trong năm 2009 (Hình: AI)
Thống kê của AI cũng cho thấy tại các nước còn giữ hình phạt, số các vụ hành quyết ngày càng giảm. Trong năm 2009, một phần lớn số các vụ hành quyết diễn ra ở Trung Quốc (1000s+), Iran (388+), Iraq (120+), Ả Rập Saudi (69+), Mỹ (52) và Yemen (30)[9]. Trung Quốc, được biết là nước có tỷ lệ các vụ hành quyết nhiều nhất trên thế giới – hàng ngàn vụ mỗi năm, vốn từ chối cung cấp các thông tin về việc sử dụng hình phạt tử hình.
Các tiêu chuẩn nhân quyền về hình phạt tử hình
Bãi bỏ hình phạt tử hình là một trong những mục tiêu vận động của các tổ chức như Liên Hợp Quốc hay Liên minh Châu Âu, cũng như các tổ chức nhân quyền trên thế giới. Những sự kiện sau đây nằm trong tiến trình thiết lập các tiêu chuẩn nhân quyền có liên quan tới hình phạt tử hình[10]:
Năm 1948: Liên Hợp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR)[11]. Tuyên ngôn này tuyên bố rằng quyền của mọi cá nhân được bảo vệ khỏi sự tước đoạt cuộc sống, và không ai có thể bị trừng phạt tàn ác hoặc hạ cấp. Các hình phạt tử hình vi phạm cả hai quyền cơ bản.
Năm 1966: Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR)[12]. Điều 6 của công ước nêu rằng “không ai có thể bị tước đoạt cuộc sống một cách tùy tiện” và rằng hình phạt tử hình sẽ không được áp dụng đối với phụ nữ mang thai hoặc những người dưới 18 tuổi tại thời điểm phạm tội. Điều 7 nêu rằng “không ai có thể bị tra tấn hoặc đối xử, trừng phạt tàn ác vô nhân đạo hoặc hạ cấp.”
Năm 1984: Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC) đã thông qua “Các biện pháp bảo đảm bảo vệ quyền của người chịu hình phạt tử hình”[13]. Trong cùng năm đó, các biện pháp đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chấp thuận. Các biện pháp nêu rằng không ai dưới 18 tuổi tại thời điểm phạm tội có thể bị xử tử và bất cứ ai bị kết án tử hình có quyền kháng cáo và yêu cầu ân xá hay giảm án.
Năm 1989: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị định thư Không ràng buộc Thứ hai đối với Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị[14]. Mục tiêu của nó là bãi bỏ hình phạt tử hình.
Năm 1990: Nghị định thư Công ước Châu Mỹ về Nhân quyền[15] đã được Đại hội đồng Tổ chức Các nước Châu Mỹ thông qua. Nghị định chuẩn bị cho sự bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình, chỉ cho phép sử dụng hình phạt trong thời chiến.
Năm 1993: Tòa án Hình sự Quốc tế cho Nam Tư cũ[16] tuyên bố rằng hình phạt tử hình không phải là một lựa chọn, thậm chí đối với những tội ác ghê tởm nhất được biết đến với nền văn minh, kể cả tội diệt chủng.
Năm 1995: Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em[17] có hiệu lực. Điều 37 (a) cấm hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi tại thời điểm phạm tội.
Năm 1999: Ủy hội Liên Hợp Quốc về Nhân quyền (UNCHR) đã thông qua một nghị quyết[18] kêu gọi tất cả các nhà nước còn duy trì hình phạt tử hình từng bước hạn chế số lượng tội phạm có thể được áp dụng hình phạt nhằm xoá bỏ hình phạt hoàn toàn.
Năm 2002: Hội đồng Ủy ban Bộ trưởng Châu Âu thông qua Nghị định thư 13 của Công ước Châu Âu về Nhân quyền[19]. Nghị định thư 13 là hiệp ước quốc tế ràng buộc pháp lý đầu tiên về việc bãi bỏ hình phạt tử hình trong mọi trường hợp không có ngoại lệ. Khi nghị định thư được đưa ra ký kết vào tháng 5, năm 2002, 36 nước đã ký kết.
Năm 2005: Ủy ban Liên Hợp Quốc về Nhân quyền phê duyệt Nghị quyết Nhân quyền 2005/59[20] về hình phạt tử hình, kêu gọi tất cả các nhà nước còn duy trì hình phạt tử hình bãi bỏ hình phạt hoàn toàn, và trong khi chờ đợi, tạm ngưng các vụ hành quyết.
Năm 2007: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã phê duyệt Nghị quyết 62/149[21] kêu gọi tất cả các nhà nước còn duy trì hình phạt tử hình tạm ngưng các vụ hành quyết nhằm hướng tới bãi bỏ hình phạt tử hình.
Các nước Đông Nam Á và Việt Nam
Trong số 11 nước Đông Nam Á, có 3 nước đã bỏ hình phạt tử hình cho mọi loại tội phạm là Campuchia (1989), Đông Timor (1999), Philippines (1987, 2006)[22]; 3 nước đã bỏ hình phạt trên thực tế là Brunei (1957), Lào (1989), Myanmar (1980s)[23]. Cùng với Việt Nam, 4 nước Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan vẫn giữ hình phạt này.
Riêng Philippines đã bỏ hình phạt tử hình lần đầu vào năm 1987, khôi phục vào năm 1993, và bỏ lần hai vào năm 2006 (như đã nhắc đến ở trên). Sự trở lại của hình phạt vào thời kỳ cầm quyền của cựu tổng thống Fidel Valdez Ramos là do sự gia tăng tỷ lệ tội phạm[24].
Bãi bỏ hình phạt tử hình là một trong những đề nghị của các nước trong Liên minh Châu Âu và Liên Hợp Quốc đối với Việt Nam về các vấn đề nhân quyền. Báo cáo ngày 12/5/2009 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc cho thấy Việt Nam đã bác các đề nghị về việc bãi bỏ hoặc hướng tới bãi bỏ hình phạt tử hình mà các nước Brazil, New Zealand, Phần Lan, Argentina đưa ra. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng bác đề nghị của Thụy Sĩ về việc sửa luật về hình phạt tử hình theo tiêu chuẩn quốc tế, đề nghị của Đức về việc công bố tất cả thông tin về việc sử dụng hình phạt tử hình. Tuy nhiên, Việt Nam chấp nhận các đề nghị xem xét lại luật về hình phạt tử hình và giảm dần số tội danh được áp dụng hình phạt[25].
Tương lai, Việt Nam cũng như nhiều nước khác không nằm ngoài xu hướng bãi bỏ hình phạt tử hình. Cho đến khi có sự thay đổi đó, hình phạt tử hình phải được xem xét từ nhiều góc độ và nhận thức về chủ đề này cần được nâng cao.
Lý lẽ ủng hộ và chống hình phạt tử hình như thế nào và quan điểm của các tôn giáo trên thế giới về hình phạt ra sao? – Đó là nội dung mà phần kế tiếp của chùm bài này sẽ nói đến.
30/6/2010
Các chú thích được đánh dấu (*) có thể được cập nhật theo thời gian, dữ liệu trên các trang này về sau có thể khác so với hiện tại.
© 2010 Nguyễn Trang Nhung
© 2010 talawas
[1] “Việt Nam sẽ giảm dần án tử hình”; “Quốc hội bỏ án tử hình đối với tám tội danh”.
[2] “Tử tù sẽ được tiêm thuốc độc”.
[3] “Abolitionist and Retentionist Countries” (*)
[4] “The Death Penalty in Europe and Central Asia in 2009”.
[5] “The Death Penalty in the Americas in 2009”.
[6] States With and Without Death Penalty (*).
[7] Mục 3. Moves to Reintroduce the Death Penalty.
[8] Constitutional Prohibitions of the Death Penalty.
[9] “The death penalty in 2009”.
[10] Death Penalty and Human Rights Standards. (*)
[11] Universal Declaration of Human Rights.
[12] International Covenant on Civil and Political Rights.
[13] Safeguards Guaranteeing Protection of the Rights of Those Facing the Death Penalty.
[14] Second Optional Protocol to the International Covenant on Civil and Political Rights.
[15] Protocol to the American Convention on Human Rights to Abolish the Death Penalty.
[16] International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia
[17] Convention on the Rights of the Child.
[18] Commission on Human Rights Resolution 1999/61.
[19] Protocol No. 13 to the Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms.
[20] Human Rights Resolution 2005/59 –
http://ap.ohchr.org/documents/E/CHR/resolutions/E-CN_4-RES-2005-59.doc
[21] 62/149. Moratorium on the Use of Death Penalty (bản pdf ở đây).
[22] Death Penalty: Countries Abolitionist for All Crimes. (*)
[23] Death Penalty: Countries Abolitionist in Practice. (*)
[24] Death Penalty in the Philippines.
[25] Report of the Working Group on the Universal Periodic Review (bản pdf ở đây); và “Những đề nghị nhân quyền bị bác bỏ”.
Bình luận
Không có bình luận (bài “Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 1: Sơ lược qua các thống kê”)