talawas blog

Chuyên mục:

Lữ Quỳnh – Những cơn mưa mùa đông (kỳ 3)

06/07/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Lữ Quỳnh – Những cơn mưa mùa đông (kỳ 3)

Tác giả: talawas

Category: Chiến tranh Việt Nam, Sáng tác
Thẻ: >

(xem kỳ 1 & kỳ 2)

V.

Đứa trẻ đã bớt, nhưng phải hai tuần sau hắn mới tạm bình phục. Người đàn bà khởi sự chuyến buôn đầu tiên kể từ ngày đứa trẻ nhuốm bệnh. Lúc quay về, thay vì mua cho con nhiều đồ chơi, chị mua thêm một hộp thuốc bổ cho hắn chóng lại sức. Cơn bệnh trầm trọng của đứa trẻ đã vô tình kéo người đàn bà trở về với bổn phận thực tế. Chị đã ân hận về những cảm giác chị có khi nghĩ đến tên đồn trưởng trên khúc sông này. Những quyến rũ trước đó bây giờ trở nên trơ trẽn lạ lùng. Chị nghĩ chị sẽ chấm dứt những mơ mộng có vẻ tội lỗi ấy. Nhưng khổ thay, đó chỉ là những ý nghĩ khi ở trong không khí gia đình, cạnh đứa con đau yếu. Bây giờ chị đang xuôi trên giòng sông tràn ngập cảm xúc, chị cảm thấy tâm hồn mình đổi khác.

Chị hồi hộp khi chiếc thuyền bắt đầu đi vào khúc sông do người đàn ông kiểm soát. Giòng sông im không một gợn sóng dưới ánh nắng âm u sau những ngày mưa mù mịt. Chiếc buồm được mở ra một nửa, không đủ gió để căng. Người đàn bà như lá cờ vàng bé xíu bay phấp phới trên vòm cây xanh. Chị nghe tiếng tim mình đập rộn ràng trong lồng ngực. Chị với tay kéo chiếc xắc lại gần lấy ra hộp thuốc mua ở phố về cho đứa trẻ. Hắn đã bớt sau gần một tuần nằm dán mình xuống chiếu. Chị chỉ mong con sớm bình phục để còn tiếp tục những chuyến buôn bỏ dở.

Thuyền chở đầy hàng, nặng chìm đến mạn. Người đàn bà xếp những ống thuốc vào hộp, rồi trả vào xắc như cũ. Chị đưa tay ra sông khuấy nước. Chị cảm thấy lo lắng vẩn vơ cùng với thoáng rạo rực bé nhỏ từ đáy lòng. Hình ảnh đứa con xanh xao đang nằm ở nhà chờ chị về với hộp thuốc bổ, làm chị nóng lòng và mong cho gó thổi mạnh để thuyền mau về tới bến. Nhưng bến chị chờ mong đã không tới sớm bằng bến đồn quen thuộc mà người đồn trưởng đang chờ sẵn như mọi lần.

Thuyền cập bờ lúc mặt trời đã xuống ở cuối sông. Người đàn bà đưa tay sửa lại nếp áo, vén lại mái tóc, để rồi chợt ngượng ngùng khi nhận ra những cử chỉ đó ở mình. Hai người lính lừ đừ bước xuống bờ sông từ những bậc cấp của cổng đồn cách không xa. Một người hỏi trổng:

– Chở gì mà nhiều thế? Không sợ thuyền chìm sao?

Tiếng một bạn hàng trong lòng thuyền lầu bầu nguyền rủa về lời nói gở của tên lính. Không một ai trả lời hắn cả.

– Cho coi giấy tờ đi các bà, cả giấy phép chở hàng nữa. Chở quá đi là cái chắc rồi đấy.

Những người đàn bà đồng loạt đưa tay tháo kim găm trên các túi áo, hoặc kéo ví tay lấy giấy tờ trình người lính kiểm soát. Giọng một người nói rất nhỏ:

– Ông đồn trưởng đâu rồi mà không kiểm soát, để bọn này thì biết đến bao giờ mới xong được. Không khéo lại ngủ đêm ở đây mất. Quan lớn không ngán mà phải ngán bọn cắc ké này quá trời.

Người đàn bà thoáng thất vọng khi nghe người bạn hàng nhắc đến viên đồn trưởng. Tại sao hôm nay y vắng mặt? Nhưng rồi chị cũng cảm thấy phấn khởi khi nghĩ đến đứa con đang đợi, với những đồ chơi và hộp thuốc bổ ở nhà.

Thằng Vũ giờ này có lẽ đã khá nhiều. Hôm chị đi hắn bắt đầu ăn cơm nhão. Uống hết hộp thuốc bổ chị mang về đây, hẳn hắn chóng bình phục và mập ra. Chị nghĩ ngợi mông lung về cái đêm đứa trẻ bị sốt nặng, về cái đêm người lạ mặt hiện đến đem cho chị tin người chồng từ lâu biệt tích… Cái đêm mưa gió khủng khiếp ấy, chị không muốn nó hiện ra trong trí nữa. Chị cố xóa nhòa đi. Sự hiện diện của người lạ mặt trong đêm ấy trở thành một đe dọa thường xuyên trong cuộc sống chị. Chị không thể nào ngờ tới, cũng như chưa bao giờ chờ đợi sự việc đó. Thế mà nó lại hiện đến như trong một giấc mơ, và chính lúc này đây chị cũng ao ước biến nó thành một giấc mơ hẳn. Với giấc mơ chị sẽ không bị liên lụy gì cả, không trách nhiệm gì hết. Biết đâu đêm ấy chẳng có một người chứng kiến trong bóng tối…

– Mời bà con lên bờ kiếm chỗ ngủ. Vì vấn đề an ninh chúng tôi không thể cho thuyền rời bến được đâu. Bà con thấy mặt trời đã tắt rồi đấy…

Tiếng người lính trên bờ dội xuống nghiêm trang. Người chủ thuyền vừa cuốn chiếc buồm nhỏ lại vừa nói oang oang:

– Bà con nghe đấy. Nhớ lên kiếm chỗ ngủ, và đừng ngủ quên mà bị trật đò. Tôi không chờ ai cả đâu. Trời sáng là giong buồm ngay…

Mọi người thở ra chán ngán. Trong khi ấy, người đàn bà sững sờ nhìn giòng sông bắt đầu đen thẫm lại. Chị nghĩ đến người đồn trưởng, đến ánh mắt của y, để cảm thấy chới với trong một cảm giác xa lạ. Chị chống chọi với nó mong thoát ra và nhận rõ mình đang hụt chân chìm sâu mãi xuống trùng dương cảm giác…

Người đàn bà ý thức rõ ràng: có phản đối, kháng cự gì chăng thì phải hành động ngay từ đầu, ngay trước khi bước chân vào căn phòng của y. Nhưng chị đã có những phản ứng quá yếu ớt, những chống đỡ quá vụng về nên y mới chinh phục chị một cách dễ dàng như vậy. Chị nói chị đã có chồng, có con… Y nói, chồng chị làm gì ở đâu, y chả cần biết…

Câu nói của y thật nhẹ nhàng, nhưng đã làm chị khiếp đảm hơn một lời đe dọa mạnh. Câu nói của y buông ra thật bất ngờ. Chị không ngờ y đã theo dõi, nắm lý lịch của chị vững đến thế. Câu nói làm chị lạnh buốt dọc sống lưng. Chồng chị… vâng, chồng chị đang là kẻ thù của y, đang là kẻ thù nghịch của những người đang sống bên này lằn ranh. Chị hiểu điều đó lắm, nhưng vẫn tự hỏi: có thật như thế không? Có thật chồng chị vĩnh viễn trong ý nghĩ mọi người là kẻ thù của họ.

Khi ở trong căn phòng người đàn ông rồi thì tất cả những chống đỡ của chị tưởng đã quá muộn. Trước đây hình ảnh y quyến rũ chị bao nhiêu thì lúc này chị cảm thấy y xa lạ quá, còn xa lạ hơn cả một kẻ xa lạ nào khác. Chị nhìn y bình thản ngồi hút thuốc trong lòng chiếc ghế mây lớn. Trước y, trên mặt chiếc bàn tròn nhỏ, một chiếc gạt tàn bằng vỏ đạn đồng chế biến đang bốc khói, với hai ly bia sủi bọt trắng. Trong sự im lặng bình thản đó của người đàn ông, chị còn tìm thấy vẻ đắc thắng đầy tự tin của y. Điều này bỗng làm chị đâm giận mình khủng khiếp. Chị muốn nguyền rủa chị, khinh bỉ chị. Nhưng tâm trạng đó chỉ cho chị có mỗi phản ứng là những giọt nước mắt uất hận chạy vòng quanh mi rồi lăn dài xuống má. Chị khóc nức nở.

Người đàn ông dí mẩu thuốc vào gạt tàn, ngẩng mặt lên hỏi trổng:

– Sao lại khóc?

Y đứng dậy, tiến gần người đàn bà. Chị đang mắc chiếc áo cánh bằng vải phin trắng. Mái tóc búi cao bày chiếc gáy màu da bánh mật nhưng không kém phần khiêu gợi. Y cầm lấy cánh tay chị, nói giọng rất dịu dàng:

– Không có gì để em phải khóc hết. Nếu em không muốn ở đây, tôi sẽ đưa em rời khỏi đây ngay. Tôi nghĩ đây không phải là lần thứ nhất em gặp tôi. Chúng ta từng gặp nhau nhiều lần ở bến đò, và tôi đã nói với em, dù bằng ánh mắt, là tôi yêu em. Đêm nay tôi muốn em ở lại đây để tôi lặp lại với em ba tiếng đó. Có gì cản trở việc chúng ta yêu thương nhau đâu…

Người đàn bà để yên cánh tay mình trong bàn tay y. Chị nghe những lời y nói ra như một đôi môi ngọt ngào. Nó quá êm đềm mà chị chưa bao giờ nghe cũng như chưa từng chờ đợi để nghe tới. Chị muốn thét lên: ông không biết tôi đã có chồng có con sao mà ngỏ lời lăng nhăng, xin ông tha cho… Nhưng chị đã không lên tiếng được và sẽ không bao giờ lên tiếng được nữa, trong khi người đàn ông tấn công chị thật chậm rãi và chắc chắn:

– Tôi biết em đang ở trong hoàn cảnh đặc biệt. Tôi biết em không thiếu một điều gì. Sở dĩ tôi tò mò như vậy, chỉ vì tôi yêu em. Em có chồng, điều ấy thật rõ nhưng em làm sao tin được ngày hắn trở về. Hắn đã sai lầm ngay khi chọn lựa. Ở trên đời này, người ta có thể chọn lựa bất cứ cái gì, phụng sự bất cứ cái gì, nhưng không được hy sinh những người yêu dấu là vợ và con mình…

Người đàn bà bước ra khỏi vòng tay người đàn ông, ngay khi y buông bàn tay ở cánh tay chị với ý định ôm chị vào lòng.

– Không được đâu anh ạ.

Người đàn bà nghe giọng nói mình lạ hoắc. Trong một phút, chị không hiểu nổi lòng mình. Chị cố gắng chống đỡ một cách gượng gạo, để cuối cùng người đàn ông vẫn kéo sát được chị vào lòng y. Một bàn tay y đưa ra gạt những giọt nước mắt trên má chị. Bàn tay đang di chuyển trên da thịt chị. Từ bao nhiêu năm rồi mới có một bàn tay ngập ngừng trên da thịt làm sao cảm giác chị không mù lòa được. Chị nhắm mắt lại. Hình ảnh người chồng xa xăm theo thời gian đã mất hút dễ dàng. Kẻ lạ mặt trong đêm mưa gió kinh hoàng không thể níu giữ nổi một hoài niệm dù nhỏ nhoi về người chồng vắng mặt. Có thể chị có nghĩ đến đứa trẻ xanh xao sau cơn bệnh nguy khốn đang chờ chị về với hộp thuốc bổ cùng với những đồ chơi bé bỏng trong chiếc xắc kia. Hình ảnh tội nghiệp của thằng Vũ lúc đầu tưởng không thể nào xóa nhòa được trong lòng, nhưng sau đó chị thấy mình lầm. Chị đã quên tất cả. Trong chị chỉ còn có biển cảm giác hực lửa.

Người đàn ông dìu chị đến ngồi xuống lòng chiếc ghế mây. Y cầm một ly bia và ép chị uống.

– Tôi không biết uống thứ này đâu. Anh quên tôi quê mùa rồi chắc?

Nhưng người đàn ông đã quàng một tay qua vai chị và ôm chặt lấy. Y đặt thành ly vào môi người đàn bà. Chị uống những ngụm nước đắng. Ngụm nước nào có cay đắng cũng cay đắng đến thế là cùng. Chị nhìn xuống màu vàng quánh trong chiếc ly, rồi qua thành ly chị bắt gặp bàn tay y cũng đang run rẩy. Những giọt bia trào ra ngoài nhỏ xuống ngực áo chị lạnh buốt.

– Thôi dẹp đi, ướt áo người ta cả.

Bắt đầu nói, cho dù nói bằng sự giận dữ đi nữa, tức là bắt đầu chấp nhận người đối diện mình. Y suy luận một cách dễ dàng như thế. Y đặt bàn tay xuống chỗ nào ướt của người đàn bà, miệng suýt xoa, nhưng tiếng nói chỉ còn là những âm thanh lắp bắp không thành lời. Người đàn bà nắm lấy bàn tay y định đẩy ra, nhưng chị lại giữ yên bàn tay đó trong tay mình, dù cho bàn tay đó bắt dầu không còn lễ độ nữa. Nó di chuyển trên khắp vuông ngực chị làm những cúc áo bật ra. Lúc đó người đàn bà mới vội vàng co rúm lại, đưa hai tay ôm lấy ngực và cúi người xuống. Nhưng dù sao vẫn đã quá muộn. Chị đã đốt chị và bây giờ ngọn lửa đang độ đỏ thắm.

Người đàn ông kéo chị đứng lên. Y ôm chặt lấy vòng lưng chị. Y cúi xuống hôn lên má, lên môi chị. Mái tóc chị xõa tung. Những lọn tóc vướng qua mặt, qua vai, qua ngực… Chị mơ hồ nhớ đến những cảm giác thật xa xưa, ngày người chồng chưa thoát ly. Cái cảm giác đó đã chết trong chị từ bảy năm qua bây giờ đang trở về khốc liệt trong vòng tay kẻ khác. Chị biết con đê cuối cùng ngăn giòng nước lũ sắp vỡ. Chị biết rõ ràng điều đó, khi chị nhận ra những ngón tay chị đang bấu riết đôi vai người đàn ông.

Y dìu chị bước qua một ngưỡng cửa. Căn phòng không có ánh sáng, nhưng ánh sáng từ phòng ngoài chiếu vào cũng đủ cho chị nhận ra những gối chăn trải sẵn trên giường. Còn gì quyến rũ hơn các thứ đó, khi hai người đã điên cuồng trong cảm giác.

Người đàn bà ngã xuống giường. Chị buông thả cho bàn tay y tự do trên các hàng nút áo quần chị. Chị biết con đê cuối cùng đã vỡ. Nước cuồn cuộn trào ra.

VI.

– Cháu phải tỏ ra mình đã lớn rồi. Con trai phải có đức tính con trai chứ. Cháu không biết ngày trước cha cháu và các chú…

Vũ ngắt lời ông nội:

– Cháu biết quá đi chứ, nhưng làm sao có thể so sánh như ông được, bởi hoàn cảnh cháu khác xa họ. Họ có ông bà nội thương, còn cháu thì không một ai cả…

– Vũ, tại sao cháu nghĩ như vậy? Ai cho phép cháu nói như vậy?

Ông già hốt hoảng thốt lên trong khi khuôn mặt đứa trẻ tối sầm lại. Đôi mắt hắn mở tròn, đăm đăm nhìn xuống đất và hai môi thì mím chặt…

– Cháu đã nghĩ như thế từ bao lâu rồi, Vũ?

Đứa trẻ trả lời từng tiếng căm phẫn:

– Kể từ khi cháu nhận ra cháu bị bỏ rơi, trong khi cha mẹ cháu vẫn còn sống như cha mẹ lũ trẻ khác.

– Ai bỏ rơi cháu đâu?

Giọng ông già run lên.

– Cha cháu. Ông bỏ rơi cháu. Một người cha thương con không bao giờ bỏ rơi con bơ vơ như vậy.

Ông già thở dài, im lặng một lúc lâu mới nhỏ nhẹ với đứa trẻ:

– Vũ, cháu đừng nghĩ như vậy. Cháu đang còn nhỏ, cháu phải chờ thời gian để có thể hiểu gia đình mình hơn. Nếu gọi là khổ, thì ông đây mới là kẻ khốn khổ nhất. Ông già thế này rồi mà đâu có được yên nghỉ. Một lần khóc hai chú cháu chết, một lần khóc cha cháu ra đi. Nước mắt người già tưởng như thế cũng đã quá nhiều…

Ông già khóc. Nước mắt làm ông nghẹn lại không nói thêm được. Vũ chợt ân hận về thái độ của hắn. Hắn dí ngón chân cái xuống nền nhà. Hắn cảm thấy bứt rứt muốn nói lên một điều gì nhưng lúng túng mãi. Cuối cùng hắn chỉ lắp bắp:

– Cháu xin lỗi ông nội.

Và bước nhanh ra khỏi nhà.

Những ngày mùa đông trôi qua thật buồn thảm. Đứa trẻ bắt đầu ít nói, suốt ngày lầm lũi với cỏ cây. Còn ông già thì băn khoăn vô cùng kể từ ngày khám phá ra sự bất an trong tâm hồn đứa cháu. Ông ngồi sững sờ hàng tiếng đồng hồ trước hiên nhà hoặc đi bách bộ trong vườn không ngừng nghỉ. Đầu óc ông nặng trĩu những ý nghĩ buồn phiền. Ông đã hiểu các khó khăn trong gia đình. Nhưng quái lạ, lúc nào ông cũng mang tâm trạng chờ đợi người giải quyết. Người đó là ai, ông không dám nghĩ và để hình ảnh kẻ vắng mặt tựu lâu trong trí.

“Rồi mày cũng phải trở về chứ? Phải về để lo cho con mày lớn lên. Phải về để còn kịp chôn cha mày. Thằng Vũ đã khôn. Ở xa mày, hắn lớn và khôn ra chóng quá…”

Những ý nghĩ tưởng có thể buột ra thành lời được. Ông già khổ sở về sự nôn nóng ngày trở về của đứa con trai. Nhưng cuộc sống hiện tại như giòng sông lặng sóng làm sự chờ đợi của ông tiếp tục mỏi mòn. Nhiều lúc ông hớt hải nhận ra thằng Vũ đã lớn. Chẳng còn bao lâu nữa hắn sẽ rở thành một thanh niên. Ông lo âu và cảm thấy tuyệt vọng rõ.

Trong khu vườn cằn khô trống trải, ông già và đứa trẻ suốt ngày như muốn tránh mặt nhau. Ông cố gắng thông cảm đứa cháu cô đơn của mình, nhưng ông biết không thể nào được. Tuổi trẻ ông không trải qua hoàn cảnh như hắn. Cuối cùng chỉ có một thái độ hợp lý nhất mà hai người cùng chọn lấy, đó là sự im lặng. Im lặng bất tuyệt trong sự chuyển động có thực của cuộc sống. Đứa trẻ ngoài sự thương yêu, hay thương hại ông nội mình ra, hắn không còn cảm thấy gì khác. Tâm hồn hắn suốt ngày lang thang trên khắp các ngọn cây và đêm xuống thì bay theo ánh trăng huyền ảo. Mơ mộng cũng giúp hắn giải thoát phần nào những trói buộc của cuộc sống. Trong phút chốc, dù cho sau đó những ý thức về thân phận mình có rõ nét hơn, đau đớn hơn chăng nữa.

Một hôm ông già quyết định gọi đứa trẻ vào đối diện mình, hỏi:

– Cháu muốn học tiếp ở trường quận hay muốn ông cho cháu lên tỉnh? Ông nghĩ có lẽ cháu nên lên tỉnh học hơn. Ở tỉnh, cháu sẽ được học thêm nhiều thứ mà ở đây không có.

Vũ cảm thấy bỡ ngỡ trước ý định của ông nội. Hắn chưa bao giờ nghĩ đến điều đó cả. Hắn chống tay vào cằm nghĩ ngợi.

– Trả lời ông đi. Cháu thấy thế nào?

Ông già có vẻ nôn nóng, trong khi Vũ vẫn nhìn ông nội, khuôn mặt lầm lì xa vắng như mọi ngày, nhưng lúc này có vẻ áy náy hơn. Hắn nói nhỏ:

– Ở thành phố cháu không muốn đâu. Ở đó đâu có ông nội, đâu có mẹ…

Ông già cúi mặt xuống với nét buồn rầu hơn là phiền muộn. Còn đứa trẻ vẫn với vầng trán lì lợm và đôi mắt lạnh nhạt không rời hình ảnh người thân yêu già nua trước mặt. Ông già chợt nghĩ đến đứa con dâu đã vắng nhà nhiều ngày mà cảm thấy chua xót thêm cho hoàn cảnh đứa cháu duy nhất của mình. Ông nói:

– Cháu phải lên tỉnh để học, ít ra cho hết bậc trung học. Ông đã nghĩ kỹ rồi. Ông sẽ lo đầy đủ cho cháu. Cháu cố gắng học. Kiến thức và thời gian sẽ giúp cháu thấu hiểu và hãnh diện về gia đình mình. Cháu sẽ hiểu cha cháu rất yêu thương cháu, và không bao giờ bỏ rơi cháu như cháu tưởng. Còn nhiều ý do khác mà cháu chưa phải lúc để biết tới, nên ông không nói ra. Cháu chỉ biết là cháu sắp phải sửa soạn để ra tỉnh học.

Vũ nuốt nước bọt im lặng. Một lúc sau, hắn cảm thấy có quá nhiều điều để van xin ông nội. Hắn không oán trách cha mình như ông đã nghĩ. Vũ biết, trong một phút phẫn chí, mình đã có những phán xét sai lầm. Nhưng hắn vẫn không kìm hãm lại được, vì có làm như thế sự đau khổ của hắn mới vơi đi phần nào. Vũ đã trả thù sự khổ đau của mình bằng cách làm cho mình đau khổ thêm, bi thảm thêm, để từ đó, trách nhiệm của người lớn đối với hắn cũng nặng nề và bối rối không kém. Điều ấy Vũ đã chứng nghiệm được qua những giọt nước mắt khốn khổ của ông nội khi nghe hắn oán trách cha mình. Vũ nói:

– Cháu không muốn ông sống một mình. Mẹ cháu đi buôn bán hoài. Có chuyến dài đến mười ngày, nửa tháng. Ông không thể ở một mình như thế được. Cháu không thể nào bỏ ông trong tình cảnh đó để lên tỉnh học được hết.

Ông già mở tròn mắt nhìn đứa trẻ. Những điều Vũ vừa nói làm ông vừa cảm động vừa lạ lùng. Có lẽ bởi thứ ngôn ngữ quá trưởng thành của hắn. Hắn không còn bé nhỏ nữa, như những người sống bên cạnh hắn vẫn tưởng. Bất giác ông già nắm chặt bàn tay đứa đứa cháu kéo lại gần mình và ông khóc. Những giọt nước mắt nhỏ xuống tóc Vũ. Hắn im lặng, biết ông nội đang nức nở, dù cho ông khóc thật âm thầm.

– Ông đừng khóc nữa. Cháu không thích ông khóc như vậy đâu.

Vũ vẫn cúi gằm mặt xuống đất. Hắn nói và nghe tiếng mình ngậm ngùi không thua gì nước mắt. Ông già nuốt nước bọt. Thật ra thì ông nuốt vội sự nghẹn ngào xuống cổ họng.

– Ông có khóc đâu. Có lẽ ông bị xúc động vì vui mừng nhận ra cháu trưởng thành. Mãi đến phút này ông mới nhận ra cháu đã lớn. Cháu đã lớn…

Ông già muốn nói tiếp, “Cháu đã lớn, tiếc là không có cha cháu ở đây để nhận ra sự phát triển thân yêu đó”, nhưng ông đã im lặng. Ông tránh nhắc đến người vắng mặt với đứa trẻ. Người vắng mặt, niềm yêu thương thân thiết âm ỉ thường xuyên trong lòng già nua của ông. Người vắng mặt, sự chi phối lớn lao cuộc sống bất ổn của cả một gia đình từ bao nhiêu năm qua. Ông không muốn Vũ, một đứa trẻ với tâm hồn hết sức nhạy cảm tiếp tục sống trong bầu không khí với nhiều kỷ niệm và cơ hội để liên tưởng đế người vắng mặt ấy.

– Cháu phải nghe lời ông. Ông biết quê nhà mình, nhất là với hoàn cảnh gia đình mình, không thích hợp cho sự phát triển của cháu. Cháu nên nghe ông lên tỉnh học. Ông sẽ  gửi cháu cho bác Toản. Bác ấy ít con. Mấy đứa trẻ cùng tuổi cháu. Và có lẽ cũng là bạn học của cháu đấy… Rồi cháu sẽ quen dần mà…

Ông già nói thiếu điều năn nỉ đứa trẻ. Thực ra những lý do ông nêu lên để hối thúc Vũ lên tỉnh học không phải là lý do chính. Thực lòng ông không muốn đứa trẻ hồn nhiên kia phải chứng kiến một cảnh đổ vỡ sắp xảy ra trong gia đình. Đêm hôm trước người đàn bà thức thật khuya chờ cho con ngủ say rồi mới run rẩy trong nước mắt trình bày với ông già về mối tình của chị với tên đồn trưởng. Chị muốn bước thêm bước nữa. Ông già ngồi chết lặng. Ông cũng run rẩy không kém gì người đàn bà. Câu chuyện chị trình bày bất ngờ quá. Từ ngày đứa con trai bỏ đi, biên giới giữa hai tiếng dâu con tưởng như xóa nhòa hẳn trong ông. Ông chỉ thấy người đàn bà với tất cả tình thương yêu ruột thịt, sống cạnh ông… Nhưng giờ phút này, thực tế như một gáo nước lạnh buốt xối thẳng vào mặt làm ông tỉnh hẳn. Người đàn bà đưa ra những lý do mà ông không cần phải nghe đến. Những lý do quá tầm thường. Ông già ngồi sững. Hình ảnh thằng Vũ xoáy lấy đầu óc ông. Ông biết cháu mình đã một lần khổ vì thiếu cha, bây giờ thêm một lần khổ nữa vì mất mẹ. Người đàn bà nói, nhưng đến một lúc nào đó rồi cũng phải im lặng khi người đối diện mình với thái độ im lìm khinh bỉ đến bất động như tượng đá. Sau cùng đến lượt ông già lên tiếng ngắn ngủi: “Quyền chị. Tôi tiếc chị đã quyết định quá sớm và có vẻ vội vàng…”

Ông già bỏ đi nằm và băn khoăn không ít về về hai tiếng “quá sớm” mà ông đã nói với người đàn bà. Quá sớm ư? Cung, người con trai của ông bỏ đi từng ấy năm rồi mà ông còn bảo là quá sớm ư? Ông còn muốn đứa con dâu mình chờ đợi Cung đến bao giờ nữa? Ông già trong đêm đó đã vói tay nắm một bờ vai của đứa trẻ và khóc âm thầm. Chỉ tại cha con bỏ đi. Chỉ tại đất nước đang cần lặp lại những tiếng độc lập, với cách mạng, đấu tranh… Chỉ tại… Chỉ tại…

Ông già tin là sẽ thuyết phục được Vũ vâng lời ông, trong khi Vũ đang suy nghĩ tại sao ông lại muốn hắn sống xa nhà, khi gia đình vẫn đơn chiếc. Trước đó hắn có loáng thoáng thắc mắc về việc buôn bán của mẹ. Những chuyến buôn mới của bà liên tục nối nhau. Chỉ cách một hai hôm mẹ lại đi, có khi hàng bán chưa hết nữa. Với cái đà này, Vũ mơ hồ nghĩ tới một ngày nào đó, các chuyến đi của bà sẽ dính liền lại để tạo thành một chuyến đi vĩnh viễn. Mẹ không bao giờ còn trở về nữa.

Trong tâm trạng mệt mỏi, Vũ nghĩ có lẽ mình nên lên tỉnh học. Ít ra điều đó cũng làm vui lòng ông nội, giữa lúc này.

(còn tiếp)

Bình luận

Không có bình luận (bài “Lữ Quỳnh – Những cơn mưa mùa đông (kỳ 3)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>