Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 5)
02/07/2010 | 12:00 chiều | 1 bình luận
Category: Chính trị - Xã hội, Kinh tế - Môi trường
Thẻ: đồng bằng sông Mê Kông
Đặng Thế Truyền dịch
Những hoạt động trong và ngoài nghề nông
Nông thôn không chỉ là nơi canh tác nông nghiệp, mà còn nhiều hoạt động khác nữa. Những hoạt động ở làng Châu Giang, từ Châu Đốc qua sông Hậu đến một hòn cù lao chỉ có thể đi lại bằng thuyền, cho chúng tôi thấy một loạt cách thức kiếm sống của người dân nông thôn. Cuộc sống ở đây gồm các cửa hàng lương thực, kể cả rau và các quầy giết mổ gia súc theo phong tục đạo Hồi, những người bán thực phẩm cố định và lưu động; những nơi giải trí như quán rượu đế, quán cà-phê video, và các phiên chợ nổi; các quầy tạp hoá và dịch vụ như buôn chuyến, dịch vụ vận tải đường bộ và đường sông, cho thuê điện thoại công cộng, cho thuê thiết bị karaoke, bán vé số, cho vay, dịch vụ ảnh và video, cho thuê bàn ghế và dịch vụ sửa chữa; các nghề chủ yếu do phụ nữ làm như dệt, nhuộm vải, may, thêu, làm đầu, việc nội trợ; làm việc cho chính phủ, sản xuất và chế biến như đóng đồ gỗ, đóng quan tài, đóng thuyền, xây nhà, chế thuốc nam, làm nước đá, và chế biến thực phẩm (sản xuất nước mắm và chượp); các công việc điền thổ như đào mương và nạo vét sông; chăn nuôi (đại gia súc, lợn, gà, vịt); nuôi trồng thuỷ sản ngoài đồng, kênh mương, ao hồ, nuôi thuỷ sản trong lồng hay trên bè nổi; săn bắn và thu lượm các loại thuỷ sản; đánh bắt cá bằng lưới, bằng xiên, lờ đó và trồng cấy lúa, đậu tương và ngô. Thực tế tất các các loại công việc này, ngoài những việc làm cho chính phủ, là hoạt động của hộ gia đình, dưới sự phân công của những người trong họ hàng.
Như chúng ta đã thấy, một trong các mục tiêu của các chính sách công nghiệp hoá nông thôn là xây dựng các ngành công nghiệp tạo giá trị gia tăng và sử dụng nhiều lao động ở các vùng nông thôn. Lợi thế so sánh của các vùng không thuận tiện cho nhà đầu tư này nói chung là khả năng tiếp cận với sản phẩm đầu ra của nông nghiệp, chăn nuôi và rừng. Điều đó dẫn tới việc tập trung vào chế biến nông sản, và coi đó là mục tiêu đặc biệt của các kế hoạch công nghiệp hoá nông thôn. Tuy nhiên, như trường hợp của Châu Giang cho thấy, canh tác không phải là hoạt động duy nhất ở các vùng nông thôn. Tương tự như vậy, các hoạt động tạo ra giá trị và sử dụng lao động ở vùng nông thôn không chỉ hạn chế trong lĩnh vực chế biến nông sản.
Một số hoạt động thu hút nhiều lao động nông thôn nhất không phải là các ngành sản xuất mà là các ngành dịch vụ phục vụ tiêu dùng. Ví dụ, khách du lịch ở vùng đồng bằng sông Mê Kông có thể ẩm thực ở một dãy nhà hàng rộng như nhà kho với quy mô công nghiệp mọc lên giữa các trung tâm dân số, phục vụ các món ăn địa phương sạch sẽ, nhiều dinh dưỡng, nhanh và rẻ. Mỗi nhà hàng thuê một đội quân nhỏ người lao động. Những nhà hàng này đồng thời là nơi bày bán nhiều loại đặc sản đã chế biến của các gia đình địa phương. Trên quy mô nhỏ hơn nhưng đông đảo hơn là hàng ngàn quán cà-phê dọc hai bên đường giao thông ở vùng đồng bằng, và tụm lại ở những chỗ đường giao nhau, ở ngã ba sông và chợ. Do phụ nữ quản lý, các quán cà phê lớn thuê tới vài phụ nữ. Chợ cũng là nơi cung cấp nhiều việc làm cho phụ nữ. Mỗi xã có ít nhất một chợ với nhiều quầy hàng, ngoài ra còn có các chợ ngoài trời với các quầy bán hàng lặt vặt. Cuối cùng, nhiều nơi ở đồng bằng sông Mê Kông đang tự biến thành nơi đến của khách du lịch quốc tế và trong nước. Những người địa phương khéo léo quay những chiếc bàn theo mẫu của người ngoài cuộc của vùng đồng bằng, tự tiếp thị mình là đại diện của sự mộc mạc của thiên nhiên, của nền văn hoá nông thôn đích thực, của các truyền thống không thay đổi và kinh nghiệm tôn giáo đã được nâng cao.
Các làng nghề thủ công ở đây không phát triển bằng ở châu thổ sông Hồng. Tuy nhiên có một số vùng tập trung các ngành nghề khác nhau, sử dụng các kỹ thuật đặc biệt và nguồn lực địa phương. Một trong những trung tâm như vậy ở gần Sa Đéc, thực sự là ở giữa trung tâm của đồng bằng, tại đó tập trung người làm nghề sản xuất hương, gạch nung, ngói, kho gạo, ươm cá giống, chế biến thực phẩm, sản xuất kẹo sữa, trồng hoa và cây cảnh để bán. Một số vùng chuyên đóng thuyền với quy mô lớn, như Phụng Hiệp ở tỉnh Cần Thơ. Nhiều vùng khác tập trung vào chế biến và phân phối chỉ một đặc sản địa phương, như rượu đế, kẹo dừa hay cá muối, hoặc phục vụ một món đặc biệt như thịt cầy bảy món hay hải sản.
Một vài ngành công nghiệp nông thôn quan trọng nhất không cố định ở một nơi. Vận tải là một ngành như vậy. Ngành này rất phát triển ở vùng nông thôn và sử dụng nhiều lao động, từ lái xe, phụ xe, đến người bán vé, thợ sửa chữa và người bán hàng ở bến xe. Bất chấp việc làm đường đang diễn ra, vận tải thuỷ vẫn là ngành sử dụng nhiều lao động nhất ở đồng bằng sông Mê Kông, như trong trường hợp các ngành công nghiệp dựa trên sông nước, ví dụ khai thác phù sa, thuỷ sản và đánh bắt cá. Một trong những con đường chắc chắn nhất đi đến giàu có ở khu vực là chiếm được vị thế độc quyền trong nền kinh tế lưu động này. Trong số những người giàu nhất ở đồng bằng là chủ các trạm xăng, chủ đội xe hay tàu thuyền, người buôn xe máy, chủ nhà kho, các đội lao động dịch vụ lưu động, các nhà thầu san lấp mặt bằng và vận chuyển đất, và như nhiều người dân địa phương chứng nhận, là cảnh sát giao thông.
Người dân Châu Giang thực hiện các hoạt động kinh tế gia đình đa dạng, mà nhiều cấu phần của nền kinh tế đó liên tục được điều chỉnh để phù hợp với tình hình luôn biến đổi tại địa phương và nơi khác. Ví dụ việc bán mũ thêu sang Malaysia gần đây đã thay thế cho nghề dệt khăn để bán cho các cộng đồng Khmer nông thôn. Các hộ gia đình giữ lại một mảnh đất nhỏ để tự cung tự cấp, nhưng đó ít khi là nguồn thu nhập chính. Vào bất kỳ lúc nào trong năm cũng có một phần lớn người Châu Giang đang làm ăn ở nơi khác: buôn bán hay làm thuê trong các ngành dịch vụ và chế tạo ở Châu Đốc hoặc nơi xa hơn. Vì vậy, thu nhập từ hoạt động buôn bán và làm đồ thủ công ở địa phương bổ sung thêm cho thu nhập từ các nơi khác. Những người buôn chuyến đặt cơ sở ở làng này để tìm hiểu một mạng lưới khách hàng nhất định ở một nơi nào đó, và mặt hàng họ bán thay đổi theo giá cả tại chỗ và nhu cầu của khách hàng. Những người buôn quần áo Chàm liên kết với nhà thờ Hồi giáo Mubarak ở Châu Giang có quan hệ chặt chẽ với nông dân Khmer sống cách xa đó 150 km tận Trà Vinh, mà họ bán chịu cho những người này dép cao su và áo sơ mi đã qua sử dụng. Khoản thu nhập từ các hoạt động này trợ giúp cho những người trong gia đình vẫn sống ở quê, cũng như giúp đỡ các cơ sở tôn giáo cộng đồng, những nơi dậy dỗ con em họ.[1]
Phần lớn sức sống của các vùng nông thôn Việt Nam là nhờ hoạt động trao đổi rất sôi động giữa họ với các trung tâm đô thị gần đó. Mỗi một trung tâm đô thị của Việt Nam đều gắn kết với một vùng nông thôn theo cách riêng. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập kết hầu hết lượng hoa quả và gạo trồng ở vùng đồng bằng sông Mê Kông, phục vụ nhu cầu tiêu dùng, chế biến, tiếp thị và xuất khẩu. Nó đóng vai trò cửa ngõ chính về vốn, hàng tiêu dùng và dịch vụ nhập khẩu vào vùng đồng bằng. Thành phố và các khu công nghiệp xung quanh cũng sử dụng nhiều người nhập cư từ khu vực này. Một số người làm việc trong các nhà máy ở thành phố chế biến thực phẩm xuất khẩu được nuôi trồng ở quê hương họ, một số khác làm việc trong ngành dịch vụ ở thành phố như trường hợp của Khiên. Góp thêm giá trị cho các sản phẩm từ khu vực đồng bằng, những người dân nhập cư này cũng gửi tiền kiếm được ở thành phố về quê, góp phần nâng cao vị thế kinh tế, xã hội của vùng châu thổ. Dù khai thác nền giáo dục mà họ nhận được ở quê, gửi con về quê để người thân nuôi nấng, hay chăm sóc người ốm và người già trong gia đình, thì người dân đồng bằng sông Mê Kông vẫn phải dành một phần lớn thu nhập để trang trải các chi phí xã hội ngoài thành phố. Hiện người thành phố lo ngại rằng nến không giảm bớt thì dòng người nhập cư từ nông thôn sẽ làm phương hại tới mức sống của họ. Tuy nhiên, kinh tế nông thôn và thành thị đan xen vào nhau tới mức những gợi ý về việc tách biệt này, ngay dù có thể thực hiện được, cũng sẽ tự thất bại.
Chủ nghĩa xuyên quốc gia phi tập trung
Nói rằng hai thành phố lớn nhất của Việt Nam đã thay đổi lớn lao ở khu vực có những liên kết hội nhập toàn cầu và đa dạng này là điều không mới. Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là các trung tâm đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế, căn cứ của các công ty và tổ chức nước ngoài, địa điểm của những thử nghiệm hồ hởi và đầy thách thức với những nguồn ý tưởng mới, những ảnh hưởng về văn hoá và lối sống.[2] Ngược lại, nông thôn Việt Nam thường được mô tả là vùng sâu trong đất liền, vùng xa, biệt lập, và dù tốt hay xấu, tách biệt khỏi những tác động của thế giới bên ngoài.[3] Nhưng nếu chúng ta nhìn bản đồ, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng rất xa biên giới quốc tế. Vì hình dáng đặc biệt của mình, hầu hết vùng nông thôn Việt Nam gần với các nước khác hơn là các trung tâm được coi là đô thị. Những vùng được mô tả là “vùng sâu, vùng xa”, về ý nghĩa vật lý và địa lý thô thiển, ít xa xôi hơn những người dân đô thị.
Dân vùng đồng bằng sông Mê Kông không tiếp cận được các sân bay quốc tế. Hầu hết không có tiền đi máy bay. Tuy nhiên, họ rời quê hương mình thường xuyên hơn những người có điều kiện và khả năng đi máy bay. Ít người vùng đồng bằng này gặp được người đến từ Hà Nội, đừng nói là đến tận thủ đô, nhưng họ lại tận dụng hết lợi thế của họ trong việc ở gần biên giới. Căm-pu-chia tràn ngập người đến từ khắp nơi ở đồng bằng sông Mê Kông. Biên giới này rất dễ qua lại, không cần giấy thông hành chính thức, và lái thương, công nhân qua lại biên giới rất nhộn nhịp theo cả hai hướng. Thông tin không phải là vấn đề. Nhiều người ở đồng bằng sông Mê Kông nói được tiếng Khmer của Căm-pu-chia và tiếng của người Tèo Châu. Những người không nói được hai thứ tiếng này thì dùng tiếng Việt, được sử dụng rất phổ biến ở đó. Trinh, một cô gái 23 tuổi từ tỉnh Bạc Liêu, không biết viết tiếng Việt. Nói thành thạo tiếng Quảng Đông và tiếng Khmer, cô làm việc tại một quá cà phê Trung Quốc tại Phnôm Pênh để kiếm tiền cho em cô ở Bạc Liêu học tiếng Việt, và dành dụm cho kế hoạch đi thăm miền nam Trung Quốc của bản thân cô.
Người Chàm ở tỉnh An Giang là người đi lại nhiều nhất trong khu vực đồng bằng. Mặc dù họ sống ở những cụm dân cư nhỏ bé trên các cù lao ở sông Mê Kông, và nổi tiếng là khép kín, người Chàm thường xuyên sang Căm-pu-chia, Thái Lan và Malaysia. Đã nhiều đời nay, qua các chuyến du ngoạn với tư cách là học giả tôn giáo, họ đã tới các nước này, và là người hành hương, tới cả Trung Đông. Đi bán hàng rong, mỗi lần đi họ vắng nhà hàng tháng trời, đến tất cả các tỉnh ở đồng bằng sông Mê Kông, thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng miền Trung, vùng cao nguyên, đồng bằng sông Hồng, và sang tận Trung Quốc. Trong các chuyến đi ở địa phương và đi xa, họ vận chuyển trong một mạng lưới xuyên quốc gia bao gồm phần lớn Đông Nam Á và xa hơn nữa. Họ nói thạo tiếng Việt, một số người mà tôi gặp nói được bảy thứ tiếng và viết được ba bốn thứ tiếng. Chính sách của các chính phủ Malaysia, Thái Lan và Căm-pu-chia cũng quan trọng đối với họ như mối quan hệ họ duy trì với các trung tâm văn hoá và kinh tế của Việt Nam: các thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh.[4]
Một địa điểm tập trung nhiều người nông thôn Việt Nam nữa là vùng đồng bằng dọc theo ven biển. Australia đã trở thành tổ ấm cho một số đông người đến từ các vùng ven biển Việt Nam, từ Hà Tiên đến Quảng Ninh. Những người này sống trên biển, có tàu thuyền, thạo việc đi biển, và khi cuộc sống ở Việt Nam trở nên quá khó khăn, nhiều người đã nhổ neo tìm đến một bến đậu khác ở khu vực, như Hồng Kông, Indonesia hay Philippine, và từ đó tới Australia. Khi làm như vậy, họ vẽ lại các tuyến đường biển mà nó kéo lùi thời gian của sự hội nhập của họ vào khu vực trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Toàn bộ bờ biển Việt Nam mang dấu ấn của làn sóng xuyên đại dương gần đây nhất. Nhà, xe cộ, tàu thuyền, nhà kho, các cơ sở chế biến mới và tất cảc doanh nghiệp thuộc đủ loại đã được mua sắm, xây dựng bằng tiền của những người ra đi gửi về. Tài sản và quyền lực của các quan chức địa phương ở vùng ven biển cũng được nâng lên bởi các giao dịch trên nước này, mà các nhà nghiên cứu lịch sử nói rằng có tầm quan trọng cốt tử đối với sự hình thành quốc gia trong nhiều thế kỷ.[5]
Tình hình ở vùng núi Trung bộ Việt Nam, vùng đông bắc và tây bắc cũng tương tự như vậy. Người Hmong, người Dao, người Thái, người Kinh, người Lào và người Hán nằm trong số rất nhiều người vượt qua các biên giới của Việt Nam, Vân Nam và Lào.[6] Rừng núi không ngăn cản được sự di chuyển qua biên giới, hiện vẫn tiếp diễn với các mô hình di cư và thương mại cổ xưa, bất chấp các chính sách định cư. Sự di chuyển này phát huy các mạng lưới hiện tại, kiến thức của nhiều địa phương, và làm quen với các ngôn ngữ được sử dụng ở hai bên khác nhau đường biên giới. Những người sống ở đồng bằng sông Hồng có thể tiếp cận vài cửa khẩu biên giới với Trung Quốc, mà qua đó con người và hàng hoá lưu thông không chính thức, đôi khi với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương.[7] Có những mối quan hệ xã hội và văn hoá sâu sắc giữa phần lớn vùng nông thôn bắc Việt Nam với các nước trong khối Xô-viết cũ, một cuộc hành trình của chủ nghĩa xuyên quốc gia không có ở phần phía nam của đất nước.
Theo cách nhìn của hầu hết người dân nông thôn Việt Nam, nơi mà người dân bị cuốn hút vảo các mạng lưới xuyên quốc gia đa dạng và có nhiều kinh nghiệm về đô thị, thì có vẻ chính người dân ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lại xa xôi, cách biệt và thiếu sự hiểu biết về các ngôn ngữ và văn hoá khác nhau. Nếu coi nông thôn là kém cỏi so với các trung tâm đô thị được công khai thừa nhận là có tính thế giới hơn, tức là không nhìn thấy những mạng lưới xuyên địa phương rõ biệt thông qua đó các vùng nông thôn hội nhập với nhau. Sự giàu có của nông thôn Việt Nam trong các mối liên kết xuyên quốc gia không chỉ góp phần vào sự năng động kinh tế của đất nước mà còn đóng góp cho sự đa dạng văn hoá mà nhờ đó Việt Nam rất nổi tiếng.
Quả vậy, một giải thích quan trọng về đặc tính thế giới của các thành phố của Việt Nam là các vùng đô thị này đã được định cư bởi người nông thôn để mở rộng và bổ sung cho các mạng lưới xuyên biên giới. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi là nơi các cô gái nông thôn đồng bằng sông Mê Kông có thể gặp người chồng tương lai của mình từ nông thôn Đài Loan, hay là nơi số sinh viên tiếng Trung ngày càng đông đến dự thi môn tiếng Trung. Đó là nơi người Hồi giáo từ An Giang gặp gỡ các đạo hữu từ Malaysia và nhận tài trợ từ A-rập Xê-út để đến Mecca và tôn tạo nhà thờ Hồi giáo ở quê hương họ. Các nhà sư Khmer từ Sóc Trăng tụng kinh Phạn tại hai chùa Khmer chính của thành phố cầu siêu cho những người thân ở nước ngoài đã quá cố của dân thành phố. Những người dân ở “quận tây ba lô” Phạm Ngũ Lão, mà nhiều người trong đó xuất thân từ các vùng nông thôn ven thành phố Hồ Chí Minh, học tiếng Anh bằng cách tiếp xúc với khách du lịch ít tiền tại nơi làm việc của mình. Mặc dù thường là vô hình và đôi khi bị mang tiếng xấu, những mạng lưới xuyên biên giới được duy trì bởi người nông thôn ở vùng đô thị của Việt Nam đóng góp to lớn vào sức sống và bản sắc của cuộc sống đô thị. Nếu bỏ nó đi, có thể người ta sẽ chẳng còn lại được gì đáng kể.
(còn tiếp)
Bản tiếng Việt © 2010 Đặng Thế Truyền/JVS
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
[1] Để có thêm chi tiết về các hoạt động kinh tế xuyên địa phương của người Châu Giang và các khu định cư người Chàm kề bên, xem tác phẩm của Taylor, “Economy in Motion: Cham Muslim Traders in the Mekong Delta,” The Asia Pacific Journal of Anthropology 7, no. 3 (2006): 237–250.
[2] Lisa Drummond and Mandy Thomas, eds., Consuming Urban Culture in Contemporary Vietnam (London and New York: RoutledgeCurzon, 2002).
[3] Để có thêm hình ảnh về đô thị và nông thôn Việt Nam, xem tác phẩm của Taylor.
[4] Ý kiến thảo luận này cũng tóm tắt các lập luận nêu trong tác phẩm của Taylor.
[5] Nola Cooke and Tana Li, eds., Water Frontier: Commerce and the Chinese in the Lower Mekong Region, 1750–1880 (Boulder, CO: Rowman and Littlefield, 2004); Charles Wheeler, ‘Rethinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận-Quảng, Seventeenth-Eighteenth Centuries,’ Journal of Southeast Asian Studies 37, no. 1 (2006): 123-153.
[6] Để thấy bức tranh về sự di chuyển qua biên giới, xem tác phẩm của Đậu Tuấn Nam, “Tình hình di dân tự do của người Hmông ở miền tây Thanh Hóa và Nghệ An hiện nay,” Dân Tộc Học 3, no. 141 (2006): 30–35. Một số nghiên cứu về các mạng lưới xuyên biên giới của người Kinh, Hán và Hmong ở vùng núi bắc bộ có trong tác phẩm của Grant Evans, Christopher Hutton và Kuah Khun Eng, eds., Where China Meets Southeast Asia: Social and Cultural Change in the Border Regions (Copenhagen: NIAS, 2000). Đồng thời xem Mekong Migration Network and Asian Migrant Center, Resource Book: Migration in the Greater Mekong Sub-Region, 2nd ed. (Hong Kong: Asian Migrant Centre, November 2005).
[7] Xem phần sự đóng góp của thương mại biên giới Việt-Trung trong tác phẩm của Evans và các tác giả khác. Where China Meets Southeast Asia, 72-97; 236-253.
Bình luận
1 bình luận (bài “Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 5)”)
Bài viết chắc còn dài và rất hấp dẫn đối với tôi. Cám ơn nhiều tác giả, người dịch và talawas đã cho tôi cơ hội biết đến một công trình đáng nghĩa trân trọng.
Trên những phương tiện truyền thông cùng bè “định hướng” trong nước, ngoài những bộ gõ râm ran kêu như pháo “sự liêm chính, cái tâm phải trong sáng, vượt lên chính mình” của những “trí thức bất lực” (hay đúng hơn là “bị thiến”) chờ “may báo cáo hay đắn đo cân nhắc con số” tôi chưa từng thấy bài nào công phu viết từ những dữ kiện nghiên cứu đúng “quy tắc nghệ thuật” như thế này. Sự thật là sự thật chẳng cần phải “bơm, chích, đốp” để lòe thiên hạ rằng ta hơn mình.
Ở phần chỉ đến chỗ trích dẫn kỳ 1 số [7] thú thật là lần đầu tiên tôi mới được biết chữ “nhân học”, tra lùng mãi mới hiểu ra chính xác từ tiếng Việt, dù có ngờ đồ rằng những môn anthropology, ethnology, economy, sociology này nọ ngày nay cũng “lấn đất qua lại” (intertwine) với nhau nhiều lắm. Một lần nữa xin cám ơn nhiều các hành giả.