Julius Caesar (Xê-Da) [vs. “Xê-Ra”]
04/04/2009 | 4:21 chiều | 2 Comments
Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: Caesar
Rất nhiều người biết người Nga & và các nước dùng ngôn ngữ Slav gọi các hoàng đế của họ là Tsar/Czar (Tsar cuối cùng là Simeon II [1937~] trị vì Bulgaria từ 1943 đến 1946); lắm người biết người Đức thì gọi các hoàng đế của mình là der Kaiser/Kaisar (đến cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại của Đức Franz Beckenbauer cũng được tôn vinh là “der Kaiser”); một số người biết trong thần thoại các nước Bắc Âu có vị vua huyền thoại Kjárr; và, chắc hẳn gần hết loài người biết đến cái tên Caesar. Nhưng tôi dám chắc hiếm người biết rằng những cái tên đó có liên quan với nhau. Vì cái tên Caesar từ một tên riêng của một người khi còn sống thì cũng chỉ thông thường như mọi tên khác nhưng đã trở thành một tước hiệu khi người đó chết đi, và đã trở thành một danh hiệu mà các hoàng đế/vua sau này dùng để làm niên hiệu cho đến tận thế kỷ XX! Thậm chí Kinh Thánh cũng không thể bỏ qua ông với câu châm ngôn nổi tiếng nhân loại: “Những gì của Caesar lại trở về với Caesar, và của Chúa lại trở về với Chúa.”
Gāius Jūlius Caesar (phát âm như “Gai-us Giu-li-us Xê-da”; trong tiếng Latin như “Khai-xơ”; 12/13.7.100 TCN – 15.3.44 TCN) là ai thì ai ai mà chẳng biết, nếu chưa biết thì cứ việc đi tìm các từ điển khác mà đọc, nên khỏi phải ngôn gì. Đại ý thì thế này:
– là một lãnh tụ quân sự và chính trị của La Mã;
– là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử thế giới;
– đóng một vai trò then chốt trong sự chuyển đổi Cộng hòa La Mã thành Đế chế La Mã:
– cuộc chinh phục xứ Gaule (bao gồm Pháp, Bắc Ý, Bỉ, Tây Thụy Sĩ… ngày nay) của ông mở cho La Mã con đường tiếp cận Đại Tây Dương;
– là người phát động cuộc xâm lăng đầu tiên của La Mã vào xứ Britannia (nước Anh ngày nay) năm 55 TCN;
– là một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất (xếp vào ngang hàng với Alexander Đại đế [xem vần A], Hannibal, Thành Cát Tư Hãn và Napoléon Bonaparte [người Việt Nam thường đồn nhau rằng Hoàng đế Quang Trung và Tướng Giáp cũng có tên trong cái topless, sorry, top-list này]), chính trị gia xuất sắc nhất và là một trong những lãnh tụ vĩ đại nhất của lịch sử thế giới thời La Mã cổ đại;
– Vào năm 42 TCN, hai năm sau khi Xê-da bị mưu sát, Viện Nguyên lão La Mã chính thức thánh hóa, xem ông là một trong những vị thần của La Mã.
Xê-da còn có các danh hiệu này:
– Divus = Thần linh (được tôn sau khi chết)
– Pater Patriae = Quốc phụ
– Pontifex Maximus = Đại giáo chủ
– Corona Civica = “Dân miện” (ĐT tạm dịch thế)
Xê-da hiển hách như thế nên ngoài việc bị ám sát chết thì quân tiểu nhân đố kỵ còn ám sát ông về mặt nhân thân. Mặc dù ông có nhiều vợ và nhiều con cháu cùng với những nhân tình nổi tiếng cỡ Nữ hoàng Cleopatra VII hay Nữ hoàng Eunoë của xứ Mauretania, bọn khốn nịn vẫn vu cho ông mắc bệnh đồng tính ái. Bọn chúng vung chuyện ông cặp kè với Nicomedes IV xứ Bithynia và Octavian (chính Marcus Antony đã vu khống vụ này). Từng có lời kể rằng một số người lính đã từng chế giễu Xê-da bằng cách hát các câu có nội dung như sau: “Xê-da đã chinh phục xứ Gaule; nhưng Nicomedes đã chinh phục Xê-da mất rồi.” Có tin đồn rằng ông và Nicomedes từng có mối quan hệ đồng giới khi ông mới bắt đầu sự nghiệp của mình.
Ngài có duyên nợ gì với văn chương không? Thưa, Xê-da rất thường viết các tác phẩm văn học. Ông xem nó như là một cách để tăng sự ủng hộ của dân chúng thành La Mã dành cho ông. Và dường như cách nghĩ này của ông đã đúng. Ông còn là một nhà hùng biện trứ danh. Đến Cicero (106 TCN – 43 TCN) lừng lẫy mà còn phải ca ngợi tài hùng biện và văn phong của Xê-da. Quả thật là một bậc đại văn đại vũ song tuyền! Thật tiếc rằng phần lớn các tác phẩm và các bài nói của ông đã thất lạc L.
Các tên sách sau là các tác phẩm còn lưu lại của ông:
– Commentarii de Bello Gallico (Hồi ký về cuộc chinh phạt xứ Gaule và Britania)
– Commentarii de Bello Civili (Hồi ký về cuộc nội chiến – kết thúc ở cái chết của Pompey tại Ai Cập)
Các tác phẩm sau đây được tin là của ông:
– De Bello Alexandrino (Chiến dịch Alexandria)
– De Bello Africo (Chiến dịch Bắc Phi)
– De Bello Hispaniensis (Chiến dịch ở bán đảo Iberian)
Trên hết, Xê-da để lại một câu nói bất hủ: Vēnī, vīdī, vīcī.
– Người Anh dịch: I came, I saw, I conquered;
– ĐT dịch sang tiếng Anh: I have come, I have seen, and I have conquered;
– Tiếng Afrikaans (của người Hà Lan và người Âu sống ở Nam Phi và Namibia): ek kom, ek sien, ek oorwin;
– Tiếng Ba Lan: przybyłem, zobaczyłem, zwyciężyłem;
– Tiếng Bồ: vim, vi, venci;
– Tiếng Đan Mạch: Jeg kom, jeg så, jeg sejrede;
– Tiếng Hà Lan: ik kwam, ik zag, ik overwon;
– Tiếng Iceland: ég kom, ég sá, ég sigraði;
– Tiếng Na Uy: Jeg kom, jeg så, jeg erobret;
– Tiếng Nga: пришёл, увидел, победил (prišól, uvídel, pobedíl);
– Tiếng Nhật: 来た、見た、勝った (きた、みた、かった, kita, mita, katta)
– Tiếng Pháp: je suis venu, j’ai vu, j’ai vaincu;
– Tiếng Phần Lan: tulin, näin, voitin;
– Tiếng Tây Ban Nha: llegué, vi y vencí;
– Tiếng Thụy Điển: jag kom, jag såg, jag segrade;
– Tiếng Trung: 我来到,我看见,我征服 (wǒ láidào, wǒ kànjiàn, wǒ zhēngfú);
– Và tiếng Việt [đại ý]: tôi đã đến, tôi đã thấy và tôi đã chinh phục.
Vēnī, vīdī, và vīcī là những dạng thức chia ở thời hoàn thành cho ngôi thứ nhất của ba động từ Latin: veniō, venīre; videō, vidēre, và vincō, vincere. Nghe nói Ngài đã viết vẻn vẹn mỗi câu này trong một message (không biết là gửi dưới dạng telex, fax hay SMS… nữa, mong các học giả minh định) gửi về La Mã sau chiến thắng trước đoàn quân oanh liệt của Vua Pharnaces (Φαρνάκης) II xứ Pontus (Pontos/Πόντος) ở đông bắc Anatolia (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Anadolu, tiếng Hy Lạp: Ανατολία, Anatolía hay còn gọi là Tiểu Á, chiếm phần lớn nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) tại trận Zela ở Zile (có tài liệu ở Việt Nam phiên âm thành Zí-lờ). Lại nghe đồn sau khi chinh phục xong nước Anh vào năm 55 TCN thì Ngài đã nói câu này khi rời nước Anh. Thật là oách nhưng rách việc! Nhưng từ từ hẵng…
Trước hết có thể nói Xê-da là một trong những tay chơi nghệ thuật ngôn từ lặp lại phụ âm đầu (alliteration) hiếm hoi đầu tiên trên thế giới, sau đó mới đến người Bắc Âu xài các thứ tiếng thuộc gốc Đức cổ (với “Hávamál”, Hildebrandslied, Muspilli, die Merseburger Zaubersprüche, Wessobrunner Gebet, Heliand và nhiều tác phẩm khác), người Anh (với Beowulf, William Langland, William Shakespeare, John Milton, Alfred Tennyson, Rudyard Kipling và nhiều nữa), người Mỹ (với Edwin Markham, Robert Frost, W. H. Auden, Ezra Pound, Richard Wilbur…) và bây giờ là Đặng Thân[1] (người Việt Nam, dân tộc “Kinh”, phát tích từ “Hành Thiện”, thần dân của Ngọc Hoàng, con dân của “Ngọc Hành” J).
Người ta nói rằng Xê-da ngôn như thế vì Ngài đã xem thường các bậc nguyên lão ở “Ủy ban Thường vụ Quốc hội” La Mã, những người chẳng hề quan tâm mấy đến những công dân “hạng bét” trong “khu vực bầu cử” của “đại biểu quốc hội” Xê-da. Tuy nhiên, ai cũng thấy rõ đấy là câu nói “hay nhất mọi thời đại” của một danh tướng bất khả chiến bại, bách chiến bách thắng! Một người bình thường nói câu ấy thì ai thèm nhớ. Chỉ có Xê-da! Nhờ có Xê-da mà câu nói ấy mới thành tài sản chung của nhân loại, thể hiện ý chí quyết chiến quyết thắng, anh hùng vĩ đại, bất khuất quật cường, trung dũng hiếu… hỉ (Chẳng hạn như cũng phải nhờ có V.I. Lenin thì thiên hạ mới nhớ cái câu vớ vẩn “học, học, và học” [trong khi các bậc Đại Bồ Tát và A La Hán chủ trương “vô học”, Lão-Trang chủ sự “vô vi”]; nhờ có Quản Trọng mà mới có câu thiên hạ nhớ mấy ngàn năm nay: “Kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu”; nhờ có Mao Trạch Đông ta mới biết “trí thức là cục phân”; nhờ có Tùy Viên [Viên Mai] từ đời Càn Long ta mới biết “lập thân tối hạ thị văn chương”; cũng như cái paradox rất An-nam-mít là ta thường thấy người ta chăm đánh răng cho trắng mà sao Quang Trung lại bảo “đánh cho để đen răng”…)
Câu nói bất hủ của Xê-da có thể áp dụng được cho nhiều việc lắm chứ không chỉ để gây chiến: khi bạn đi du lịch, khi bạn đi leo núi, khi bạn ký kết hợp đồng, khi bạn thăng quan tiến chức, khi bạn làm phóng viên nhà báo, khi bạn đi shopping (ở các siêu thị lớn chẳng hạn), khi bạn đi mua nhà (hay đến “nóc nhà Đông Dương”), khi bạn đi mua xe hơi, khi bạn bị đầy hơi, khi bạn bị Tào Tháo đuổi, khi bạn bị táo bón, khi bạn đi cưa gái, v.v…
Các biến thể khác nhau của “Veni, Vidi, Vici” thường được sử dụng trong âm nhạc, nghệ thuật, văn chương và các thứ giải trí khác. Đã có lúc người ta coi câu này như một lời thần chú. Ba từ đó nghe na ná như nhau tạo nên một nhịp điệu thần bí nghe có khí vị của thần chú. Bạn có thể nghe câu “You came, you saw, you conquered me” trong một vở nhạc kịch của “nhạc hào” người Đức George Friedrich Händel (1685-1759), rồi trong các tác phẩm “Encore” của Jay-Z hay “Veni Vidi Vicious” của The Hives… Trong show truyền hình History Bites có nhân vật ngôn câu này đảo đi một tí: “Vidi, Vici, Veni” (nghĩa rằng: tôi thấy, tôi chinh phục và tôi… xuất J). Trong một vở hài kịch của Bill Murray có câu: “We came, we saw, we kicked its ass!”. Trong phim Ocean‘s Eleven của Stephen Soderbergh, nhân vật Rueben giễu một tên định cướp sòng bài: “He came, he took, they conquered.” (Nó đến, nó cuỗm tiền, rồi người ta bắt). Ngoài văn chương thì người ta còn thấy nhiều biến thể của nó trong nhiều tình huống khác trong mọi mặt của đời sống. Sau đây là một số phiên bản mới cho câu nói bất hủ của Xê-da[2]:
- Veni, Vidi, Visa = I Came, I Saw, I Went Shopping
Veni, Vidi, V8 = I Came, I Saw, I Went Very Quickly
Veni, Vidi, Volley = I Came, I Saw, I Played Tennis
Veni, Vidi, Vamoose = I Came, I Saw, I Left
Veni, Vidi, Fiji = I Came, I Saw, I Ran As Far Away As Possible
Veni, Vidi, VCR = I Came, I Saw, I Went Home And Rented The Video
Veni, Vidi, Vacuum = I Came, I Saw, I Cleaned Up
Veni, Vidi, Vodka = I Came, I Saw, I Drank
Veni, Vidi, Vomit = I Came, I Saw, I Drank Too Much
Veni, Vidi, Vespa = I Came, I Saw, I Rode Home
Veni, Vidi, Voyager = I Came, I Saw, I Charted The New Frontier
Veni, Vidi, Venturi = I Came, I Saw, I Created A Vacuum
Veni, Vidi, Vrai = I Came, I Saw, The Truth Is Out There
Veni, Vidi, Va Va Voom = I Came, I Saw, I Wore A Feather Boa
Veni, Vidi, Vanish = I Came, I Saw, I Disappeared
Veni, Vidi, Velcro = I Came, I Saw; I Stuck Around
Veni, Vidi, Volvo = I Came, I Saw, I Drove
Veni, Vidi, Verily = I Came, I Saw, I Concurred
Veni, Vidi, Violin = I Came, I Saw, I Made A Horrible Screeching Noise
Veni, Vidi, Velociraptor = I Came, I Saw, I Went To A Spielberg Film
Veni, Vidi, Owie! = I Came, I Saw, I Hurt Myself
Veni, Vidi, Venison = I Came, I Saw, I Ran Over A Deer
Sau cùng, tôi vô cùng ấn tượng về hai trường hợp sau:
– Khi quân Israel tiến vào đập phá dải Gaza, tàn sát người Palestine, trung tuần tháng 3 năm 2008 có tờ báo giật title “I Came, I Saw, I Destroyed!” Thật là quân hung bạo (Bọn này đã từng giết Chúa Jesus đấy, nhưng cũng nhờ chúng mà Chúa mới trổ được cái tài của mình trong cuộc Phục sinh khoành tráng).
– Năm nay ghi nhớ 30 năm chiến tranh biên giới với Trung Quốc (1979) và Căm Pu Chia, tôi nhớ hồi năm 1989 khi quân đội Việt Nam “triệt thoái” khỏi Căm Pu Chia một bài báo trên tạp chí Anh ngữ nào đó (sorry, đêx nhớ tên [cái gì cũng nhớ thì có mà điên]) đã đưa bài rất hay về sự kiện này. Trên nền tấm ảnh chụp phía đuôi chiếc xe tải Nga Xô chế tạo chở bộ đội Việt Nam là hàng title lớn: WE CAME, WE SAW, WE RETURNED.
Đó là sự khác biệt giữa Xê-da và đoàn quân của “Xê-ra” (Xê-[hê]-ra-[dát]?) vậy. Xin lịch sử hãy lưu ý cho, kẻo mà suốt đời lầm to [ho].
3/4/09
© 2009 Đặng Thân
© 2009 talawas blog
[1] Tham khảo bài “Thơ phụ âm (alliteration) [& tôi]” của Đặng Thân đăng trên Tiền vệ và bài “Đặng Thân khai mở dòng thơ phụ âm Việt” của Inrasara cũng trên Tiền vệ.
[2] Nguồn: http://shop.bea.vn/fun/components/truyen/read.php?id=241
Bình luận
2 Comments (bài “Julius Caesar (Xê-Da) [vs. “Xê-Ra”]”)
Tam sao thất bản:
“Nếu bạn ngụ ở đây thì giờ bạn đã về đến nhà.”
Một độc giả người Huế lại hiểu câu nói này như sau:
“Nếu bạn ngủ ở đây thì giờ bạn đã đến.”
(If you sleep here, you are cumming now.)
Ở Hoa Kỳ, vấn đề khỏang cách và việc di chuyển từ nhà đến chỗ làm là một yếu tố đáng quan tâm trong đời sống, thường mất cả lượt đi lượt về đến hai tiếng trong một ngày chỉ có 24. Giao thông tại các thành phố lớn thì lại hay tắc nghẽn, đây là hai tiếng trên xe con bức bối một mình và chí ít là kém về hiệu năng sản xuất, chưa nói đến mất mát về thời gian giành cho thư giãn. Vì thế, dọc các đường cao tốc, các chung cư, hộ tập thể, khu đô thị mới đang mời bán hay cho thuê thường thấy biển quảng cáo đề “ Nếu bạn ngụ ở đây thì giờ bạn đã về đến nhà”.
Đọan kết của bài viết Đặng Thân về Cam Bốt làm tôi nhớ đến một chuyện kể bởi một nhà văn và sĩ quan Thủy quân Lục chiến Mỹ trích đăng trên Harper’s Magazine gần đây thì phải (cái gì cũng nhớ hết thì có mà điên). Ông kể là vừa sang đến Iraq, nhập trại, thì thấy ai đó để lại trên một bức tường cách xa nước Mỹ nghìn trùng cái câu rất quen thuộc này: “ Nếu bạn ngụ ở đây thì giờ bạn đã về đến nhà”.