talawas blog

Chuyên mục:

Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 8)

24/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 8)

Tác giả: talawas

Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

(Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4kỳ 5kỳ 6 & kỳ 7)

Phần bốn

Hết bắp, trại bắt đầu ăn cháo. Mỗi buổi sáng một toán cải thiện được cắt vào rừng và chỉ quá trưa họ đã gánh về từng bó mương dóc, thêm vào đó bốn năm cái củ hũ đác trắng nõn. Một toán đàn bà chờ sẵn đem ra suối rửa. Lá mương dóc lớn bản, đầu phình ra, đuôi thắt lại như hình trái tim, nấu với cháo mau chín ăn nhơn nhớt như lá mồng tơi. Nhưng mọi người vẫn ham tìm những miếng củ hũ ngọt và dòn. Phần ăn mỗi người dễ hơn ba chén đặc. Bữa đầu ăn cháo, ông Xu xoa bụng, kêu lưng lửng no. Quang không hiểu mình no hay đói, chỉ chắc chắn là còn thèm ăn. Thảo lần nào ăn xong cũng quả quyết mình còn có thể ăn bốn năm phần nữa. Thảo có lý vì chỉ quá trưa là mọi người đã thấy bụng cồn cào. Ông Xu cười cắt nghĩa:

– Ăn cháo thì bao giờ cũng không vững dạ bằng cơm, cái giống mương dóc lại mau tiêu, ăn vô đi đái vài lần là hết.

Rồi ông kể chuyện hồi nhỏ có lần ông phải theo gia đình đi lánh giặc Pháp ở trên núi cũng phải ăn mương dóc thay rau. Quang chỉ chú ý đến đoạn ông kể đốn củ hũ dừa nấu canh ăn mềm và ngọt như ăn măng. Quang nhớ đến hôm giỗ, Nhi ninh măng với giò heo. Măng luộc sẵn cho tiết hết nước đắng, ninh với giò heo chặt từng khúc nhỏ: một chút vôi cho nồng, vài cây hành lá xanh xanh rải trên mặt. Quang tưởng tượng có một tô cơm nguội chan với nước canh măng ngọt lịm, có mỡ váng lên. Nước miếng ứa ra trong miệng. Quang nghĩ hoài tới món canh măng cho tới lúc cơ quan bắt đầu làm việc Quang mới ngồi ngay ngắn chờ gọi tên mình.

Từ hôm cơ quan bắt đầu xét hồ sơ tới hôm nay, kỷ luật đã mười sáu người được ra tự giác. Hết sáng rồi chiều. Quang cong người ngồi nhìn lên dãy nhà cơ quan xem ông Ba Lớn lục từng xấp giấy dày. Mỗi lần người cảnh vệ xuống gọi tên, Quang lại mừng rỡ, hồi hộp rồi thất vọng. Tuy nhiên Quang vẫn tin mình sẽ được gọi như tin một điều tất nhiên.

Nắng nhạt dần trên khoảng cát ven suối dẫn lên nhà cơ quan. Quang nhìn những vụn vàng lấp lánh trên mặt cát ướt, mịn, tự hỏi lúc nào mình mới được gọi, được dẫm chân trên mặt cát ướt đó? Một cô cấp dưỡng từ bếp đi ra với cái rá gạo. “Chiều rồi!” Quang nghĩ vậy và thấy buồn buồn với cảm tưởng mình đã sống cả ngàn buổi chiều quen thuộc trong một khung cảnh sinh hoạt quen thuộc, và giữa cái đều đặn của ngày tháng trôi đi Quang không thay đổi gì ngay cả những đau đớn, buồn tủi, ước mong, hy vọng cũng chỉ là những cái gì quen thuộc được lặp đi lặp lại.

Ông Xu thức giấc sau một giấc ngủ chập chờn. Ông nhìn Quang mỉm cười. Ông kể lại chuyện vừa mơ thấy con bò nhà ông đẻ ra một con nghé. Quang sợ hãi nhìn đôi mắt sâu trũng của ông, bàng hoàng như lần này là lần đầu tiên Quang bắt gặp vẻ mất thần trong đôi mắt ông. Ôg Xu hỏi đến việc kêu người ra tự giác. Quang đáp chiều nay có lẽ cơ quan không làm việc. Ông Xu nói:

– Tôi không hiểu tại sao lại mơ kỳ cục vậy. Tôi chỉ mong mơ thấy mình về nhà đi cày, ruộng tôi chắc đất cứng hết rồi.

“Có lẽ ông sắp chết rồi, nhưng cái đã xảy ra cho ông vậy?” Quang hồi tưởng lại những ngày đã qua như thể tìm một chứng tích cho vẻ tiều tụy của ông Xu bây giờ. Mới đầu là những cơn sốt kéo dài từ ngày nọ sang ngày kia. Ông Xu yếu dần. Da ông xanh mướt, mắt trũng xuống, hai xương cổ nhô cao lên. Vài viên camoquine của cơ quan cho không đủ làm cơn sốt thuyên giảm. Người ông như một cành cây cảnh cắm trong bình ngày càng héo quắt đi. Trí nhớ ông bắt đầu lú lẫn, ông quên cả những điều vừa nói, quên cả tên mấy người cảnh vệ. Chỉ những lúc tối ngồi nhắc chuyện nhà cửa ruộng đồng ông mới tỏ ra tỉnh táo. Những lúc áy ông giống một cụ già sắp kề miệng lỗ, ham kể lại cho con cháu những chuyện xưa. Ông nhớ tỉ mỉ từng việc ở nhà và lặp lại cái dự định trồng đậu xanh, dưa leo và lúa nếp của ông. Ông nói nếu được tha về, ông sẽ khuyên thằng con trai thôi lính, ông sắm cho nó một cái xe ngựa vừa chở được thóc vừa chở được khách hàng, như vậy với tính ham rong chơi, thỉnh thoảng nó có thể ngủ lại trên thị xã, nhậu nhẹt hay coi hát với bạn bè. Ông tỏ vẻ cương quyết trong việc thực hành những dự định tương lai của mình: “Nếu tôi nói nó không nghe, tôi sẽ vô đơn từ nó, như vậy tôi cũng không có tội gì với cách mạng cả. Nó làm tôi khổ nhiều quá rồi”. Rồi ông dịu giọng khuyên Quang nếu được tha về cũng chỉ nên đi làm ruộng. Giọng ông nồng nàn:

– Cách mạng mạnh lắm, thế nào cách mạng cũng thắng, anh tin tôi đi! Hồi trước cách mạng chỉ có gậy tầm vông mà cũng đuổi được Pháp huống chi bây giờ có đủ cả súng ngắn súng dài.

Quang cười, thầm nghĩ: “Thì ta có ham đi lính hồi nào đâu”.

Ông Sáu Côn bước vào phòng đưa mắt nhìn từng người. Mũi ông thun lại như vừa ngửi thấy mùi hôi hám. Mọi người im lặng ngồi ngay ngắn. Ông Xu run run gỡ tấm mền, chống tay nặng nhọc ngồi dậy, nhưng cánh tay gập lại và ông lại nằm xuống.

– Khỏi cần, ông cứ nằm yên đi, ông mệt lắm sao, bệnh gì vậy?

Ông Sáu vừa nói vừa tiến lại gần. Ông Xu thều thào:

– Dạ… thưa cơ quan… tôi đương… rét…

Ông Sáu lộ vẻ xúc động ra lệnh tha còng cho ông Xu. Trong lúc ông Chín già loay hoay với chùm chìa khóa, ông đi chậm rãi quanh phòng. Quang nhìn ông muốn nói một câu nào đó thật tha thiết xin ông hiểu đến hoàn cảnh và sự thành tâm của mình, nhưng nỗi lo sợ vu vơ và một lần nữa có lẽ chính vì sự tha thiết đó làm Quang không mở lời được. Ông Sáu bước ra ngoài bình thản như một người nhàn nhã thả bước dạo chơi. Ông Xu đã chùm khăn kín mít bắt đầu rên, cho mãi đến giờ đi cầu tiểu.

Ngoài kia, cấp dưỡng bắt đầu bưng ra sân những chậu cháo nóng nghi ngút. Ông Chín già lấy giùm phần cháo cho ông Xu và nhờ Quang cho ông ăn giùm. Quang húp nhanh từng gụm cháo nóng rồi vội vàng trở vào phòng. Hơn ba giờ Quang thấy có bổn phận phải săn sóc ông Xu mà chắc chắn không vì lòng trắc ẩn. Ông Xu đã hết sốt, nằm nhắm mắt đầu lả sang một bên, mồ hôi còn lấm tấm trên trán. Quang kêu khe khẽ, ông Xu mở mắt nhìn lờ đờ. Quang xúc một xỉ cháo đổ vào miệng. Ông Xu nhăn mặt nuốt rồi ra hiệu từ chối. Quang nói:

– Ăn đi ông Tám, ăn đi. Sáng ông đã nhịn rồi mà.

Mọi người ăn xong lần lượt bước vào phòng. Ông Xu nhắm mắt lại như ngủ yên. Quang bối rối gọi: “Ông Tám! Ông Tám!” và lấy xỉ cháo kê vào miệng. Thảo ngồi xuống bên cạnh lấy tay đập đập vào ngực ông nói như dỗ dành:

– Ăn đi ông Tám, không ăn sao khỏi được, ráng lên mà! Chút thôi, há miệng ra nào!

Nhưng môi ông vẫn mím lại. Ông Chín già thở dài:

– Thôi để bao giờ ông ấy tỉnh hãy cho ăn.

Quang ngần ngừ ngó chăm chăm vào làn môi tím khô của ông Xu có cảm tưởng sẽ chẳng bao giờ ông tỉnh. Nước mắt muốn trào ra, Quang quay lại móc lon cháo lên vách.

Trời tối. Bóng đêm chụp xuống thật nhanh. Quang và Thảo nằm canh chừng đợi ông Xu tỉnh dậy. Quang nghĩ giá có sữa chắc ông Xu chịu uống, ông sẽ gượng lần và nếu có thuốc uống hàng ngày mới có hy vọng khỏi được. Nhưng ở đây không có những thứ đó, ông chỉ nằm chờ chết. Ý nghĩ đó làm lòng Quang thắt lại, nước mắt ứa ra chảy dài xuống tận kẽ tai. Quang khóc yên lặng trong bóng tối và ngủ thiếp đi.

Nửa đêm, Quang tỉnh dậy. Ông Xu trở mình nói lảm nhảm trong miệng. Quang lắng nghe nhưng không hiểu ông nói gì. Quang nghĩ ông ngủ mơ. Phía chòi canh có tiếng mấy người cảnh vệ nói chuyện và khúc khích cười. Quang nhận ra tiếng anh Sáu Tiêm:

– Thành thật mà phê bình thì bài thơ của đồng chí hay mà điều có mấy câu đầu nghe không ổn.

Rồi tiếng anh Bốn Thải:

– Tôi công nhận nhưng khó sửa quá, sửa thì lại không hợp vần…

– Thôi bây giờ đến phiên đồng chí Thanh.

– Tôi ấy à? Ờ thì – Anh Bốn Thanh ngập ngừng – bài này tôi làm lâu rồi, hồi mới gia nhập lực lượng vũ trang, chắc là không hay nhưng dù sao tôi cũng xin đọc để các đồng chí phê bình.

– Hoan hô đồng chí Thanh! Tiếng nhiều người reo lên.

Anh Bốn Thanh bắt đầu đọc, mới đầu hơi ấp úng nhưng càng đọc càng có vẻ say sưa. Cảnh nhà cháy, người chết tả trong bài như vụt kéo anh về một cảnh sống nào đó trong dĩ vãng, hồi sinh lại những rung cảm đã có ngày xưa. Đến đoạn tả cảnh từ biệt người yêu, anh đọc nhỏ và chậm hơn để rồi đột ngột cao lên ở mấy câu cuối:

…Trăm năm tôi nhớ lời thề,

Dẹp tan quân cướp tôi về với em.

Cờ sao rực rỡ bóng đèn

Cầm tay tôi lại cùng em ước nguyền.

Anh Bốn dứt lời giữa những tiếng vỗ tay. Quang thấy thích thú như vừa khám phá được tâm tình thầm kín nhất của một người quen. Bài thơ như còn ám ảnh trong trí, Quang nghĩ tới một ngày nào đó thanh bình, thôn xóm không còn tiếng súng, trẻ con reo cười mỗi sáng cắp sách đến trường. Ngày thanh bình đó, Quang biết chắc là dầu có trông thấy ở đầu đường cuối ngõ bất cứ một màu cờ nào, cũng vẫn giữ trọn được niềm vui.

Quang ngủ thiếp đi lúc nào không biết và gần sáng bị đánh thức vì tiếng rít của máy bay phản lực vừa bay qua. Bên cạnh Thảo vẫn ngủ yên. Ông Xu thở khò khè nặng nhọc. Tự nhiên Quang muốn được vuốt ve, săn sóc ông như vuốt ve săn sóc một người thân yêu, gần gũi. Hai tay bị còng, Quang giơ một chân gác lên người ông. Qua lớp mền, Quang nhận ra ống chân nhỏ gầy gò của ông. Quang để nguyên chân mình trên ống chân đó, người rung động trong một thứ tình thương đẹp và lạ.

Không khí lành lạnh. Tiếng côn trùng về sáng vang lên uể oải, rời rạc trong các bụi cây. Trời mờ mờ rồi sáng hẳn. Trại bắt đầu thức dậy với những công việc hàng ngày. Bà Sáu Côn vo rá gạo ở mé suối. Ông Ba Lớn ngồi súc miệng với ca nhựa màu xanh. Mấy cô cấp dưỡng chia những phần cháo sớm cho những toán công tác trong rừng… Ông Xu đến giờ cầu tiểu vẫn còn nằm mê man trong chiếc mền rộng. Thảo lấy tay lay gọi ông nhiều lần nhưng ông như không nghe thấy gì, nằm bất động như một xác chết. Ông thở phì phì, hơi thở từ mũi và miệng thoát ra nóng hầm hập, bọt trắng xủi ra hai bên mép. Mọi người im lặng bu quanh ông. Quang nhìn những sợi tóc bạc lốm đốm trên đầu ông liên tưởng đến những sợi tóc bạc của cụ Chắc, và buộc miệng nói như trong cơn mơ.

– Ông ấy chết rồi!

Một vài người nói theo: “Phải, chết rồi! Tròng mắt đảo đi rồi!” vừa lấy tay vạch mắt ông.

Sau giờ ăn, ông Đoàn phó lên thăm bệnh. Tấm mền được kéo ra một bên. Quần ông Xu ướt đẫm. Mùi nước tiểu bốc lên khai nồng làm Quang nhăn mặt. Ông Đoàn phó đuổi mấy người bu quanh cho thoáng khí rồi bắt đầu xem mạch. Ông lấy tay gõ gõ vào bụng và ngực ông Xu, sờ tay lên trán, ấn mấy đầu ngón tay lên đường gân máu ở cổ tay, đầu nghiêng nghe ngóng. Quang chăm chú nhìn, hồi hộp như chính mình là bệnh nhân.

– Chịu thôi, đuối quá rồi – ông Đoàn phó vừa nói vừa lắc đầu tỏ dấu thất vọng – nhưng dầu sao cũng cố xem, để tôi lên trình cơ quan xin thuốc.

Quang nghĩ bụng: “Chẳng có thuốc nào bằng sữa hộp, dầu có tỉnh lại mà ăn cháo mương dóc thì cũng đến chết lần thứ hai”. Ông Chín già và người trực khiêng ông Xu ra một góc phòng, thu xếp cho ông khoảng trống. Ông Đoàn phó trở lại mang theo một viên thuốc màu vàng. Ông đem mài trong một chiếc chén con rồi lấy xỉ cạy miệng đổ vào. Tuy tuyệt vọng nhưng Quang vẫn mơ hồ mong ông Xu tỉnh lại với viên thuốc đó và yên lặng ngồi chờ.

Cơ quan bắt đầu làm việc. Có hai người được gọi lên. Quang nhìn họ bước qua ngưỡng cửa ngạc nhiên không tìm lại được nỗi cảm xúc mọi ngày.

Gần trưa, lúc toán cải thiện về đến trại, ông Xu lên cơn sốt. Ông quằn quại như đương phải trải qua một cơn đau đớn khủng khiếp. Ông lại rên rỉ và nói lải nhải. Hình như ông gọi tên Quang nhiều lần. Lúc cơn sốt giảm đi, giọng ông nghe rõ hơn. Ông gọi “Qua ơi! Qua ơi!” Ông Chín lại cởi dây cho Quang:

– Lại nghe ông ấy nói gì.

Giọng nói và nét mặt buồn buồn của ông Chín làm mọi người cảm động. Quang lại đặt hai tay lên vai ông Xu lay nhè nhẹ. Ông Xu nhướng mắt nhìn Quang trừng trừng. Con mắt hết vẻ linh hoạt, không biểu lộ một chút sức sống. Ông nói ú ớ, lưỡi ríu lại, hai môi lập bập vào nhau. Quang cúi xuống sát hơn. Ông Xu lặp đi lặp lại một câu chỉ có nửa chừng. Tiếng nói thoát ra thành những âm thanh chói tai, ngọng nghịu: “Đừ…ừng… bán… con… bò… nhớ…” Đột nhiên ông nhăn mặt, câu nói ngừng lại ở chữ “nhớ” và ông la lên: “Ớ… ớ… ớ…” Tiếng la lớn tưởng như vọng tới tận nhà cơ quan, mỗi lúc một thảm thiết như tiếng một con heo bị chọc tiết. Một người cảnh vệ đi xuống đứng tựa vào cửa nhìn, vẻ tò mò. Quang kinh hoàng nhìn cái lưỡi xám ngắt của ông Xu, cứng ra trong vành miệng mở lớn. Âm thanh tiếng la mỗi lúc một xoáy vào óc chao chát, ghê rợn. Hình như Quang muốn làm một việc gì đó, vỗ về, săn sóc hay bịt miệng lại? Quang không nhận định được việc làm nên chỉ lờ mờ cảm nhận được lòng ham muốn và lúng túng kêu lên như một phản ứng tự nhiên.

– Ông Tám ơi! Ông Tám ơi!

Ông Đoàn phó xuống đứng bên cạnh, lấy lọ dầu song thập trong túi, dốc ngược cho dầu chảy thấm vào nút lọ rồi rút ra ngoáy ngoáy vào hai lỗ mũi. Ông Xu dứt tiếng la bằng một tiếng ợ thật dài tắt nghẹn trong cổ họng. Người ông hơi cong lên, hai tay đập đập xuống mặt sạp.

– Chết rồi đó – Ông Đoàn phó nói.

Người ông Xu cứng đơ như khúc gỗ, những ngón tay cong  quắp lại, khô đen như vuốt nhọn một loài chim. Quang giơ tay vuốt nhẹ trên mi mắt người chết.

Buổi chiều, xác ông Xu bó lại đi chôn. Đám táng y hệt đám táng cụ Chắc: lặng lẽ, nhanh chóng. Lúc người ta khiêng xác chết ra khỏi phòng kỷ luật, Thảo sụt sịt khóc đột ngột, nước mắt chảy hoen trên má. Gian phòng im lặng trong bầu không khí chết chóc. Quang đờ đẫn như một pho tượng nhìn chăm chăm vào cái xác dài lượt thượt của ông Xu bó gọn trong những cành cây nhỏ. Một thứ cảm giác lạ, ít rõ rệt làm Quang ngơ ngẩn, mệt mỏi. Toán người chôn cất tới một khúc rẽ, Quang nhận ra An đi đầu với chiếc xà beng trong tay, đầu cúi xuống, hai bả vai nhô cao. Toán người khuất hẳn. Quang nhắm mắt dựa người vào vách, người bay bổng trong thứ cảm giác buồn bã, nhẹ nhàng.

Có tiếng thằng Tài chào mọi người ra tự giác. Những câu chúc tụng thường lệ. Cái chết của ông Xu gây ra khoảng trống trong người. Quang muốn ngủ để khỏi phải lấp đầy khoảng trống ấy bằng những ý nghĩ buồn tiếc của mình. Quang nằm xuống tự hỏi không biết ai đã lấy mất lon cháo của ông Xu treo trên vách.

Những sinh hoạt hàng ngày lại tiếp diễn liên tục, đều đặn: cầu tiểu, mở còng, ăn cháo, điểm danh… Quang trôi đi trên những công việc ấy vô tri như một cây kim đồng hồ quay từ vòng này sang vòng khác. Ánh sáng ngọn đèn chai lại được thắp lên bập bùng. Quang nằm xuống dỗ giấc ngủ, cố gắng để khỏi bận trí với những ý nghĩ vẩn vơ. Trong giấc ngủ Quang mơ màng thấy ông Xu ở một nơi nào đó thật gần mà cũng thật xa.

(còn tiếp)

Bình luận

Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 8)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>