talawas blog

Chuyên mục:

Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 7)

23/06/2010 | 12:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 7)

Tác giả: talawas

Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

(Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4,  kỳ 5, & kỳ 6)

Ông Tám Xu bắt đầu lên cơn sốt, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Ông nằm xuống kéo tấm mền phủ kín đầu, người co quắp như một con cuốn chiếu. Quang kéo nốt tấm mền của mình phủ lên người ông. Cơn sốt mỗi lúc một mạnh. Người ông rung lên như một sợi dây đàn. Ông bắt đầu rên hừ hừ và nói lảm nhảm trong miệng. Một vài người đưa mắt nhìn ái ngại. Một lát sau, cơn sốt qua đi, ông ló đầu ra khỏi mền, mồ hôi chảy từng dòng trên mặt. Ông mở mắt nhìn Quang lờ đờ. Ông đòi uống nước như mọi lần. Và cũng như mọi lần, Quang lặp lại lời từ chối:

– Không nên ông Tám, sốt rét uống nước hại lắm.

Ông Xu lắc đầu, há miệng chờ đợi. Quang nhìn làn môi khô đỏ, nứt nẻ của ông phân trần:

– Khổ quá, ông Tám. Tôi đâu hẹp gì miếng nước mà điều ông đừng uống, hại lắm.

Ông Xu nhắm mắt lại, thở hổn hển. Quang áy náy như vừa làm một điều gì không phải nhưng không thể làm hơn. Quang buồn rầu nhìn xuống chân. Hai ống chân phù lên thẳng băng như một cái ống, thịt dày lên bì bì lấp đầy cả chỗ xương mắt cá. Quang nắn nắn những ngón chân sưng múp của mình có cảm tưởng như nước từ trong người rút xuống ứ lại ở dưới chân làm căng phồng lớp da. Quang doãi chân xem lại vết thương. Vết thương càng ngày càng lớn miệng, lở loét, nước vàng rịn ra chảy xuống gót chân khô đi thành một lớp vảy vàng nhờ và bóng. Quang nhăn mũi, thoáng ngửi thấy mùi tanh tưởi ở chân mình bốc lên.

– Này Quang, mày đã sửa soạn để khai suất chưa? – Tiếng Thảo hỏi đột ngột bên cạnh.

Quang cười nghi ngờ, môi hơi nhếch lên:

– Chắc gì!

– Sao không, mày lâu quá rồi.

– Biết đâu đấy, không chừng mày lại được kêu trước tao. Có nhiều người vô sau tao ra tự giác hết rồi.

– Thiệt không, mày nói thiệt không? – Thảo hỏi dồn.

– Thiệt chớ, để coi coi. Thằng Chỉnh, thằng Mậu, thằng Khiên…

Những tin tưởng vu vơ được dịp bùng lên. Thảo hớn hở:

– Tao cũng nghi nghi vậy từ hồi sáng giờ. Tao đâu có tội gì nặng đâu. Tao chỉ đi dân vệ.

Ông Chín già từ ngoài cửa bước vào, tay mân mê ngón tay cụt, đi như sắp lên trên mặt sạp: “Cầu tiểu! Cầu tiểu”. Ông Tám Xu gượng dậy nặng nhọc. Quang kéo tấm mền của mình, vụng về cuốn lại vất ra sau lưng. Thảo vẫn còn say sưa với những ý nghĩ của mình, vừa nói vừa nhìn lên trần  nhà.

– Kỳ này nếu được kêu, tao khai bóc lóc hết. Tao định khai cả vụ tao với con Tư.

Ông Chín kêu ngoài cửa:

– Đi đi! Mau lên, hai dây đầu.

Quang đưa mắt nhìn những cô cấp dưỡng chia cơm ngoài sân, tự nhủ: “Mình còn ăn hai bữa bắp nữa, ngày kia hết rồi”.

Cơm nước xong ông Xu có vẻ bớt mệt. Ông nói chuyện về cơn sốt hồi chiều, ông diễn tả một cách lộn xộn nhưng đại khái Quang cũng hiểu ông vừa trải qua một cơn rét kinh khủng từ trong người phát ra. Trong các dây khác mọi người tỏ ra ồn ào hơn mọi hôm. Mọi câu chuyện hầu như chỉ xoay quanh vấn đề cơ quan xét đến hồ sơ kỷ luật. Sau những ngày dài sống với nỗi chờ đợi mỏi mệt, họ như tìm lại được trong dĩ vãng lòng tin ở mình, ở cách mạng và ở cả những đấng thiêng liêng. Ai cũng thấy mình có hy vọng ra tự giác và họ vui vẻ thêu dệt cho niềm hy vọng đó những mơ ước của mình. Họ bàn về cách viết một tờ giấy làm thành khẩn, đưa ra những nhận xét về tính tình của ông Sáu Côn, ông Ba Lớn, ước đoán những người ngày mai có thể được kêu lên cơ quan. Cả phòng chỉ có mấy người đàn bà là không tham dự vào câu chuyện. Họ ngồi im lặng chải tóc và gỡ những sợi tóc rối dính vào răng lược.

Anh Bốn Đoàn vào điểm danh rồi đi ra. Quang nằm xuống kéo mền đắp. Ông Tám Xu thở nặng nề bên cạnh. Thảo nằm vắt chéo hai chân nhìn lên trần nhà. Quang hít một hơi dài, nằm thật thẳng, cố nghĩ đến điều mình sẽ khai. Khai gì đây? Ý tưởng bừa bãi lộn xộn như một mớ giấy vụn bỏ quên – Cần phải sắp xếp lại – Quang nhắm mắt duỗi chân thật thẳng, hai gót chân sát vào nhau, cố gắng giữ cho hơi thở điều hòa. Quang nghĩ: “Mình cần giữ lòng thanh thản, hai suất đâu phải chuyện tầm thường, phải nghĩ cho kỹ càng mới được”. Nhưng bất thần, Quang nhận ra tiếng thở khò khè, nặng nhọc của ông Xu. Quang nghĩ có một cục đờm trong cổ và tự hỏi tại sao ông không khạc cục đờm đó ra để thở có phải dễ chịu hơn không? Hơi thở của ông mỗi lúc một nặng nề, không khí trong phổi như khó khăn lắm mới lách ra khỏi cái chướng ngại nằm ở cổ. Quang khó chịu bứt rứt như chính mình có mang cục đờm đó và không thể nghĩ đến điều gì khác được. Có lẽ ông Xu quên mất mình đương phải thở một cách khó khăn. Quang muốn nói cho ông biết có một cục đờm trong cổ ông, nhưng thấy như vậy không tiện nên nằm im. “Mình có tội lỗi với nhân dân. Cách mạng có thể giết mình lúc nào cũng được nhưng bây giờ mình chỉ cần nhận tội để được khoan hồng”. Quang lẩm bẩm nói một mình và chú ý đến lời nói hy vọng quên được những tiếng động chung quanh. Nhưng ngay lúc nói đó Quang vẫn láng máng nghĩ tới việc có một cục đờm trong cổ ông Xu và dường như Quang đang chờ đợi ông nhổ ra.

– Này! Này! – Tiếng Thảo kêu sát bên tai.

Quang rít lên giận dữ:

– Câm đi! Tía mày!

Thảo ngóc đầu nhìn sát vào mặt Quang rồi đột nhiên cười nấc lên trong cổ:

– Đ.m! Mày nổi sùng hả?

Quang im lặng. Thảo nằm xuống nói tiếp:

– Tao định nói mày bỏ cái vụ ăn hột vịt lộn đi. Mình có gì nhận nấy, tội gì phải khai thêm.

Quang nói:

– Mày không nhớ là không ai tin mình sao?

– Nhưng không lẽ mình không làm mà nhận?

– Mày khác, cơ quan khác. Chẳng ai tin mình đi dân vệ mà không làm mẹ gì hết. Mình ít nhiều cũng phải có tội với nhân dân.

– Thì nội mình đi dân vệ cũng có tội rồi.

– Tao nằm đây hơn sáu tháng cũng chỉ vì tao khai mình làm dân vệ.

Thảo lên cơn ho, xoay người nhổ đờm qua kẽ sạp. Quang chép lưỡi, mắt mở lớn nhìn những cành lá xòa ra trên trần nhà.

– Tao nghĩ rồi, dầu sao mình cũng phải nhận chút đỉnh cho cơ quan tin, chả lẽ nằm đây hoài sao? Vả lại cái tội quịt tiền rồi đánh con mẹ Ba Tín đâu có nặng lắm, mình khai đại đi cho rồi.

– Tao khác, nếu lần này có gọi lên tao cũng khai thiệt, nay mình khai thế này mai khai thế khác ai mà tin mình nữa. Tao định khai tư hồi mười tuổi, nhớ cái gì khai cái đó.

– Chả cần! – Quang thốt ra như một tiếng thở dài.

Thảo ngừng nói quay mặt ra phía khác. Quang vơ vẩn nghĩ đến thời thơ ấu của mình và như bắt gặp lại trong tư tưởng hình ảnh một đứa bé ngồi trên mình trâu hát nghêu ngao những bài hát ngắn cố uốn cho đúng với giọng hát của ông giáo già có mái tóc bạc lốm đốm và đôi mắt nhướng lên sau cặp kính trắng. Rồi buổi chiều, khi những nóc nhà tranh trong làng bốc khói, chân trời có những giải mây ráng hồng và gió đồng bắt đầu nổi lên làm cong thân mạ, nó lại đủng đỉnh cỡi trâu về, trên đầu cái diều giấy bay lơ lửng với cái đuôi dài lất phất cuốn vào nhau. Tuổi thơ thật đẹp với bao kỷ niệm. Càng nghĩ đến Quang càng thấy tiếc nuối, ân hận như mình đã quên hưởng những ngày tươi đẹp đó. Nhưng đồng thời Quang cũng nghĩ đến những ngày chạy loạn, những chiếc máy bay rít trên trời, những toán quân Pháp ruồng bố trong làng, những đêm ngủ ngoài trời, những bữa cơm hết gạo. Quang tự nhủ: “Kể ra mình cũng chẳng sung sướng gì. Cái số mình vậy. Nước mình chẳng bao giờ thanh bình”.

Bên cạnh có tiếng ông Xu trở mình, ông ho nhẹ trong miệng và tiếng khò khè mất đi. Quang mở mắt nhìn. Anh Tám Bửu đang ngồi ngoáy mũi bên cạnh ngọn đèn. Ánh lửa chập chờn lóa mắt. Quang quay ra ngoài bóng đêm. Hình như có một con vật đang chuyền trên cành, tiếng móng nhọn cào cào lớp vỏ cây.

“Tại sao cách mạng lại không thể tin là mình không phạm vào một tội ác nào?” Không có câu trả lời. Quang kiểm điểm lại cuộc sống mình như chỉ để tự thanh minh.

Quang bắt đầu nhớ lại từ năm mười lăm tuổi. Năm ấy làng xóm yên ổn, Quang theo cha ra đồng tập cày mỗi ngày, hay thỉnh thoảng lên nhà ông chú đánh xe ngựa chia tiền. Những buổi sáng vác cày ra đồng, những buổi trưa rủ bạn ra uống la ve ở chợ, con trâu già, cỗ xe ngựa cũ của ông chú… tất cả đã tạo nên đời Quang trong nhiều ngày, êm đềm, bình thản. Năm mười tám, nhà đi dạm cho Quang cái Hài, con ông ấp Phú. Cả hai bên đều bằng lòng, định sang xuân thì cưới. Trong những câu chuyện nói với mấy thằng em họ, cũng nhiều lần Quang nói đến chuyện trai gái lăng nhăng, nhưng lúc nghe gia đình đi nói vợ, Quang thực sự thấy bối rối. Chuyện vợ chồng với những ân ái đáng ra chỉ là những chuyện ở xa gợi óc tò mò. Quang không thể nào quan niệm nổi chuyện đó bây giờ lại là chuyện sắp đến cho Quang và người con gái có đôi mắt đen và tối, có đôi môi mỏng mím lại vẫn gánh những gánh cải xanh ra chợ bán mỗi sáng. Quang sợ hãi rồi phản ứng cuộc hôn nhân. Một lần Quang tâm sự với bạn:

– Tao sẽ vô Sài Gòn làm ăn. Bao giờ sắm được radio, xe máy tao mới về làng cưới vợ.

Và Quang bắt đầu dành dụm tiền bạc cho một chuyến đi xa. Trong khi đó, Hài vẫn gánh những gánh cải đem bán, mặt vẫn cúi xuống, môi mím lại. Quang để ý và mỗi lúc một cảm thấy Hài gần gũi mình thêm. Những buổi chiều ra rửa chân bên vại nước kê dưới gốc cau già bắt đầu ra bẹ, Quang vơ vẩn nghĩ đến Hài, lòng nao nao khi tưởng tượng đến việc có một người con gái lạ nhận vào đời mình để âu yếm, vuốt ve. Quang ngạc nhiên thấy mình nghĩ đến Hài cả những lúc giơ tay bẻ cái tăm xỉa răng, phơi một cái áo vừa giặt lên bờ giậu. Quang bắt đầu làm lơ trước những dự định ồn ào của cha về việc cưới xin, làm lơ ngay cả với những sắp xếp đi xa của mình. Nhưng Hài chết. Chết vào ngày cưới, trước sau Hài vẫn chưa nói với Quang một câu chuyện vãn. Hài chết giữa lúc Quang cảm thấy nhớ đến xót xa cái dáng đi lạch bạch của mình, môi Hài vẫn mím lại.

Nhưng rồi, với thời gian, hình ảnh Hài phai dần, Quang quen rồi yêu Nhi.

Và theo lẽ tự nhiên Quang lấy vợ.

Buổi đầu của cuộc hôn nhân trôi đi êm ái. Quang yêu vợ như yêu thửa ruộng vào ngày lúa chín, yêu hơi đất ẩm bốc lên mỗi buổi ra đồng. Nhi vui tính, khỏe mạnh, chăm làm. Ngoài cái tật ưa ghen bóng gió, Nhi quả là người vợ hiền. Nhi đảm đang hầu hết các việc trong nhà. Cả ngày không mấy lúc Nhi thảnh thơi. Nhi dễ giận nhưng cũng dễ làm lành. Nhi sinh ra như chỉ để làm việc và tủi thân. Tuy vậy cuộc sống vẫn mang nhiều thú vị. Và cũng vì lẽ đó Quang xin vô dân vệ. Quang tự lượng thấy mình không đủ can đảm xa gia đình, xa thửa ruộng, xa mái nhà tranh, xa rặng bìm bìm ngoài ngõ, v.v… Tất cả những thứ đó như đã nhập vào người Quang. Nó là Quang, là cả cuộc sống của Quang.

Nhưng từ ngày vô dân vệ, Quang cảm thấy có một cái gì mới mẻ trong cuộc sống. Quang khó chịu như bị ép buộc sống theo những thay đổi mới của người dân vệ. Những phiên gác đêm, những lần đi kích với Quang chỉ là những cố gắng mệt mỏi. Nhi sinh thằng Hồ. Đứa con trai ra đời mang đến cho mẹ nó một số công việc. Nhi loay hoay với những công việc ấy đến nỗi quên khuấy mất là nàng còn có Quang bên cạnh. Với Nhi, Quang chỉ còn là một người bạn có cùng một sở thích là làm vui và lo lắng cho con. Chỉ mỗi lần ân ái, như mới chợt nhớ ra mình cũng có một thời kỳ nhớ nhung mơ mộng. Nhi bồi hồi vòng tay siết chồng thật chặt.

Phần Quang, thích hợp dần với cuộc sống mới. Quang bắt đầu tìm thấy thích thú những lúc đua bạn, đua bè, chơi bời nhậu nhẹt, những buổi chiều vác súng đi trong xóm. Lòng thương vợ vẫn còn, nhưng chẳng bao giờ Quang thắc mắc về tình cảm của mình. Nhi gần gũi, cần thiết và quen thuộc như chiếc bàn chiếc ghế, cái vại nước sau nhà. Quang chỉ gần vợ và cảm thấy Nhi thực là vợ mình những buổi chiều trải chiếu ngồi trên hè đập muỗi bàn chuyện mùa màng buôn bán hay phác họa những dự tính tương lai cho thằng Hồ.

Từ ngày làng xóm chộn rộn, đêm đêm có tiếng có sủa rải rác bất ngờ những bóng người đeo súng, giắt lựu đạn gõ cửa từng nhà bắt người đi học tập, Quang ít khi về nhà ngủ. Nhất là từ hôm ông xã Kiết và người con trai bị cắt cổ vất ở bờ mương, Quang không dám bén mảng về nhà ban đêm. Suốt ngày, Quang rúc vào nhà người quen gần đồn nằm ngủ, đánh bài cào hay chơi tứ sắc. Buổi trưa, Quang mải mê đạp xe tạt về nhà lúc ăn cơm, nựng nịu con, nói dăm ba câu chuyện với vợ để đến buổi chiều lúc nắng mới chênh chếch lại mải mê đạp xe đi. Cuộc sống đều đặn trong lo âu, nhàm chán. Quang thuộc làu từng gánh hàng quà ở chợ, nhớ như in từng mô đất ở đồn. Những đêm ngồi gác, chong súng qua lỗ châu mai, Quang vẩn vơ nghĩ đến sự chết chóc và chiến tranh. Với Quang cái chết thật giản dị: một viên đạn thoát khỏi đầu họng súng, xé đi trong không khí và ở đầu đối diện, một thân người gục xuống, êm ả, nhẹ nhàng như một bước chân qua ngưỡng cửa. Và thế là người chết. Trong một giây ngắn ngủi đã từ bỏ vợ con, nhà cửa, ruộng đồng… một sự từ bỏ đau đớn, thảm khốc chỉ được là trong một cái co tay. Quang nhìn ra ngoài đêm, mong mỏi trong suốt phiên gác của mình sẽ không có một người nào nhô lên trong tầm súng. Quang không muốn giết ai cả, không muốn buổi sáng thức dậy thấy có xác người ngã gục trong cánh đồng lúa trước đồn. Quang biết rõ điều đó và còn biết thêm là vào chính những lúc chong súng rình rập Quang lại tha thiết muốn được ngủ yên.

Nhi sinh con gái, con Ngọc giống mẹ hơn bố, kể cả tiếng khóc oang oang cả nhà. Da con nít thơm mùi sữa mẹ, Quang thích ẵm con day day mũi mình vào một bên má bầu thịt mềm và mịn của nó. Thằng Hồ đã lớn, chập chững đi men theo ven giường. Nó bi bô tập nói và biết mừng mỗi lần Quang về  nhà. Những đêm đi kích nhớ con, Quang muốn chiến tranh mau dứt để trở về nhà ôm con ngủ mỗi tối, không còn phải nghe tiếng súng nổ vu vơ, không phải ngủ bờ ngủ bụi. Nhưng Quang tự hiểu lòng ao ước của mình bao giờ cũng chỉ nguyên vẹn là một thứ mong mỏi hão huyền. Dầu Quang, dầu Nhi, dầu tất cả dân chúng ở cái xã này, xã khác có mong mỏi nhiều hơn nữa cũng chẳng thay đổi được gì. Chiến tranh còn hay dứt tùy thuộc những người trong dinh Độc Lập trong Ngũ Giác Đài, ở Hà Nội, ở Bắc Kinh. Quang sẽ còn phải trông thấy những cánh đồng bỏ hoang, cỏ mọc trên những miếng đất nứt nẻ, những lũy tre mập mờ sau ánh lửa, những người đàn bà tóc xổ rũ rượi, những đứa nhỏ chít khăn tang gào lên vì đói.

“Chiến tranh thật thảm khốc mà Việt Cộng là kẻ chủ mưu” Quang nghĩ vậy và chính ra đô, truyền đơn yết thị cũng thường nói thế; Quang vẫn được đọc và vẫn được nghe: “Bọn côn đồ Cộng phỉ âm mưu thôn tính miền Nam”, cái câu nói ấy không biết Quang đã nghe bao nhiêu lần. Quang nghĩ tới một bọn người nghèo đói, lam lũ và độc ác lén lút mang chiến tranh về làng xóm khuấy rộn cuộc sống yên vui của mọi người. Những bảng thông tin, những hình ảnh hàng tuần dán ngoài góc chợ với những cảnh chết chóc, phanh thây, moi ruột làm Quang lâu dần lẫn lộn Việt Cộng với tử thần. Tử thần thật gớm ghiếc nhưng cũng thật gần gũi trước mặt, sau lưng. Tử thần có đôi mắt loài mèo ẩn ở cuối một rặng tre, đầu một con đường mòn, sau một đụn rạ, ven một bờ mương, v.v…

Sống bên cạnh nỗi chết rình rập, Quang chán nản, buông trôi đời mình mua lấy những thú vui ngắn ngủi. Những lúc ngồi trên chiếu bạc, những khi rút súng bắn chim, quăng lựu đạn ném cá, Quang mang máng quên được chiến tranh và cảnh chết chóc chờ đợi mỗi ngày.

(còn tiếp)

Bình luận

Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 7)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>