talawas blog

Chuyên mục:

Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 9)

25/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 9)

Tác giả: talawas

Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

(Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4kỳ 5kỳ 6, kỳ 7 & kỳ 8)

Buổi sáng, Quang thức giấc lúc phòng còn thắp đèn. Ngoài trời còn tối, tiếng lá rơi loạt soạt trên mái. Phía bếp, mấy cô cấp dưỡng dậy sớm nấu cháo. Họ gọi nhau ngoài bờ suối, tiếng gọi phảng phất như tiếng gió reo. Bên cạnh, thằng Quý đương ngủ, hơi thở đều đặn, mái tóc xù lên như một mớ rơm trên đầu. Quang nghĩ tới ông Xu, thấy khó hiểu giữa cái việc ông nằm đây tối qua lúc mới lên đèn và cái việc ông nằm bất động. Tối nay dưới đất lớp sâu, không nói không cười. Từ sống sang chết, Ông Xu đã vượt qua như một bước hẫng chân. “Đừng bán con bò… nhớ…” ông còn muốn nói gì sau chữ nhớ? Quang loay hoay tìm cách ghép một câu có nghĩa. Cùng một lúc hình ảnh dĩ vãng kéo đến, Quang nhớ lại những lần gặp ông Xu ngoài ruộng lầm lũi sau đuôi con vật ghì mạnh tay cày. Ông thật hiền hòa, hiền hòa trong cả những ao ước của mình. Vậy mà ông đã chết một cách đau đớn. Quang so sánh cuộc đời mình và cuộc đời ông Xu, tự nghĩ nếu mình có phải chết ở chốn này cũng chẳng có gì đáng ân hận. Quang cầm súng và biết đâu đã chẳng giết người mà không hay biết, còn ông chẳng bao giờ là một sát nhân.

Cái chết của ông Xu trở thành một thứ ám ảnh mơ hồ, dai dẳng làm Quang ngơ ngẩn. Hơn bao giờ, Quang thấy cô đơn, lẻ loi và lo sợ cho viễn ảnh tương lai của mình. Lúc người cảnh vệ xuống gọi tên lên khai suất, Quang đang vơ vẩn nhìn đàn gà bươi đất dưới gốc cây sồi, ngơ ngác bắt tên mình ở miệng người cảnh vệ như bắt gặp một điều tìm kiếm đã lâu. Anh Năm Sự lại cởi dây, mở còng. Quang đứng dậy ngay ngắn vuốt lại áo quần cho thẳng nếp. Thảo ngẩng lên cười chia vui. Quang bối rối nhìn thằng Bí ở góc phòng đương loay hoay gài lại khuy áo.

Bước chân người cảnh vệ đuổi sau, Quang vội vã bước từng bước dài men theo suối. Ông Sáu Cô ngồi trước một cái bàn gỗ mộc mới đóng nhìn Quang hờ hững. Quang bắt đầu mất bình tĩnh, nhịp tim đập rộn lên.

– Ngồi xuống đó!

Ông Sáu vừa nói vừa chỉ chiếc ghế đẩu trước mặt.Quang kéo cái ghế xích ra. Ông Sáu đặt hai tay lên bàn, những ngón tay đan vào nhau, giọng chậm rãi:

– Anh ngồi trong kỷ luật bao lâu rồi?

– Dạ, gần bảy tháng – Quang đáp, lần đầu tiên nhìn thẳng vào mặt ông Sáu.

– Anh đã suy nghĩ hết tội lỗi chưa?

– Dạ, hết.

Ông Sáu xòe tay đặt lên tập hồ sơ, giọng dịu xuống:

– Anh làm thành khẩn hai lần rồi, anh vẫn ngoan cố không khai. Chính sách cách mạng là khoan hồng, cách mạng chỉ muốn anh giác ngộ. Người Việt phải trở về với người Việt. Tôi sung sướng khi bắn được một thằng Mỹ nhưng tôi lại đau lòng khi bắn phải anh. Anh là người Việt. Anh cùng màu da với tôi, anh nói và hiểu thứ tiếng tôi nói. Tại sao tôi lại bắn anh? Không. Không bao giờ tôi bắn anh, tôi chỉ muốn giết thằng Mỹ trong đầu anh Anh đừng để mình đổ máu một cách vô lý về thằng Mỹ ấy. Nó là kẻ thù của ta, nó cướp nước ta.

Ông Sáu ngừng lại cầm tờ giấy lớn kẻ ô đưa cho Quang:

– Cơ quan đã giáo dục anh nhiều lần, anh giác ngộ hay không là ở lần khai này. Anh đừng ngại tội nặng. Cứ khai tất cả những gì anh đã làm. Gia đình, vợ con đang trông ngóng anh ở nhà, anh sớm được về hay không là tùy anh đó.

Ông Sáu ném cây bút chì nguyên tử lên bàn Quang rồi bỏ lên dãy nhà cơ quan. Quang tìm một hòn đá phẳng ngồi viết. Lòng hy vọng chan chứa. Quang cúi xuống nắn nót viết lên dòng kẻ đầu chữ “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam”. Tay cứng ngắt, những chữ viết vượt khỏi dòng kẻ, lên lên xuống xuống. Chữ M hoa có chân dạng ra quá. Chữ A gầy quá, chữ P có cái đuôi dài. Quang ngắm nghía dòng chữ đầu vừa bực mình vừa lo lắng. Quang đặt bút, bóp nhè nhẹ những ngón tay bên phải. Thằng Bí từ chỗ ông Ba Lớn bước xuống đảo mắt tìm một chỗ ngồi. Nó cúi xuống phùng mồm thổi những hạt cát trên mặt phiến đá rồi trịnh trọng đặt tờ giấy xuống. Quang chợt nghĩ đến sự thành tâm của mình trong hai lần khai suất trước. Sự thất vọng lại tràn đến ào ạt làm Quang bải hoải.

Mặt trời mỗi lúc một lên cao, lấp loáng dọi xuống khoảng đất trước mặt những ô nắng loang lổ. Mấy cô cấp dưỡng rảnh việc ra gội đầu ở suối. Đàn gà con mới nở cánh vàng ríu rít theo mẹ trèo lên mô đá Quang nhay nhay đầu bút nghĩ một câu mở đầu về vụ bà Ba Tín. Sự việc thật đơn giản: Quang ăn chịu tiền vịt lộn không trả. Bà Ba đòi rồi chửi bới. Quang nóng giận đánh đập bà. Vậy mà Quang vẫn không nghĩ được một lối diễn tả nào cho có vẻ tự nhiên. Những ngày trong kỷ luật, Quang vẫn tưởng có thể thêm thắt dễ dàng cho sự việc một vẻ bi đát dễ tin, dễ tin ngay cả lúc tả cảnh đánh đập người đàn bà. Trời nóng, Quang cởi nút áo để phanh ngực. Ông Sáu Côn từ trên nhà bước xuống lại gần Quang. Ông nói khuyến khích:

– Rãi rãi mà làm, trễ một chút cũng được, ráng khai hết đi.

Lời nói khích lệ như một mơn trớn bất ngờ. Quang cúi xuống viết thật nhanh không suy nghĩ. Những dòng kẻ lấp dần. Quang nộp tờ khai trở về phòng kỷ luật. Ông Chín già uể oải dướn người lấy cái còng treo trên thanh xà ngang. Thảo nằm chùm mền tận cổ, nhìn Quang nhăn nhó:

– Sao vậy?

Quang hỏi. Thảo khẽ lắc đầu, đáp nho nhỏ:

– Đau bụng, vừa xin phép đi cầu, ra nước không.

– Hết chưa?

– Còn đau lâm râm hoài.

Quang nằm xuống, sự mệt mỏi nhẹ nhàng lan ra khắp người làm Quang dễ chịu. Thảo hỏi về chuyện khai suất. Quang đáp như không chủ tâm trả lời:

– Khai sạch bách. Gặp ông Sáu Côn.

Thảo lên cơn đau rên nho nhỏ trong miệng kiểu một đứa trẻ con ưa nhõng nhẽo. Quang hít một hơi dài, nghiền ngẫm lại những điều vừa khai. Ngoài suối, toán cải thiện đã về, tiếng mấy mụ đàn bà lao xao chia phần mương dóc đem đi rửa.

Quang lẩm nhẩm lại lời cam kết trong tờ thành khẩn: “Tôi cúi đầu cam kết với cơ quan, tôi đã hoàn toàn khai đúng sự thực, không bao giờ dám dối trá manh tâm qua mặt cơ quan. Nếu sai lời, tôi xin chết không toàn thây. Xin cơ quan chứng giám cho lòng tôi, tôi nguyện từ rầy sắp tới quay đầu về chính nghĩa để phục vụ nhân dân, căm hờn giặc Mỹ. Cúi xin cơ quan soi xét cho tôi sớm được về đoàn tụ với gia đình”. Quang sung sướng thấy lời cam cam kết văn vẻ tha thiết, tưởng như ai đọc đến cũng phải cảm động, và mỉm cười đắc ý về sự khôn ngoan của mình. Viễn ảnh một ngày về tốt đẹp lại lởn vởn trong trí làm Quang ngây ngất. Quang sẽ lập một cuộc đời mới, ở cuộc đời đó, Quang coi thường đói rét, cực khổ. Giã từ đời dân vệ Quang sẽ làm đồng, trồng khoai, trồng mì, trồng bắp. Quang sẽ dành tiền mua thêm ruộng cày. Đến mùa, những cánh đồng trải rộng như mặt biển với những bông lúa vàng. Quang sẽ tự tay gặt gánh về sàng sảy. Những hạt thóc to và mẩy vãi khắp sân, đầy ngõ…

Buổi chiều qua đi bên cạnh những ao ước của Quang và bóng đêm rủ xuống nhẹ nhàng như có ai vung tay thả bức rèm thưa. Ông Đoàn phó bước vào lúc người trực vừa thắp ngọn đèn chai. Ông đứng thẳng, im lặng, quàng tay ra sau, hắng giọng theo một thói quen máy móc trước khi đọc biên bản cái chết của ông Xu. Ngoài việc đổi tên họ, những lời lẽ y hệt như trong tờ biên bản cái chết của cụ Chắc. Quang được ký vào dưới tư cách một chứng nhân có những liên lạc gần gũi của người trong cùng xã.

– Ít lâu nay – ông Đoàn phó nói vừa trịnh trọng giở hai tờ giấy in khổ lớn – bà con ngồi đây chắc cũng nóng lòng về việc nhà cửa cùng tình hình chiến trận. Sáng nay, tôi được cơ quan giáo dục đưa cho bản tin tức từ mặt trận gởi về, tôi xin đọc lớn để bà con cùng nghe và lãnh hội.

Ông quay lại ra dấu cho anh Mười Máy giơ cao ngọn đèn rồi lại hắng giọng:

– Tin Bình Định: Để thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam đặt gông cùm lên đầu lên cổ người dân Việt, giặc Mỹ và bọn lính đánh mướn Nam Triều Tiên, trong thượng tuần tháng Hai vừa qua, đã ào ạt mở từng đợt hành quân vào các làng xã giải phóng, ỷ vào súng đạn tối tân, chúng tưởng đã nắm chắc phần thắng, nhưng chúng không ngờ đã gặp phải một trở ngại lớn làm chúng tiêu tan cái giấc mộng ăn cướp của mình. Đó là lòng yêu nước cao độ và tinh thần bất khuất của quân dân ta. Kết quả chúng đã rước lấy một hậu quả nhục nhã: Ngay từ phút đầu quân dân ta đã tiêu diệt gọn một trung đoàn địch, phá hủy 72 chiếc xa bọc thép, bắn hạ 18 phi cơ lên thẳng. Quân ta tịch thu hơn 2.000 súng đủ loại và đạn dược. Đặc biệt trong trận này, đồng chí Võ Văn Bê, tiểu đội trưởng tiểu đội chống máy bay mặc dầu bị thương nặng cũng đã anh dũng dùng những phút cuối cùng của đời mình đổi lấy một phi cơ siêu thanh của địch.

Nhiều tiếng vỗ tay nổi lên giữa khoảng thời gian trống của hai mẩu tin. Ông Đoàn phó tiếp tục đọc hết một vài tỉnh khác: Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Nam, Ninh Thuận. Tiếng vỗ tay vẫn nổi lên đều đều  vào mỗi lúc dứt một mẩu tin. Ngoài mẩu tin đầu, Quang ít chú ý đến những thành công về chiến trận ở những tỉnh sau. Tình hình chiến trận với những con số đo lường thắng bại không ở xã Quang, ở thôn Quang không ăn nhập gì tới Quang. Ông Đoàn phó sau khi ngừng lại đốt một điếu thuốc bắt đầu đọc đến phần bình luận. Bài bình luận nói đến những yếu tố tất thắng của cách mạng.

“Đả đảo! Đả đảo!” Tiếng mọi người hô bên cạnh làm Quang giật mình. Ông Đoàn phó nhếch miệng cười trước khi đi ra, đầu lắc lư theo mỗi bước chân. Quang quay sang Thảo gợi chuyện. Thảo trả lời ầm ừ như còn mệt mỏi vì cơn đau hồi chiều. Quang nghĩ tới chuyện khai suất nhưng càng lúc càng thấy đầu óc hỗn độn, trống rỗng hơn. Mọt con rận bò trên sống lưng buồn buồn. Quang im lặng theo dõi bước chân của nó không động đậy. Cơn giận bốc lên. Con rận bò mất khi đến đường viền áo phía dưới thân. Quang nghĩ bao giờ ra tự giác, tay không bị còng, sẽ cởi áo bắt giết tất cả những con rận hút máu Quang và nghĩ tới cái thú được phơi mình dưới nắng, chân duỗi dài thoải mái, siết mạnh những con vật nhỏ bé trong móng tay. Nhưng dường như trong lúc trí tưởng tượng đang hoạt động đó, Quang vẫn đinh ninh có một điều không hay mà Quang không dám nghĩ tới. Quang ngủ quên đi mơ thấy Nhi bị mấy người lạ mặt đeo súng rượt đuổi. Nhi vừa la bai bải vừa băng mình len lỏi trong một cánh đồng rộng có lúa mọc cao.

Quang giật mình thức dậy, thở hổn hển, tim đập mạnh trong lồng ngực. Thảo thức từ hồi nào đang ôm bụng rên rỉ. Anh Năm Sự ngồi cạnh  ngọn đèn, bóng lửa chập chờn lung linh in bóng anh lên vách. Thảo gọi ê a:

– Anh Năm, thôi mà, cho phép tôi đi.

– Không được nói hoài, sắp sáng rồi.

Anh Năm Sự cất tiếng gắt. Thảo vẫn lải nhải:

– Đau quá đi, tôi đâu muốn chi vầy. Làm phước cho tôi một lần đi anh Năm!

– Câm đi! – Anh Năm Sự tỏ vẻ bực bội thực sự – Tía ai dám nới dây cho ông đi cầu giờ này.

Phía gần cửa sổ có tiếng ông già Tộ lúng búng ho trong mền. Quang quay sang dịu dàng:

– Ráng chút đi, sáng rồi, đau lắm sao?

Thảo không đáp, người cong gập lại rên ư ử như một con chó con.

Đột nhiên Thảo ưỡn người la lớn:

– Anh Năm, bứt rồi, tôi bứt rồi!

Mùi phân xông lên ngột ngạt. Nhiều người tỉnh dậy chửi thề, nhổ nước miếng phì phì xuống sạp. Quang úp lòng bàn tay lên mũi. Mùi hôi thối xen lẫn vị tanh tưởi làm Quang buồn nôn. Anh Năm Sự lại cởi dây cho Thảo dọn dẹp chỗ nằm. Thảo thay quần vò viên vất qua khe sạp. Quang đùn hẳn tấm mền sang cho Thảo đắp, nằm thao thức mãi cho tới lúc trời sáng hẳn. Thảo xin phép ra suối múc nước dội chỗ dơ. Ông Chín già lúc ăn cháo xin giùm cho Thảo hai viên thuốc. Thảo từ lúc uống thuốc có vẻ đỡ, nằm quấn mền quanh bụng kể lại cơn đau ban tối. Thảo cười lấy tay vỗ nhẹ vào tấm mền:

– Thiệt may chớ, tao cứ ngỡ nó dính tùm lum vào cái mền của mày.

Đột nhiên mặt Thảo xịu lại, thở dài:

– Bây giờ tao mệt hết sức. Ớn quá, chắc rồi tao cũng theo ông Xu.

Quang tìm cách an ủi nhưng Thảo vẫn giữ nguyên vẻ thất vọng, kể lại sự ngạc nhiên của mình khi không nhấc nổi thau nước. Nhìn bộ mặt xanh mướt với những sợi tóc lù xù bết vào trán của Thảo, Quang thấy bạn thật dễ mến, đáng thương. Thảo vẫy tay ra hiệu cho Quang cúi xuống, rồi đặt tay lên đùi, giọng buồn buồn:

– Tao hết hy vọng rồi, mày được về nhớ tin cho bà già tao biết.

Quang ngồi ngay người lên định nói. Thảo giơ tay phác một cử chỉ ngăn cản:

– Khoan, để tao nói! Ngộ nhỡ tao chết mày kiếm con Tư nói cho nó biết tao vẫn thương nó. Biểu nó cứ đi lấy chồng. Nếu chết vào giờ linh tao sẽ phù hộ cho nó và bà già tao… À mà mày nữa chứ, nhớ nghe!

– Im đi, mày không nên nói gở!

Mặt Quang cau lại, Thảo cãi:

– Tao nói phòng xa mà, chắc gì đã chết.

Thảo rút tay mình khỏi đùi Quang, mân mê nghịch cái nút dây buộc sạp. Quang chép miệng, cố gắng đo lường độ thất vọng trong dáng điệu dửng dưng của Thảo.

Người cảnh vệ xuống gọi Quang lên khai suất. Trừ thằng Bí còn có thêm hai người nữa được gọi lên.

Ông Sáu Côn ngồi chống tay trên mặt bàn, vẫn với ánh mắt lạnh lẽo, trước mặt là một xếp giấy dày. Lúc ông chỉ dẫn cách làm thành khẩn và lập lại những lời khuyên với người vừa được gọi, Quang đứng cúi mặt dí dí ngón chân vẽ một đường vòng cung lên mặt đất ẩm. Thỉnh thoảng Quang liếc nhìn ông, thấy ông thật đẹp tướng với vầng trán cao, cái cằm vuông và rộng. Nếu không có sợi gân xanh hằn trên trán và vết sẹo ở gò má, chắc ông có vẻ hòa nhã hơn. Quang nghĩ đến đôi mắt lớn, buồn buồn, làn môi nhỏ của bà Sáu và lờ mờ tưởng tượng đến một cuộc tình duyên.

Người vừa được gọi bỏ đi với tờ giấy lớn vừa dạ dạ. Quang ngồi xuống ghế trong một dáng điệu sợ sệt, rụt rè. Ông Sáu giở tập hồ sơ lấy tờ giấy thành khẩn trải lên mặt bàn. Quang liếc nhìn những dòng chữ bằng mực đỏ phê chi chít ngoài lề và phần giấy trống còn thừa ở cuối trang. Ông Sáu xòe tay áp lên mặt giấy ngẩng lên hỏi:

– Anh đã khai hết rồi chứ?

– Dạ chắc – Quang trả lời bối rối.

Ông Sáu cười nhạt nhìn lại vào tờ giấy. Quang rùng mình nắm chặt hai tay vào nhau.

– Trong khi đi dân vệ anh làm gì?

– Thưa cơ quan – Quang đáp – em bảo vệ làng xóm, em đã khai vậy. Hồi đó người ta bảo em làm vậy.

– Được, tôi hiểu, tôi chỉ muốn hỏi ngoài ra anh còn làm gì nữa?

– Dạ em chơi bài cào, xì lác và ăn vịt lộn của bà…

– Tôi không hỏi chuyện đó! Đừng làm bộ ngớ ngẩn.

Ông Sáu đập mạnh tay xuống bàn, cây bút nguyên tử tung lên rơi xuống lăn một đoạn dài trên bàn. Quang ngửa người ra sau miệng lắp bắp nói không thành tiếng.

– Anh nhớ tên Trương Văn Chuộc ở gần nhà thờ chứ?

– Dạ nhớ.

Ông Sáu bĩu môi:

– Phải, quên sao được. Chính anh dẫn mấy thằng dân vệ ác ôn đến bắt người ta mà.

– Dạ, tại ông xã khiến vậy, e không chủ tâm – Quang cãi.

Ông Sáu gay gắt:

– Anh đừng chối! Anh tưởng cách mạng mù đó hả? Anh cho vợ người ta mấy con cá rồi lân la trò chuyện để dò xét tâu lên xã.

Quang luống cuống giơ một tay lên cao:

– Em xin thề không có. Ông xã nói em mới biết. Mấy con cá lâu lâu em mới đi liệng lựu đạn…

Ông Sáu không để Quang hết lời:

– Thế tại sao vừa vào nhà người ta anh đã biết có hai trái lựu đạn giấu trong đít lu nước?

– Dạ, ông xã nói.

Ông Sáu chồm tới trước, nói rung cả lồng ngực:

– Câm đi!Đồ ngoan cố! Chỉ có mày lui tới nhà người ta mà ông xã lại biết được? Mày nói thiệt đi, nói mau! Mày đã nhận được bao nhiêu tiền thưởng? Tụi Mỹ bố thí cho mày bao nhiêu? Khai mau!

Giọng nói oang oang, lồng lộng xoáy vào tai. Quang úp mặt vào bàn tay khóc tức tưởi. Ông Sáu ngồi xuống thở, rút khăn tay lau trán. Một chút sau, chờ đợi cho cơn giận nén xuống, ông tiếp tục nói có vẻ cố gắng lấy lại bình tĩnh:

– Thôi được, qua vụ thứ hai!

Ông nghiêng người lục lọi tập hồ sơ. Quang chùi nước mắt trên tay áo.

– Anh cũng nhớ vụ càn quét ở Kiến Sơn chứ?

Ông hỏi, Quang đáp không suy nghĩ:

– Dạ nhớ! Hôm đó trung đội em phải đi theo hai tiểu đoàn bộ binh từ trên tỉnh về để hướng dẫn đi đường.

– Vậy bè lũ ác ôn các anh bắt những người dân trong xã Kiến Sơn nhốt trong nhà thờ làm gì, bốn ngày sau mới cho người ta về?

– Dạ, ông quận nói để điều tra.

Ông Sáu nhún vai:

– Ai đánh đập những người dân ấy?

– Dạ, mấy ông trên quận.

– Còn dễ thường anh không?

– Em có đập một người đàn ông hai cái báng súng vì ông ấy ỉa gần đầu nhà thờ.

Lần thứ hai ông Sáu nhún vai:

– Phải, không có gì cả, không khai gì hết. Cách mạng mù, cách mạng không có tai.

Cơn giận lại bùng lên. Ông Sáu nói thật nhanh, càng nói càng gay gắt như muốn trút tất cả sự căm hờn của mình vào người nghe. Ông tì tay vào thành bàn, chồm cả nửa người về phía trước, cằm sát xuống mặt bàn. Ông bắt đầu mày tao với Quang và lý luận đến nỗi một con vật cũng không thể không tin là Quang không nhúng tay vào một tội ác nào. Một người ham bài bạc, chơi bời đến nỗi phải ăn hàng quịt một người đàn bà nghèo buôn thúng bán bưng rồi lại dã man đánh đập lúc người ta đòi nợ là một người vô liêm sỉ, không có lương tri và một người như vậy thì không thể nào khước từ những hành động dã man khác.

Những lời nói cay độc của ông Sáu vang lên như cuốn theo cả những hận thù, câu nọ nối câu kia vỡ toang ở bên tai. Quang ngồi chết cứng người trên ghế, cảm tưởng như mình bị một cơn lốc cuốn từng mớ cát tạt vào mặt. Mắt hoa lên, Quang gục đầu xuống bàn bật khóc. Ông Sáu đứng dậy, gập mạnh tập hồ sơ, đập mạnh tay xuống bàn nguyền rủa:

– Đồ bợ đít Mỹ! Đồ ác ôn! Chỉ còn một cách là chặt cái đầu mày đi mày mới hết ngoan cố. Tao thề là tao sẽ chẳng ân hận một chút nào khi giết mày.

Cuối cùng ông đứng lên gọi người cảnh vệ dẫn Quang trở về phòng kỷ luật. Quang lảo đảo đứng dậy, chuệnh choạng bước theo dòng suối. “Tại sao tôi khổ thế này? Tại sao không ai tin tôi? Tôi có làm gì đâu, tôi vô tội!” Quang tức tưởi nói sau lưng người cảnh vệ.

Thảo đón Quang bằng con mắt e ngại. Đợi cho ông Chín khóa còng đi khỏi, Thảo thăm dò:

– Sao vậy?

Quang không đáp, nằm úp mặt xuống bao quần áo. Mọi vật chung quanh đảo lộn, trời đất tối sầm lại, Quang khóc nức lên, hai tay cào vào bao quần áo. Trước mặt Quang là một bức màn màu đen với hàng ngàn chấm sáng đảo lộn. Một lát sau, Quang ngừng khóc, nghĩ đến những lời chua chát của ông Sáu Côn, cái bĩu môi khinh bỉ của người cảnh vệ.

Chẳng ai tin được là Quang thành thật. Loài người thật độc ác, ngu xuẩn và cực đoan. Họa may chỉ có Chúa, đức chúa Trời nhân từ hiền hậu ngự ở một nơi nào đó trên cao. Quang mím môi, muốn gào lên. “Lạy Chúa, Chúa làm chứng cho con là con không làm gì cả”.

(còn tiếp)

Bình luận

Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 9)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>