Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 11)
27/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 11)
Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: tù cải tạo
(Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7, kỳ 8, kỳ 9 & kỳ 10)
Lĩn kĩn rồi cái trại cũng được dựng xong. Người ta lại lếch thếch dọn đi lần nữa. Trại mới ở một chỗ bằng phẳng, rộng rãi sát một con suối lớn. Ba dãy nhà dài, cao ráo quây lấy một khoảng sân rộng ở giữa. Mặt sân không có một tảng đá nhô lên. Các cây con được đốn đến tận gốc, trông sáng sủa gọn mắt như một khu vườn vừa dẫy cỏ. Nhìn ở xa, trại có vẻ thơ mộng của một thôn trang núp dưới những tàn cây lớn, kín đáo như núp dưới những tấm lọng xanh khổng lồ. Tuy vậy vẫn chưa thật hoàn hảo, người ta còn phải dựng một hàng rào cây quanh trại và cắm một lớp chông bên ngoài.
Sang trại mới, người ta lập tức sống một không khí mới, không khí của những ngày kế cận ngày lễ phóng thích. Đi đâu cũng nghe người ta xôn xao phỏng đoán người có thể được ân xá. Mấy mụ đàn bà ít nói nhất, lúc nào cũng khép nép như đeo phải bảng nội qui trước mặt cũng không giấu được vẻ hớn hở. Họ cười vu vơ mỗi lần gặp nhau. Ban đêm ngoài tự giác, từng toán nằm gác chân lên nhau kể lại những kỷ niệm ở thôn quê: Vụ lụt năm Dậu làm trôi cả nhà cửa, trâu bò, gà vịt… vụ lúa năm Hợi được mùa lúa chín ngập đồng, thóc chứa đầy bồ đầy cót…
Sáng hôm mười bảy, cơ quan phái hơn ba chục người xuống núi xẻ trâu. Cả trại lại ồn lên. Họ được dịp nói tới các món ăn. Mấy mụ đàn bà mới đầu còn giữ ý, sau như bị thúc giục bởi óc tò mò cũng ngồi ghé vào hếch mắt nghe kể những món ăn lạ, tỏ vẻ thán phục tài thưởng thức của mấy gã đàn ông. Giữa không khí nhộn nhịp ấy, tiếng kêu la rên rỉ của một vài người bệnh nghe thật vô duyên. Thỉnh thoảng tin một vài người đang hấp hối, xác một người chết được khiêng đi chỉ đủ làm họ dừng nói, ngước mắt nhìn lên, mặt hơi cau lại, một tiếng thở dài, một tiếng chậc lưỡi, họ lại cúi xuống tiếp tục câu cuyện đang nói dở. Bóng mấy ông cơ quan lui cui bên đống hồ sơ dày, ghi ghi chép chép càng tạo cho họ cái phấn khởi để nói nhiều hơn.
Từ ngày dọn sang trại mới, An điều đình với anh Bốn Đoàn giao việc chôn cất cho một toán khác, viện lẽ trại đã làm xong dư người, phần khác việc khiêng một xác chết đi hàng nửa cây số, việc đào một cái hố cho sâu ở giữa dãi núi đá này không phải là chuyện dễ cho một toán gồm toàn những người yếu đuối. Anh Bốn đồng ý nên giờ Quang chỉ phải nhặt rác, quét lá vun thành đống đem đổ ở một bụi rậm gần suối. Thằng Tân cùng làm việc với Quang. Nó vừa làm vừa lải nhải kể lại chuyến đi Nha Trang với cái quán ăn Tàu xế rạp chiếu bóng Tân Quang. Không hiểu nó kể đến lần thứ mấy mươi, lần nào thì cái dĩa cơm cũng quanh quẩn có mấy cọng xà lách lót bên dưới, một quả trứng, mấy miếng thịt kho mặn. Vậy mà lần nào mắt nó cũng tròn lại miệng méo xệch đi. Nó khen thằng cha Tàu già ngồi ở quầy hàng tốt bụng, thấy nó chan xì dầu lên cơm ướt lõng bõng như chan canh mà vẫn chỉ mỉm cười với nó. Quang không chú ý đên câu chuyện, mải nghĩ đến chuyện khoan hồng. Mấy hôm nay Quang sống trong sự chờ đợi khắc khoải, đầu óc đặc sệt những ý nghĩ không đâu. Quang kiểm điểm lại những ngày đã qua, tự hỏi mình có làm điều gì lầm lỗi để cơ quan phải để ý? Quang không chắc lắm nhưng dường như cũng đã có những sơ xuất mà Quang không nhớ nổi rồi đâm lo sợ. Nhưng nhớ có lần mình được bầu làm cá nhân xuất sắc Quang tự hào về sự chăm chỉ và khôn ngoan của mình. Hàng trăm ý nghĩ tương phản cứ thế tiếp nối nhau làm Quang đờ đẫn như người mất hồn, vui buồn lẫn lộn. Nghĩ đến những điều đã nhận trên cơ quan, Quang thất vọng, buồn bã muốn gào lên cho mọi người đều biết là Quang không có tội gì cả. Quang phải nhận vì không thể nằm hoài trong kỷ luật với dây nhợ, cùm xích. Những lúc ấy Quang thấy mình thật cô đơn, những người chung quanh đều giả dối, ích kỷ và lãnh đạm. Họ chỉ biết sống cho riêng họ, tàn nhẫn với những người khác. Trông thấy ông Sáu Côn, ông Ba Lớn Quang tự hỏi tại sao một người xử án lại có thể thiên lệch, cực đoan đến vậy và ao ước được đánh đổi địa vị, không để làm gì cả, chỉ để nói cho ông ta biết Quang không hề nhúng tay vào tội ác. Quang đi dân vệ chỉ vì muốn sống gần vợ con. Quang trong sạch và lương thiện.
Nhưng rồi ở một lúc khác, suy luận theo một đường khác, Quang lại chứa chan hy vọng. Những lúc ấy, mọi người chung quanh lại trở nên dễ mến, cả cây rựa long cán gác ở gốc cây, cái chổi sút đường dây cột cũng có vẻ gì âm thầm nhẫn nại, đáng quý ở bên trong. Trong phút sung sướng, Quang thấy lòng mình như mở rộng để tha thứ, yêu thương tất cả mọi người. Cứ như thế Quang ngụp lặn trong những ý tưởng của mình để buồn bã, vui vẻ, ray rứt, hy vọng…
Suốt sáng hôm mười tám, quan khách các nơi lũ lượt kéo đến. Họ đi thành tốp năm, ba người hoặc đeo súng trường, hoặc đeo súng lục. Họ quanh quẩn đi xem khắp trại, chỉ trỏ, cười nói. Những chiếc võng giăng khắp nơi, tiếng ra dô mở ồn ĩ. Trại như đông hẳn lên. An với cây bút sơn tay chân dây rớt mực, đứng ngắm những câu biểu ngữ đỏ chói treo trên cành cây. Buổi chiều, đoàn người xẻ trâu trở về . Lúc bốn cái đùi trâu được dựng ở vách bếp sừng sững như những đoạn gỗ đen thì trại ồn gần giống cái chợ. Đám trại viên bỏ dở công việc ùa ại ngắm những thúng thịt, thúng xương đầy nhóc, chỉ trỏ đôi sừng trâu ước đoán non già. Ông Đoàn phó vừa hét vừa giơ tay xua đuổi. Họ dãn ra một chút rồi xán lại gần hơn. Mãi tới lúc người cảnh vệ vác súng xuống, họ mới lảng đi chỗ khác.
Một toán đàn ông được chỉ định làm bếp. Trại vui như hội. Tiếng nồi niêu va nhau. Tiếng dao chặt chí chát vang cả một góc trại. Quãng đường từ bếp đến suối ướt đẫm, chi chit những vết chân người đi rửa thịt, rửa rau. Ban đêm từng đám than hồng được đốt lên rải rác trong sân để xào nấu, thui da, hầm thịt… mùi thơm lừng lên trong không khí. Những người không phận sự, lố nhố nhìn qua những thân cây chắn ngang, bàn tán chuyện này, chuyện nọ.
Ngày lễ tới! Buổi sáng mọi người được ăn cháo thịt. Cháo nóng thơm mùi lá lốt, đặc sệt những miếng thịt trâu thái dày. Tiếng cãi cọ lúc chia phần ăn ồn lên trong các toán. Sau nhiều tháng ăn cháo với muối, mọi người đều không giấu được vẻ thèm thuồng, lúng búng nhai từng miếng thịt không buồn nuốt, ngâm nga như muốn kéo dài hương vị béo ngậy của miếng thịt trên lưỡi. An ăn xong ngồi tựa gốc cây gõ gõ cái ống lon nhìn Quang cười:
– Ngày nào cũng ăn uống thế này, ba tháng nữa mình tròn như trái bóng, lăn một cái xuống tới chân núi.
Quang ngơ ngẩn nghĩ tới ông Xu và Thảo, tiếc cho họ tới lúc chết không biết đến miếng ngon.
Ăn xong mọi người được về trại nghỉ. Họ ngồi quây quần kể lại những miếng gan, miếng tiết bắt gặp.
Một vài người thản nhiên hơn, ngồi nhìn lên nhà cơ quan theo dõi phiên họp. Các cán bộ ngồi bệt xuống sàn theo chiều căn nhà làm thành một cái khung chữ nhật. Văng vẳng có tiếng ông Sáu Côn đương nói. Quang nhận ra những tiếng chính sách, cách mạng, giác ngộ, khoan hồng… Giữa lúc đó một người cảnh vệ bước vào. Không đầy nửa phút cả phòng họp túa ra đầy sân. Họ đón tiếp một cán bộ mới. Người mới tới là một người đàn ông không già lắm, dường như vừa qua khỏi cái tuổi thanh xuân, nước da trắng, vóc người cao càng làm tăng thêm vẻ thanh tú của khuôn mặt. Ông ta đứng giữa hai người hộ vệ đeo súng trường, thong thả giơ tay bắt từng người. Sau những nghi thức chào đón đơn sơ, đoàn người chậm rãi kéo lên nhà cơ quan. Phiên họp lại tiếp tục cho đến xế chiều, lúc trại viên bắt đầu chia cháo mới dứt.
Buổi tối, khi ánh nắng vừa biến mất khỏi đầu ngọn cây, trại viên được làu vào nhà bên phải, ngồi nối đuôi nhau thành từng đường dài trên sạp. Gian phòng đã được trang trí tạo vẻ lạ mắt, long trọng. Phía trên cùng kê ba cái bàn phủ khăn đỏ, một lọ hoa với mấy bông hoa trắng giả đặt chính giữa. Sau nữa là ít hàng ghế dài vừa đóng kê sát đến tận đầu hồi, nơi có treo lá cờ mặt trận với câu biểu ngữ: “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam muôn năm” viết kiểu chữ in, màu đỏ chói.
Quang ngồi giữa An và ông già Chẩn cùng toán, rạo rực một cảm giác kỳ lạ. Bao nhiêu ngày mong mỏi cái giờ phút trọng đại này, lúc nó đến kế cận, Quang lại sợ hãi muốn nó dừng lại. Thằng Tân ngồi dựa đầu vào vai An xoa xoa tay lên đùi nói:
– Anh Hai này, nếu cả ba đứa được về anh có làm cái trại đó không?
– Có chứ – An đáp – tao ớn đi làm công chức quá rồi!
Ông già Chẩn tò mò quay sang hỏi:
– Trại gì vậy?
Thằng Tân ngồi thẳng người dậy, nhanh nhảu:
– Trại này á, sao ông biết được, tụi tôi định nuôi gà, nuôi heo, nuôi chim, nuôi cá, nuôi bò…
– Nuôi ngựa, nuôi chó, nuôi mèo – An tiếp.
Thằng Tân ngoẹo đầu, cười rúc lên. Lúc dứt cơn cười, nó ngồi ngay ngắn giữ vẻ mặt nghiêm trang:
– Anh Hai, đừng nói giỡn nữa. Tụi mình làm cái trại đó thiệt mà, tôi nuôi heo, nuôi gà, anh Quang làm ruộng, tưới vườn…
– Thì tao có nói không đâu?
An ngắt lời, ngừng móc đất ở kẽ móng chân, quay sang giải thích với ông già Chẩn:
– Tụi tôi định chuyến này được tha về đi làm đồng, làm ruộng. Chiến tranh này ngán quá rồi.
An chép lưỡi. Ông già dễ đi đến tâm sự:
– Nói gì nữa? Cốt sao mình sống qua ngày. Thiệt tình mà nói, mình đâu có ham chức này chức nọ, mình chỉ thích có ngôi nhà, miếng ruộng, nuôi vài con gà phòng khi cúng quải. Trong nhà, vợ chồng, có cái gần gũi nhau là vui rồi…
Quang ngồi nghe lơ đãng. Nghĩ tới việc mấy hôm nữa được trở về nhà, được trông lại những người thân yêu. Quang bừng bừng niềm vui ngây ngất và vẽ ra trong óc một cảnh đón tiếp bất ngờ. Ai sẽ là người trông thấy Quang đầu tiên? Ai sẽ khỏe nhiều nhất? Thằng Hồ còn có nhận ra Quang? Nhi sẽ làm gì khi trông thấy khuôn mặt xanh xao, hốc hác của chồng? Những câu hỏi gợi niềm vui sướng. Quang lao đao trong một thứ men lạ của tình thương yêu sống lại.
Nhiều ngọn đèn chai được thắp sáng rải rác theo chiều dài căn phòng, soi rõ những câu biểu ngữ xanh đậm mắc trên vách. Quang nhìn ngọn lửa bốc cao, nhả từng cuộn khói dày, và đọc đi đọc lại nhiều lần câu biểu ngữ kế bên: “Tinh thần giác ngộ, khí giới đầu tiên diệt Mỹ”. Đầu óc trống rỗng, Quang không hiểu gì với câu nói đó. Các cán bộ lục tục kéo vào chia nhau ngồi trên những dãy băng phía sau. Gian phòng đột ngột im lặng làm tiếng chân bước của họ nổi lên rõ hơn. Ông Sáu Côn trịnh trọng với chiếc áo sơ mi trắng, quần tây vàng hơi rộng và khẩu súng lục nằm gọn trong bao. Sau một vài thủ tục nghi lễ, ông đứng lên đọc bài diễn văn khai mạc. Tiểu sử Hồ chủ tịch chiếm quá nửa bài diễn văn dài. Bác Hồ theo đó, được tả như một người thật gần gũi với tất cả đám dân nghèo, nhưng cũng thật cao xa không ai với tới. Ông dứt lời giữa những tràng pháo tay kéo dài. Tiếp theo ông Ba Lớn với tư cách thủ trưởng trong trại, đứng lên trình bày tình hình chung trong trại trong những ngày bị địch bao vây. Với giọng trầm trầm, đều đặn, ông nói nguyên nhân gây ra cảnh thiếu thốn, sự khổ cực mà anh em đã trải qua. Ông bày tỏ nỗi xúc động của ông khi chưng kiến bệnh kiết lỵ và cơn đói khát hoành hành trong trại, nhưng ông tỏ ý phiền trách một số người nhân cơ hội đó có những hành động và tư tưởng chứng tỏ một tinh thần giác ngộ thấp kém. Cuối cùng ông cũng nêu lên những phương cách giải quyết như nâng cao mức ăn hàng ngày, tái lập trạm xá, tiếp tế và chia người đi tái canh các nông trại sản xuất. Cuối cùng ông tỏ lòng khuyên nhủ tất cả các trại viên dù có hay không được hưởng khoan hồng, dù ở trong hay ngoài lòng địch cũng nên luôn luôn tin tưởng vào sự tất thắng và thành công của cách mạng.
Nếu giọng nói lớn, hùng hồn của ông Sáu Côn làm mọi người chú ý, phấn khởi bao nhiêu thì lời lẽ chậm rãi, mạch lạc của ông Ba Lớn làm họ suy nghĩ, thấm thía bấy nhiêu. Quang cảm động thiệt sự khi nghe ông nói những nhận xét của mình về đám trại viên, những nhận xét thật xác đáng, tỉ mỉ. Điều đó chứng tỏ ông là một người tinh tế. Quang nghĩ tới những bó củi vác trên vai, lần ngất đi giữa rừng, ánh mắt buồn buồn của ông khi bắt gặp Quang làm việc… Lòng đầy phấn khởi, Quang lắng nghe ông Ba Nhỏ giới thiệu người cán bộ vừa tới ban sáng.
– Tôi xin giới thiệu với tất cả bà con có mặt ở đây, ông chính trị viên tỉnh ủy, ông sẽ có đôi lời…
Ông Ba Nhỏ chưa kịp dứt lời đã có một vài tiếng vỗ tay nổi lên phía cuối phòng, rồi một thoáng như một thứ dịch, tiếng vỗ tay tràn lan cả gian phòng. Viên Uỷ viên vẫn đứng yên lặng, mặt thản nhiên, đợi đến lúc yên lặng hoàn toàn mới cất tiếng nói, giọng vừa lai Nam lai Bắc. Giọng nói được hấp điện, ấm hơn, trầm hơn. Thoạt đầu, ông ngỏ lời chào toàn thể trại viên, và cũng như ông Ba Lớn, bày tỏ lòng ái ngại của mình trước cảnh khổ cực cũng như lòng thán phục tinh thần khắc phục gian lao của mọi người. Với lời nói dịu dàng, ấm áp ông có cái vẻ khoan hòa, trầm tỉnh của một người có chức vị và tự tin ở mình. Nhưng dần dần như bị quyến rũ vì chính những lời nói đó, ông trở nên tha thiết, nhiệt thành hơn. Ông trình bày về tình hình chiến trận với những chiến thắng đã thâu lượm được và sau đó cảnh đói khổ, tang tóc phân ly mà cả hai bên đều chịu. Trong lối diễn tả cả ông, người nghe có cảm tưởng như suốt từ Nam tới Bắc, từ miền rừng núi đến đồng bằng, đâu đâu cũng chi chít làn đạn réo và trên bầu trời có đủ các loại bom rơi xuống lả tả như một mớ tăm, để ở dưới này, trong giải đất nhỏ bé của tổ tiên để lại, hàng trăm hàng vạn người Việt chết chóc và khóc than. Dưới đám đông phảng phất có tiếng thở dài. Quang như được gợi lại bằng lời nói của người khác, nhớ đến một vài cảnh tang tóc đã chứng kiến trong dĩ vãng: những bộ mặt lem luốc trong hầm trốn đạn, những ngôi nhà ngùn ngụt lửa, những người đàn bà gồng gánh tản cư, một đứa trẻ chết trên bờ mương hai chân thòng xuống nước… và lo sợ nghĩ đến gia đình, đến cha mẹ, vợ con. Họ đã làm gì trong cơn ly loạn? Chiến tranh có tàn phá thôn xóm của Quang? Và Nhi nữa, Nhi làm thế nào để che chở các con, để nuôi sống gia đình? Phía trên kia ông chính trị viên vẫn nói, một tay xòe ra trước mặt:
– Nếu đồng bào để ý đến việc thay đổi ngôi của các vị vua ta thời Pháp, chắc đồng bào có thể so sánh với các chính phủ trong Nam bây giờ. Chúng ta mất chủ quyền. Vậy có nghĩa là chúng ta đương nô lệ, một hình thức nô lệ tân kỳ…
Quang bắt đầu không hiểu bởi những điều đó quá cao xa. Bên cạnh, An như từ hồi nào vẫn ngồi loay hoay với mấy cái móng tay, mặt không lộ cảm xúc, nửa như chú ý nghe, nửa như lơ đãng. Quang cúi xuống và tư tưởng lại quay về với những hình ảnh gia đình. Quang nghĩ đến con trâu, cái cày, vại nước, chỗ lở ở bờ hè láng xi măng… Tất cả gợi lại bao nhiêu kỷ niệm êm đềm. Quang mong mỏi sẽ được trông lại chúng y hệt ngày nào mới đi, sẽ không có gì thay đổi, kể cả viên gạch bể vất lăn lóc ở góc sân. Nếu được về Quang có vô số việc phải làm: thay lớp lá trên mái bếp lâu ngày mục nát, dựng lại cái hàng rào, xây lại miệng giếng cho nước mưa khỏi cuốn rác rưởi chảy vào… nhiều nữa, đánh lại con rựa rỉ, trám lại vại muối cà… Biết bao nhiêu là việc. Quang phải về. Quang sẽ gây dựng lại tất cả, sửa sang lại tất cả…
Bài diễn văn tới lúc kết thúc, giọng người chính trị viên dịu lại:
– …Cuối cùng, tôi mong tất cả đồng bào cố gắng cải tạo để thấu triệt được đường lối cách mạng. Tôi hy vọng sau khi cải tạo, tất cả đồng bào đây sẽ là những công dân xứng đáng trong việc cứu quốc và kiến quốc. Trong đau đớn đất nước chúng ta sẽ trưởng thành và tồn tại.
Tiếng vỗ tay lại nổi lên. Người chính trị viên hơi cúi đấu xuống chào rồi lui về chỗ ngồi. Ông Ba Nhỏ cầm ờ giấy đứng lên giơ tay với cái ống nói. Mọi người hiểulà giờ phút long trọng đã điểm. Họ ngồi ngay ngắn như tự sửa soạn cho mình một tư thế để đón những bất trắc có thể đến. Sau khi nói một tràng những nhận xét về số trại viên được hưởng lượng khoan hồng, ông Ba Nhỏ bắt đầu kêu tên. Thoạt tiên là tám người đàn bà. Khi nghe thấy tên mình, một vài người không ngăn được cảm xúc, gục đầu vào vai người ngồi bên cạnh khóc thổn thức. Giọng ông Ba chậm rãi, rõ ràng, chắc nịch. Quang ngồi xếp bằng hai chân, cảm tưởng như có từng viên sỏi thánh thót rơi trong lồng ngực. Mỗi lần kêu tên một người, ông Ba Nhỏ lại ngừng lại quay nhìn xuống phía dưới. Trong khoảng thời gian đó Quang lẩm bẩm nói trong miệng “Nguyễn Văn Quang” – ba chữ đó thật dễ đọc, dường như nó sắp phát ra ở đầu môi ông Ba, nó vang lên đúng cái lúc Quang đương chờ đợi. Phía đằng trước, một vài người đàn ông nghe tên mình ngồi nhổm dậy, la lớn những tiếng thật vô nghĩa. Tờ giấy cong gập về phía trước theo ngón tay cầm, mắt ông Ba đưa dần xuống dưới. Quang gọi “Chúa ơi! Chúa ơi!” và chống tay quỳ trên hai đầu gối. Những người khác không ai chú ý đến điệu bộ khác thường của Quang. Họ ngồi im như những tảng đá, mắt dán lên phía trên. Ông Ba Nhỏ ngửng đầu nhìn xuống dưới:
– Kết toán bản danh sách có tất cả bốn mươi bảy…
Tai Quang ù đi, người cứng như một khúc gỗ. “Á” miệng Quang bật lên tiếng kêu. Cả một bầu trời rộng lớn đổ ụp xuống, người Quang chao đi chao lại như một chiếc lá rơi trong hang sâu không đáy. Cảnh vật chung quanh xoay tròn rồi tối đen lại. Quang ngồi bệt xuống, người lả trên vai An.
Trên kia, có tiếng một người đọc đáp từ rồi tiếng vỗ tay, tiếng người bước mau trên sạp… “Chúa ơi! Sao vậy? Chúa ơi!”, Quang kêu lên như khóc, chuệnh choạng bước ra ngoài trong vòng tay An.
– Thôi bác ạ! Không chừng vậy lại hay.
Tiếng An nói bên cạnh rồi tiếng ông già Chẩn nức nở, mơ hồ:
– Tôi đâu có ham chức trưởng Ấp… lợi lộc… gì đâu.
(còn tiếp)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 11)”)