Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 10)
26/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 10)
Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: tù cải tạo
(Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7, kỳ 8 & kỳ 9)
Phần năm
Quang không thể nào tin là mình bị bệnh khi chỉ thấy đau đau ở vai bên phải, nhưng cũng không thể nào không nghĩ đến nó mỗi buổi sáng thức dậy thấy vai ê ẩm.
Thoạt đầu, Quang cho là tại mình vác cây nặng quá, và hôm sau Quang vác nhẹ hơn, lựa chiều cho thân cây nằm chênh chếch qua phía lưng và cổ, như vậy sức nặng đè lên vai sẽ giảm bớt đi. Nhưng cái vai vẫn ê ẩm vào mỗi sáng. Chắc chắn là không phải đau ở làn da ngoài, vì chỗ da không bị sây sứt, Quang có thể lấy tay véo thật mạnh mà vẫn chỉ thấy tê tê. Cái đau như từ một khớp xương nào đó phát ra, mà cũng không hẳn là đau. Thật ra Quang chỉ thấy nhức mỏi, một thứ nhức mỏi thật khó chịu của những người mắc chứng phong thấp. Quang quyết định vác cây bằng vai bên trái. Quang tìm một cái quần rách xếp lên vai. Hôm đầu tiên cái vai trái đau như những ngày ở nhà mới tập vác cây và gánh phân ra ruộng. Quang ân hận trước kia không tập gánh bằng cả hai vai nhưng rồi Quang lại tự nhủ: “Rồi cũng quen đi, chỉ vài hôm thịt chai lại là hết đau, bây giờ cần nhất là để cho vai phải được nghỉ”.
Nhưng kết cục vẫn không thay đổi gì cả. Sau gần nửa tháng vác cây bằng vai bên trái, cơn nhức mỏi lại càng tăng lên, âm thầm bền bỉ. Quang tưởng tượng đến một con sâu nằm rúc trong ống xương gặm nhấm dần dần chất tủy. Con sâu ấy ngày càng lớn lên, càng mập ra, cơn nhức mỏi càng mãnh liệt. Ngày trước cơn nhức mỏi chỉ làm Quang khó chịu bây giờ làm Quang khổ sở thiệt sự. Bất cứ làm một việc gì nặng với tay bên phải là nó hiện ra đến ngạo nghễ, bướng bỉnh. Quang xoa nắn, mơn trớn, lấy tay đập vào vai hy vọng nó dừng lại. Nhưng con sâu quái quỷ ấy thật khôn ngoan, nó làm như hiểu được Quang chẳng làm gì được nó, nhởn nhơ gặm nhấm. Quang nghĩ tới việc trị nó và chạy lên cầu cứu ông Đoàn phó. Quang phải dùng tất cả những lời lẽ khéo léo để năn nỉ, nhưng ông Đoàn phó chỉ nói:
– Tôi còn lạ gì cái bệnh ấy, cứ chịu khó vác nặng, lao động nhiều là khỏi. Bệnh ấy là bệnh tiểu tư sản của đế quốc nó truyền cho.
Quang cố gắng hết sức để phân trần là mình chỉ muốn xin thuốc chứ không có ý tạo sự ra để xin nghỉ nhưng ông Đoàn phó không nghe, khăng khăng tin ở sự xét đoán của mình. Tới một độ không chịu nổi những lời năn nỉ của Quang, ông gắt:
– Cách mạng không có thuốc chữa đau vai, không khắc phục được gian khổ tức là chưa thật lòng muốn cải tạo.
Quang sợ hãi bỏ đi lên trình bày với anh Bốn Đoàn trưởng, xin làm bất cứ công việc nào để khỏi phải vác cây. Anh Bốn chăm chú nghe, tin là Quang đau thật nhưng không giúp được gì, anh nói:
– Anh coi đó, tụi mình phải làm xong cái trại mới này trước ngày lễ sinh nhật bác Hồ, tôi không thể đổi anh sang toán tạp dịch. Còn các công việc khác đều nặng cả, anh làm sao có thể đốn cây, chặt lá hay lợp mái? Đi hầm than hay cải thiện, anh càng không làm được nữa.
Anh ngừng lại nhìn Quang như để đo lường cơn bệnh nói tiếp:
– Thôi, tôi cho anh nghỉ hai ngày. Sáng mai anh ở lại trại.
Quang nghĩ anh Bốn đã nói đúng, đốn cây hay chặt lá thì không thể làm bằng tay trái. Quang hy vọng ở hai ngày nghỉ, biết đâu với hai ngày tĩnh dưỡng cơn bệnh chả biến đi, nếu không ít ra cũng có lợi cho sức khỏe. Quang tự cho mình đã có gắng làm việc quá nhiều từ ngày ra tự giác.
Và Quang nghỉ. Ban ngày mọi người đi công tác, trại vắng hoe. Quang nằm dài trên tấm lá nghe ngóng chỗ đau. Chẳng có gì cả. Quang thấy người khỏe mạnh, mọi chuyện hình như chẳng có gì đáng bận tâm. Quang giơ tay phải xoay xoay mấy vòng trong không khí và cẩn thận khi khuỳnh tay ngồi dậy quay người từ bên phải sang bên trái và ngược lại. Quang chú ý sao sự chuyển vận các khớp xương ở hai bên vai. Vẫn chẳng có dấu hiệu nào chứng tỏ có sự lệch lạc ở các khớp xương bên vai phải. Không tin ở sự xét đoán của mình, Quang lặp lại những cử động cũ, dồn hết tinh thần để nghe ngóng kỹ hơn. Vẫn không có gì lạ. Quang nghi bệnh mình có lẽ không nặng quá như mình vẫn tưởng. Quang nằm xuống, nắm tay vung thật mạnh trong không khí, sung sướng như dứt hẳn được niềm lo. Một lát sau thấy mỏi lưng, Quang nghĩ mình nằm mãi cũng không tốt, cần phải hoạt động một chút cho gân cốt dãn ra và máu chảy điều hòa. Quang trở dậy định bụng ra suối giặt cái áo dơ. Lúc đi qua phòng kỷ luật, Quang nhìn vào thấy Thảo đang ngồi tẩn mẩn nghịch mấy sợi lạt. Quang muốn gọi Thảo nhưng không dám, lẳng lặng tìm một tảng đá ngồi bắt rận. Quần áo hết rận lớn chỉ còn toàn một thứ rận nhỏ trăng trắng mới nở. Quang bắt bỏ xuống một ô nước đọng ngồi im ngắm chúng quấn vào nhau bơi trên mặt nước. Quang thấy hả hê như trả được mối giận những ngày còn bị còng tay nằm trong kỷ luật, nhưng đồng thời Quang tự nhủ không nên hành hạ như vậy, chúng hút máu người vì chúng là loài rận và chúng cũng ham sống như Quang. Quang vớt chúng bằng một cây que nhỏ và để mặc đám rận bên trên mặt đá, bỏ xuống suối giặt áo.
Lúc trở về trại, Quang nằm ngủ tới xế trưa mới dậy. Toán đàn bà đang rửa mương dóc ngoài bờ suối. Quang nhìn mụ Xuân ngạc nhiên không hiểu tại sao từ ngày ra tự giác không chú ý đến mụ. Mụ cầm một tàu lá mương dóc phất phất gọi thằng Điện con ông Sáu Côn đương đứng tựa vào một gốc cây:
– Con hư quá! Lại đây má biểu.
Thằng bé trợn mắt nhìn mụ ngạc nhiên, lúc thấy mụ ngoẹo đầu sang một bên nó bắt chước, rụt cổ lại cười.
– Lại đây con! Lại đây má hát con nghe.
Giọng mụ âu yếm, van nài. Thằng bé cười rộng miệng hơn. Mụ Xuân vất tàu lá, hai tay vỗ vỗ vào nhau lấy nhịp cất giọng hát.
Con cút cụt đuôi
Ai nuôi mày lớn
– Dạ, thưa bà,
Con lớn mình con.
Câu hát chấm dứt đột ngột. Thằng bé cười ré lên xoay người chạy về phía nhà cơ quan. Mụ Xuân hốt hoảng:
– Con ơi, con! Lại đây với má! Má thương con mà.
Mụ nhìn thằng nhỏ cho tới lúc nó khuất sau mô đá, đoạn cúi xuống buồn bã. Đột nhiên mụ nghiêm mặt giơ một ngón tay lên miệng:
– Con hư quá, con không biết nghe lời má. Má sẽ không mua quà cho con. Chiều nay má ra ngoài vàm bắt cá má cũng không cho con nữa. Tối má cũng không cho con ngủ với má, má để con một mình cho chuột nó bắt con đi.
– Chị Xuân này! – Một người đàn bà ngừng tay gọi mụ, mắt lộ vẻ ái ngại – Con chị chết cháy rồi mà, chị nhớ lại coi. Chị cứ thế này hoài làm sao cơ quan cho chị về được. Chị tỉnh lại đi. Con chị nó cháy đen thui mà.
Mụ Xuân lắng tai nghe, rồi bất thình lình vén cao hai ống quần vỗ bành bạch vào đùi:
– Kệ tôi! Mấy người biết cái gì. Trời Phật đâu có làm cái cuyện ác nhơn ác đức đó. Con tôi nó còn sống, nó cháy đen thui.
Quang bỏ ra bờ suối bước tới khoảng đất dùng làm nơi đi cầu. Tiếng cười mụ Xuân đuổi theo lanh lảnh. Quang nghĩ tới khuôn mặt bầu bĩnh của thằng Điện, những sợi tóc mềm mà thưa, đôi mắt sáng, cái miệng tươi. Chả cứ gì mụ Xuân, chính Quang lúc đó cũng muốn ôm hôn lên má nó. Quang cố nhớ lại khuôn mặt thằng Hồ. Chắc bây giờ nó lớn rồi, nó đã biết đi, biết nói. Quang tự hứa bao giờ về sẽ cho nó đi học, sẽ may cho nó một bộ quần áo tây ngắn và dẫn nó đến trường mỗi sáng.
Buổi tối, ăn xong Quang dềnh dàng ra đứng tựa vào cây cột nhà. Không khí mát mẻ. Quang ngước lên cao ước gì lá rụng hết xuống để Quang có thể nhìn được cả khoảng trời rộng với những ngôi sao. Quang cúi xuống nhặt một cọng lá xỉa răng. Bất thần cơn đau ở vai trở lại, lại vẫn cái nhức nhối ấy, âm ỉ, quen thuộc. Quang lặng người đi. Cái mỏi đó, nó đang ở trong người Quang, nó không buông tha Quang. Chỉ có Quang mới biết được nó, chẳng ai ngờ được nó dằn vặt Quang đến thế nào. Họ chỉ ngỡ là Quang lười biếng tạo ra sự để nghỉ việc. Quang giơ tay lên cao, cánh tay như nặng hẳn đi. Quang nghiến răng xoay tít cánh tay. Cơn giận bùng lên, Quang thấy mình không nên chiều cơn đau quá, không việc gì phải mơn trớn nó. Quang đã nhân nhượng nó nhiều rồi.
Anh Bốn Đòn đang đứng giữa sân hô lớn: “Học tập, học tập”. Quang mệt nhọc theo mọi người vào trong. Ngọn đè thắp sáng ở giữa, mọi người chia từng toán ngồi chung quanh. Quang ngồi khuất sau lưng một ông già. Anh Bốn cất tiếng hát một bản nhạc quen thuộc:
– Du kích quân một lòng ra đi. Nào – Anh giơ cao tay đánh nhịp – Du kích quân… hai, ba!
Tiếng hát hòa lên ấm áp khắp gian phòng. Quang bóp nhẹ nhẹ lên vai. Con sâu đó, phải rồi, chính nó, nó đương gặm nhấm ống xương như một con sâu dâu ăn mòn một cây dâu nó sống. Quang phải giết nó bằng bất cứ cách nào. Nó chết đi thì cơn bệnh mới qua khỏi được. Nó đã xâm phạm vào đời sống Quang một cách vô lý, không thể để nó sống nhờ trên thân thể Quang. Bài hát dứt, bây giờ đến lượt các toán kiểm thảo công tác đạt được trong ngày. Tiếng phát biểu ồn lên. Một ông già ngồi phía sau Quang giơ tay bình nghị về năng suất của toán mười tám.
Gần ngọn đèn, ông Ba Nhỏ đang loay hoay ghi chép trên một cuốn sổ tay. Quang không nghe thấy gì cả, những tiếng nói vuột qua tai. Quang phải tìm cách giết con sâu. Thuốc men không có, không một phương tiện nào cả, con sâu cũng không bò ra ngoài da để có thể ném xuống đất dí nát dưới chân. “Giá ở nhà…” Ý tưởng đó chợt đến làm Quang nhớ những món thuốc bắc có ở nhà. Mọi sự sẽ dễ dàng, êm thắm biết bao nếu có những món thuốc đó. Đặt một giả dụ nữa là nếu những món thuốc đó không hiệu nghiệm, Quang có thể bỏ một ít tiền lên thị xã đi bác sĩ. Với tiền chẳng có bệnh gì là không khỏi. Lúc đó tất cả sẽ trở nên giản dị. Một điều sung sướng nhất là Quang có quyền nghỉ. Quang chỉ cần bảo Nhi: Hôm nay tôi bệnh, tôi đau vai, nấu cho tôi nồi cháo…” rồi nằm khểnh trên giường. Nhi sẽ lo cuống lên. Nhi mua dầu xoa bóp cái vai đau. Nếu có ở đồn, Quang sẽ bảo khẽ mấy đứa bạn, chúng nó sẽ gác giùm, Quang nằm nghỉ, vặn ra đô nghe.
Những tưởng tượng về cuộc sống cũ tự do trôi đi miên man cho tới lúc tiếng hô “muôn năm” của mọi người cất cao, Quang mới biết buổi học tập chấm dứt và phân vân không hiểu có ai bình nghị gì về mình không? Lúc mọi người giải tán, Quang trở về chỗ nằm nghiền ngẫm lại sự sung sướng của cuộc đời cũ tự do. Cái vai đã hết đau, Quang tự hỏi tại sao cách mạng không tha cho Quang về? Giữ lại có ích gì đâu, mỗi ngày chỉ mất thêm ít gạo? Quang phải được về. Quang tin như vậy và còn tiên đoán sẽ về vào ngày 19 tháng 5. Quang ốm yếu quá rồi, chẳng làm lợi gì cho trại, cơ quan chắc cũng biết điều đó và chắc không nỡ để Quang chết ở nơi rừng thiêng nước độc này. Nhưng Quang chợt khựng lại khi nghĩ đến những tội lỗi của mình, những tội lỗi tày trời mà Quang không ngờ có ngày phải nhận. Thật khủng khiếp như cơn ác mộng. Quang nhớ tới lần đi cung thứ hai.
Bộ mặt lạnh lẽo như tạc bằng đá với đôi mắt lim dim như không có chút ánh sáng của ông Ba Lớn làm Quang mất tinh thần ngay từ lúc đầu. Trong một giây ngắn ngủi, Quang hiểu con đường đi trước mặt đã khép kín và chính trong phút giây đó Quang quyết định thật mau số phận mình. Ông Ba Lớn hỏi Quang trả lời. Quang nhận tất cả tội lỗi không suy nghĩ, đắn đo. Mỗi lần như vậy ong Ba Lớn lại nói: “Tốt, tốt lắm!” rồi cúi xuống ghi thật nhanh những câu đối thoại trên một tờ giấy trắng. Cuối cùng ông đưa cho Quang xem và nói:
– Anh đọc lại đi, nếu anh công nhận thì ký vào.
Quang cầm tờ giấy có những dòng chữ nhảy múa. Quang hiểu mình đang đứng trước một giờ phút nghiêm trọng. Quang muốn đưa trả lại tờ giấy và nói: “Không, tôi không nhận, tôi không bao giờ phạm phải những tội này”. Nhưng sau đó, Quang nghĩ mình không thể nằm hoài trong kỷ luật để mỗi sáng ngồi ngóng lên cơ quan, nước mắt trào ra dàn dụa, Quang cầm bút ký nhiều lần vào từng tờ giấy theo tay chỉ của ông Ba. Lúc tờ giấy được xếp vào tập hồ sơ có bìa dày, Quang biết là mình không còn quyền quyết định gì về mình nữa. Quang đã đánh liều với số mệnh và không thể cưỡng lại. Quang chỉ còn trông cậy vào may rủi. Ông Ba Lớn đưa mời Quang điếu thuốc:
– Tôi rất mừng thấy anh không ngoan cố. Từ giờ anh được ra tự giác. Anh được tự do hơn không còn phải cùm xích như trong kỷ luật. Anh sẽ đi lao động với anh em. Anh thể hiện tinh thần hối cải bằng những công tác anh làm. Bao giờ xét thấy anh thực tâm giác ngộ, cách mạng sẽ khoan hồng cho anh về với gia đình.
Ông chiêu một ngụm nước, nói tiếp với giọng đều đều:
– Lúc đó anh cũng như chúng tôi. Anh trở thành một công dân tốt. Chúng ta cùng nhau đánh đuổi giặc Mỹ để xây dựng lại quê hương chúng ta thành một nước phú cường, hùng mạnh…
Quang nhắm mắt lại, cảm giác đau đớn của hôm nào sống lại. Quang lại muốn nói với chính mình, với bất cứ ai là Quang không hề phạm vào những tội lỗi ghê tởm ấy, Quang đã hiếp dâm một người con gái? Đã tra tấn, đã cướp của của những người dân lành? Làm sao hôm đó Quang đã có thể can đảm nhận những tội nặng nề như thế? Quang tự nhủ: “Mình không làm những tội ấy lương tâm mình không cắn rứt, như vậy được rồi”.
Đêm hôm đó Quang trằn trọc rất khuya. Câu hỏi: “Liệu mình có được về không?” lẩn quẩn mãi trong óc. Quang tìm những lý lẽ để quyết đoán mình sẽ về, rồi lại tìm những lý lẽ đả phá nó. Lý lẽ này đẻ ra mối nghi ngờ khác càng lúc càng làm Quang hoang mang. Sau cùng, Quang cầu cứu đến Chúa. Chúa chắc hiểu được và không nỡ bỏ Quang. Hiện tại, Quang chỉ cần cố gắng làm việc để cơ quan tin tưởng và sau này nếu có được về sẽ làm việc nghĩa, tích điều nhân. Ngày mai, ngày kia và những ngày sau nữa, cơn nhức mỏi sẽ trở lại mỗi ngày, nó sẽ dày vò hành hạ Quang, nhưng điều đó không quan hệ. Quang sẽ không cần để ý đến nó, coi thường nó. Nó, cơn đau đớn đê tiện, hèn hạ Quang thừa can đảm để khinh bỉ, vượt qua nó. Nó chỉ là một cái gai trên đường đi và Quang thì cần về được đến nhà. Cha mẹ, vợ con mong ngóng. Quang phải về để nuôi nấng chăm nom họ.
Sau hai ngày nghỉ Quang mang theo tất cả sự can đảm đó đi làm. Quang đã ôm được bốn bó cây và đi đi lại lại tám lần một con đường dốc lởm chởm. Lần thứ năm, lúc đặt bó cây lên vai thì cơn mỏi lại xuất hiện. Quang nhún vai, phác một cử chỉ khinh mạn, tiếp tục bước đi. Quang cần tỏ cho nó biết mình còn mạnh lắm, lại nhiều nghị lực nữa, cơn đau do nó gây ra chẳng thấm thía gì so với sức mạnh Quang đương có. Quang cười khan thành tiếng. Nhưng này, cứ mỗi lần bước đi một bước, Quang cảm thấy tay mình nặng thêm, mỏi thêm. Quang dừng lại thở. Trong lúc vô ý, bó cây tuột xuống, lăn trên mặt đất, bung cả những sợi dây cột. Quang ngồi tựa vào một gốc cây, tay phải mất hết hơi sức buông thõng xuống và chỉ được nối với mình bằng một lớp da. Quang có cảm tưởng như phải đeo thêm vào mình một cánh tay vô tri. Cơn đau dai dẳng, bí hiểm làm cả một bên vai tê liệt. Quang đặt bàn tay trái lên vai sờ sờ vào các khớp xương. Con sâu ấy đương tác quái, nó đã đục ruỗng một ống xương. Quang tưởng tượng nó đang gặm dần từng chút tủy. Nó nhàn nhã, kiêu kỳ. Nó bắt Quang nghĩ đến nó, không được khinh thường nó. Nó ở trong người Quang và Quang chẳng làm gì được nó. Chính nó mới đủ uy quyền làm Quang sung sướng hay khổ sở. Nó sẽ dày vò Quang đến chết, chết trước khi trở về nhà. Thấy mình thật yếu đuối bất lực, tuyệt vọng, Quang bật khóc và nói lớn:
– Tao lạy mày đấy! Tao lạy mày đấy!
Và Quang càng tủi thân hơn. Tất cả đã tàn nhẫn xô Quang xuống một cái vực tối đen, sâu hun hút. Quang ở đó sợ hãi, kêu gào một mình, chẳng một ai nghe thấy. Quang thấy tai lùng bùng, mặt đất chao đi. Quang chống tay nằm ngửa người trên đám rễ cây. Quang thấy thân cây sao to lớn, đứng sừng sững trước mặt đang chao đi bên phải bên trái và như sắp đổ ập xuống đè lên người. Quang rú lên, không biết gì nữa.
Sau lần ngất đi giữa rừng, Quang được xếp vào toán tạp dịch. An làm toán trưởng. Toán gồm toàn những người yếu đuối, trong 9 người đã có 5 ông già. Công việc nhẹ nhàng hơn trước. Cả ngày Quang chỉ dọn dẹp ít rác rưởi và chiều chiều đi ven quanh trại nhặt ít củi khô. An hiền, dễ tính nên công việc càng dễ chịu hơn. Tuy nhiên không lúc nào Quang quên mình bị liệt vào thành phần yếu đuối và sở dĩ được chuyển qua toán này vì tình trạng sức khỏe của mình. Cơn đau đớn do bệnh tật gây nên thực ra Quang tự lượng mình có thể chịu đựng được. Cái vai không nhức nhối lắm. Nếu tỉnh táo mà xét thì nó chỉ là một cơn mỏi mỏi, buồn buồn trong xương. Quang có cảm tưởng nếu không nghĩ đến nó hay nếu ở một hoàn cảnh nào đó có thể khinh thường nó thì chắc Quang đã có thể quên nó không khó khăn lắm. Mỗi lần nó xuất hiện thì lập tức Quang nghĩ: “Nó đó! Nó đó!” và sợ hãi. Chính sự sợ hãi làm Quang đau đớn hơn. Sự thường xuyên của nó khiến Quang tự cho mình là người bệnh tật. Quang không sợ sự đau đớn nhưng sợ mình không đủ sức chống chọi đến ngày về. Nó tiêu hao lần sức khỏe của Quang. Những bữa cháo không chất bổ dưỡng, khí hậu độc của miền rừng núi đã gần như một thứ bệnh, Quang không thể nào chống cự nổi với cơn bệnh thứ ba.
Càng sống trong lo âu, Lòng hy vọng càng tăng lên mạnh mẽ và Quang tin mình sẽ được khoan hồng vào ngày lễ sinh nhật bác Hồ. Điều quan trọng là phải chứng tỏ được cho cơ quan biết lòng thật tâm giác ngộ. Quang tự hứa sẽ cố gắng lao động. Vốn dĩ Quang ưa hoạt động, những lúc rảnh việc Quang thường ra suối rửa mương dóc phụ với mấy người đàn bà. Quang nhặt sạch từng chút rác dưới sạp cơ quan. Quang ôm từng bó củi lớn đên độ An phải kêu lên nhắc Quang nhớ đến sức khỏe. Một vài lần Quang tự nhủ khi cơn đau trở lại: “Phải khắc phục, phải tỏ cho cơ quan biết lòng ăn năn, sám hối của mình”. Mỗi chiều nhặt củi về, thay vì đi phía dưới, Quang đi chếch lên gần nhà cơ quan, Quang cong lưng, nhăn mặt để tỏ ra mình đương vác một bó củi lớn hơn những người khác. Quang lén nhìn xem có ai để ý đến mình không, khi bắt gặp ánh mắt ông Ba Lớn hay ông Sáu Côn nhìn lại, Quang luống cuống quay đi để sau đó vui vẻ, hớn hở đến cả nửa ngày trời.
Một buổi tối học tập do toán trưởng đề nghị và sau đó được sự đồng ý của các toán viên, Quang được bầu là một trong năm cá nhân xuất sắc trong trại. Ông Ba Nhỏ ghi tên và phê điểm vào cuốn sổ tay. Đêm đó, Quang thao thức mãi không ngủ, đầu óc tràn ngập những ý nghĩ sung sướng. Quang nhớ là lúc hát bài đoàn ca, Quang đã hát thật to, lần đầu tiên cảm động vì lời hát. An nằm bên cạnh, Quang muốn đánh thức An dậy để cám ơn lòng tốt của An đã hăng hái đề nghị mình. Sau đó Quang bắt đầu nhớ đến gia đình, thấy mình có quyền tô điểm cho trí tưởng tượng những điều tốt đẹp về vợ con, về một vài dự định làm ăn sau này.
Nhưng giữa những ngày tươi sáng ấy, một việc xảy đến làm Quang mất hết phấn khởi.
Những toán cải thiện trong ba hôm liền không kiếm được chút gì để độn vào phần ăn cho trại. Không còn một cây dác nào sót lại trong khoảng rừng này, các bờ suối lớn suối nhỏ cũng không còn bóng một cụm mương dóc. Trại ăn cháo trắng trở lại. Với ba chén cháo lõng bõng nước một ngày, cơn đói lại lập tức lân la mò đến. Mọi người nhốn nháo lên, công việc trì trệ hẳn. Người ta ngồi thở trước những bó cây, những đống lá, những khung nhà đóng dở… Buổi sáng sau khi ăn cháo, họ trở về nằm lì trong trại. Nhân viên cảnh vệ phải phụ lực với anh Bốn Đoàn trưởng vào lôi từng người đi công tác. Ông Đoàn phó luôn miệng la hét những người đến khai bệnh nghỉ. Cơn đói làm mọi người lì lợm, họ kêu rũ cẳng không đủ sức lê một đoạn đường dài cả bảy, tám cây số tới trại mới, đừng nói tới việc cất trại. Hôm thứ tư ông Sáu Côn phải triệu tập một buổi họp toàn trại, đọc bài diễn văn khích lệ tinh thần. Ông nói cơ quan đương xét hồ sơ ân xá cho ngày 19 tháng 5. Nếu trại mới không làm xong, việc ân xá bắt buộc phải dừng lại. Ông tả lại một vài trường hợp đói khổ của dân quân cách mạng để kết luận cái đói mà toàn trại phải chịu ngày hôm nay không thấm thía gì nếu so với những tội lỗi mà mọi người đã phạm. Để chuộc những tội lỗi ấy, mọi người phải biết khắc phục gian khổ tiếp tục hăng say với công tác. Cuối cùng ông vừa khuyến khích vừa ngầm có ý đe dọa:
– Còn ít ngày nữa bà con được ân xá, bà con lại được trở về với gia đình, làng xóm. Con đường cải tạo có dài và có gian nan nhưng bà con đã bước đến đoạn cuối cùng, vậy không nên vì một chút trở ngại cuối cùng mà phải quay đầu đi lộn lại.
Sau bài diễn văn, mọi người đều tỏ vẻ cố gắng. Nhưng cơn đói ác nghiệt theo đuổi từng giờ từng phút làm họ tối chí. Anh Bốn Đoàn khuyên nhủ, la hét rồi đánh dập nhưng họ vẫn lì lợm. Họ bất cần và hết biết sợ uy quyền. Đúng lúc ấy bệnh kiết lỵ lan rộng. Suốt ngày tiếng rên la vang từ đầu này sang đầu khác. Khoảng đất đi cầu bừa bãi phân người, mặt cỏ vương vãi một thứ phân lỏng lầy nhầy như mũi có lẫn máu đỏ. Cơ quan ra lệnh cấm mọi người ăn bậy bạ, uống nước suối. Ông Đoàn phó tối mắt với hộp kim chích. Một thùng nước đun sôi được đặt giữa trại, cấp dưỡng có bổn phận phải làm đầy suốt ngày từ khi mặt trời mọc cho tới tối mịt. Nhưng tình trạng không khả quan bao nhiêu. Tai họa như một cái nón chụp xuống, người ta chỉ có thể vùng vẫy ở bên trong. Số người chết mỗi ngày một nhiều.
Cũng vì vậy, toán Quang càng bận rộn với việc chôn cất. Quang đau vai nên không phải khiêng. An giao việc đào đất. Thật lòng Quang muốn đào một cái hố thật sâu, lòng trắc ẩn như bảo “Hãy chôn cất người ta tử tế vì người ta chết rồi”, nhưng cơn đói làm tay chùng lại và những chiếc hố nông dần. Sau ba ngày ăn cháo trắng, Quang không còn muốn làm gì nữa. Ngày thứ tư vào lúc ngủ dậy, Quang thấy mặt mũi hoa lên, tim đập mạnh, tai lùng bùng. Quang đã té vào đống mền khi đứng dậy. Những ngày kế tiếp, thỉnh thoảng ruột lại cồn lên như có ai đem xoắn lại nhiều vòng. Quang nôn ra một thứ nước vàng vàng lẫn với dãi dớt. Cơn đói như một khúc nước xoáy, Quang bị cuốn vào đó, bị nhận chìm xuống, chới với mất hết tự chủ. Cả ngày Quang quanh quẩn nghĩ tới mấy món ăn: gà quay vàng ngậy chấm với muối tiêu, vịt tiềm nấu với táo tàu, mộc nhĩ, nấm hương… món chả ram ngoài chợ ăn ghém với các loại rau thơm… Rồi những ngày giỗ kỵ ở nhà với những tô canh miến, những khoanh giò lụa, những dĩa chả quế vàng xếp theo hình ngôi sao… Món nào cũng ngon, món nào cũng làm Quang thèm đến dại người đi. Vậy mà có ngày Quang đã không biết hưởng. Cả đầu con gà trống chỉ ghé răng gậm chút da ngoài, một dĩa xôi lớn chỉ ăn được vài miếng nhỏ. Nhiều nữa: quả chuối hơi nhũn ném ra vườn, trái mận chín ăn một nửa, múi bưởi để lây lất trong hộc bàn đến khô đi… Quang tự trách mình phí của một cách ngu xuẩn và cho rằng cơn đói bây giờ chỉ là một hình phạt Chúa dành cho những sự ngu xuẩn đã phạm trước kia. Nhưng đến lúc tột độ thì cơn đói lại đổi qua một bộ mặt khác, dạ dày quen với lối ăn mới, Quang chỉ còn thấy hơi xót ruột mỗi bận ăn xong. Tuy nhiên người mỗi lúc một mệt mỏi, rời rã, chân tay bải hoải, mất hết hơi sức. Mỗi bước đi, người một nặng thêm, Quang run rẩy muốn té về đằng trước. Quang hiểu là mình đương kiệt sức. Mỗi lần đứng trước một xác chết, Quang đều động tâm. Đắp điếm kỹ lưỡng cho người quá cố bao giờ cũng là việc nên làm, nhưng Quang không còn sức để bẩy những tảng đá ngầm, giơ cao ngọn xà beng. Người chết để hở cả chân tay. An phải sai người nhặt đá, vun lá khô lấp lên. Chôn xong một xác chết, Quang thường nấn ná đứng lại cầu nguyện một vài lời. Câu cuối cùng bao giờ cũng có ý phân bua về việc làm của mình. Nhưng rồi từ khi chôn Thảo, Quang hiểu những lời phân bua trước kia là ngớ ngẩn dư thừa. Trước khi đi chôn, Quang đã nhìn Thảo rất lâu nói thầm trong miệng hứa đào một cái hố sâu khả dĩ lấp kín được xác bạn. Quang nghiến răng, dồn hết sức bổ mạnh từng nhát cuốc. Lưỡi cuốc dội lên thành một âm thanh khô sắc khi chạm phải những hòn đá phía dưới. Người Quang rung lên, mồ hôi đổ thành từng dòng trên cổ. Quang ngừng lại khi hơi thở muốn tắt và mắt hoa lên. An đỡ lấy cây cuốc, Quang ra ngồi cạnh xác Thảo thở hổn hển. Quang luồn tay qua khe hở của lớp cây bó, xoa xoa trên người bạn. Sự tiếp xúc của hai lớp da làm Quang xúc cảm. Quang nói nhỏ: “Thảo ơi! Tao phải đào cho mày một cái hố thật sâu, tao phải đào cho mày”, rồi đứng vùng lên. An đang đu cả người nhỏ bé của mình trên đầu cây xà beng để nậy một hòn đá. Quang bước lại nắm lấy thanh sắt cong người vít xuống.
Trời tối dần, màu lá cây mỗi lúc một xậm. Một vài người lên tiếng giục giã. Quang chán nản nhìn xác Thảo được đặt xuống một cái hố nông choèn choèn, đau đớn vì sự bất lực của mình. Những viến đá, những vụn lá, những xẻng đất lấp dần nửa mảnh mền màu nâu xám của Quang chia cho Thảo hôm nào. Quang xúc nốt xẻng đất cuối cùng rải lên lớp lá khô. Mọi người bắt đầu bỏ về. Quang muốn đứng nán lại cầu nguyện cho Thảo vài câu, nhưng nước mắt ngăn lại. Quang khóc, đứt đoạn vì sự mệt mỏi còn lại. An choàng tay qua vai, Quang không kềm hãm được lời nói: “Anh biết là nó tốt bụng, tôi thương nó… đáng lẽ… tôi phải đào… sâu hơn”.
(còn tiếp)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 10)”)