Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 6)
22/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 6)
Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: tù cải tạo
(Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4 & kỳ 5)
Buổi sáng, lúc mặt trời đã lên cao, kỷ luật được dẫn đi tắm. Quang lựa trong bọc một bộ bà ba sạch có sọc dài màu tím thẫm và mang theo cả cái mền đắp. Thảo loay hoay giữa hai bộ quần áo làm Quang phải gắt lên. Thảo xếp bộ bà ba xanh lơ vào gói đồ với một vẻ dứt khoát, mắt nó nhíu lại:
– Để dành bộ này bao giờ về mặc cho bà già trông thấy mừng.
Mọi người được dẫn tới cuối dòng suối, đứng ở đó có thể nhìn được mấy tảng đá trăng trắng chân núi bên kia. Bọn gác kỷ luật chia nhau ngồi chung quanh canh chừng. Nước ngập đến mắt cá chân, chảy tràn lan ra hai ven bờ cát. Một vài người cúi xuống bới những hố trũng để giặt đồ. Quang nhúng áo xuống dấp lên mặt. Nước suối lạnh như nước đá mới tan làm Quang rùng mình. Bên cạnh Thảo cười nhếch nhác:
– Đố mày ngâm cái áo dưới nước một ngày, mấy con rận chết không?
Quang kỳ những ngấn ghét ở cổ tay, không đáp vào câu hỏi:
– Mày coi chừng đó, nhớ kỹ là mày chưa hết ho mà.
Thảo nghiến răng, xóc cả hai bàn tay chà lên ngực:
– Sợ gì, mày trông kìa, con mụ Xuân nó còn dám tắm.
Gần đó phía dưới thấp hơn, mụ Xuân đang ngồi bệt xuống, ngực cởi trần để lộ đôi vú nhỏ và hơi trễ xuống. Nghe nói đến tên mình, mụ ngẩng đầu lên cất giọng eo éo:
– Ai nói gì tôi đó? Tôi đâu có làm gì các người, các người đốt nhà tôi chỗ đâu cho con tôi ở?
Thảo cười:
– Ai nói gì bà, mắt lé chớ tai cũng lé nữa sao?
Quang nhìn đôi mắt ngơ ngác của mụ Xuân, cau mặt nói:
– Thôi Thảo, con mẹ nó khùng khùng mà chọc nó làm chi.
Mụ Xuân bắt đầu đổi sang giọng thắm thiết:
– Tôi biết quá mà, con tôi nó chết rồi, người nó đen thui, nó gánh nước với hai cái ống bơ…
Quang cọ mạnh hai chân, vẫy vẫy cho cát chìm xuống nước rồi vội vã chạy khuất sau một gốc cây thay quần áo. Thảo cũng lúp xúp chạy theo, thở hít hà, miệng bốc khói. Ông Tám Xu bị sốt không dám tắm. Ông vốc nước rửa mặt và kỳ qua loa hai cổ tay rồi đến một khoảng nắng gần gốc cây cởi trần phơi nắng. Quang vắt cái quần lên cành cây, tiến lại chỗ ông Xu ngồi:
– Bắt hết rận trong mền chưa ông Tám? – Quang hỏi.
Ông Xu như đang suy nghĩ điều gì, giật mình ngẩng lên ngơ ngác:
– À!… Chưa, thiếu cha gì.
Quang với tấm mền của mình trải lên đùi và bắt đầu từ một góc. Một vài con rận lớn bị động chạy găm đầu vào kẽ đường viền, đuôi chổng ra ngoài. Nắng làm nóng mảng da lưng, làm mạch máu trong người chảy mạnh. Quang ngước mặt nhìn lên trời mong cho nắng nhiều hơn nữa và mình được ngồi mãi trong luồng nắng ấm áp đó. Thảo giặt xong áo quần đến đứng bên cạnh vươn vai xoay đi xoay lại. Đột nhiên, nó dừng lại cười hinh hích:
– Quang này, hình như ông Tá dư một cái xương sườn.
Quang đưa mắt nhìn thân hình quắt queo của ông Xu với những đường xương sườn hằn rõ ra bên ngoài trông như một bộ xương người được bao bọc bằng một lớp da khô và bẩn.
– Dễ thường mày mập lắm. Tao cầu cho mày còn cái xác lết về nhà.
Thảo vén áo nhìn hai cánh tay mình, mặt sịu lại, uể oải ngồi xuống kéo một góc mền bắt rận. Quang gợi chuyện:
– Ê này, cái con Tứ gì đó, hồi ở nhà sao mày không lấy phứt nó đi cho rồi.
– Làm gì có tiền. Phải có tao cũng lấy rồi. – Thảo đáp giọng buồn buồn.
Ông Xu ngửa mặt, lắc lắc cổ cho khỏi mỏi, tay vẫn cầm tấm mền, nói bâng quơ:
– Nắng tốt quá, năm nay chắc được mùa.
Quang vẫn chú ý đến câu chuyện với Thảo hơn:
– Mà mày chắc con nhỏ nó thương mày không?
– Sao không? – Thảo tỏ vẻ tự đắc – Hồi ở nhà một hai đòi tao đi nói hoài.
Thảo ngừng một chút rồi nói tiếp giọng say sưa:
– Mà tao cũng thương nó chớ. Tao thương nó thiệt tình. Trông con nhỏ lắm lúc thiệt ngộ. Tức cười, hôm nó bắt gặp tao đứng nói chuyện với con bán chè, nó ghen dọa tự tử làm tao mất công năn nỉ cả tuần lễ.
Quang giễu cợt:
– Tao chắc mẩm là mày cũng định tò te với con nhỏ kia, nó mới làm dữ vậy.
Thảo buông tấm mền, giơ một tay ra trước mặt, miệng há rộng:
– Tao thề với mày là tao đâu có tình ý gì với con nhỏ kia, mày cũng biết là tao thương có mình nó mà.
Ông Xu lớn tiếng cắt ngang câu chuyện:
– Hai này! Anh nhớ cặp trâu nhà anh còn không?
Quang ngạc nhiên:
– Bán mất một con rồi, mà gì vậy?
– Tôi dám cá với anh là con bò nhà tôi cày ngang cặp trâu đó.
Quang bực mình sẵng giọng:
– Khổ quá! Tôi nghe ông nói rồi mà.
Ông Xu cười dễ dãi:
– Nói cho ngay cũng nhờ con bò nhà tôi nó lanh lắm, cày nó không biết mệt.
Thảo bắt một con rận lớn siết trong hai móng tay, máu đen vọt cả ra mền. Nó nuốt nước miếng:
– Ước gì bây giờ có một điếu thuốc hút!
– Phải đó – Quang reo lên – Một điếu thiệt ngon hút hai hơi đã say như thuốc ông Đoàn phó. Vậy mà tao tưởng mày không thèm, tao định phục mày.
– Thèm mà cai được mới chì chớ. Mà thôi, về kìa. Ông Chín ông ấy đương réo ở bên kìa.
Thảo và ông Xu uể oải đứng dậy. Quang như vẫn còn thèm phơi nắng, dềnh dàng nán lại nhìn trời. Bầu trời cao và xanh màu ngọc bích, phía nam mây trắng nằm chồng chất lên nhau như một ổ mối đùn. Quang ngơ ngẩn nhớ tới một cái gì đó thiệt đẹp trong dĩ vãng đã xa.
Sáng hôm sau ngày tắm suối, cơ quan bắt đầu gọi người lên khai suất. Đám tù được dịp sống lại với những hy vọng bỏ quên từ lâu. Nét mặt người nào cũng lộ vẻ đăm chiêu, những ý nghĩ ngổn ngang trong lòng. Ra tự giác không phải là một bước đi bỏ xa hiện tại nhưng ít ra cũng là một dịp để gần lại cuộc sống ngày xưa.
An và ba người đàn bà được gọi lên đầu tiên. Mỗi người được phát một tờ giấy lớn làm thành khẩn. An lại ngồi còng lưng suốt buổi bên cạnh một tảng đá hý hoáy viết đem nộp cho ông Sáu Côn. Ngay buổi chiều, mọi người được gọi lên lần nữa. Ba người đàn bà trở lại ngay sau đó với dáng vui vẻ. Ông Chín già cười với họ từ ngoài cửa:
– Sao, êm rồi hả? – Họ đi sát vào nhau đầu hơi cúi xuống, cười thật nhẹ thay cho câu trả lời. Họ trở về chỗ thu xếp đồ đạc. Mụ Xuân nhìn họ trừng trừng rồi hỏi:
– Mấy chị được về rồi sao?
– Đâu có, mới ra tự giác – Một người đáp.
– Chị làm ơn kiếm giùm thằng con tôi, nó mới ba tuổi, nó cháy đen thui.
– Tôi sẽ kiếm cho chị, rồi chị cũng được về như tụi tôi mà – bà Phận vừa cuốn tấm lá vừa nói giọng buồn buồn.
– Ờ, rồi cơ quan cũng tha cho tui, nhà tui cháy rồi, tui đương mót khoai thì bắn nhau, cách mạng bắt, nói tui đi báo cho súng bắn, tui đâu có hay gì…
Ông Chín già quay qua nói lớn:
– Xuân, ai biểu mày khai ra đó, hết muốn sống rồi sao?
Mụ Xuân vén một ống quần, vỗ bành bạch vào bắp vế:
– Tui biết quá mà, chồng tui đi lính chết rồi, ai biểu mấy người bắt tui.
– Đĩ mẹ con khùng, có câm cái miệng lại không? – Ông Chín già đứng lên tay khuỳnh khuỳnh ra sau.
Mấy người đàn bà ôm đồ đi như lủi ra khỏi phòng. Mụ Xuân ôm mặt khóc, mái tóc xổ tung trên vai. Ông Chín ngồi xuống mắt lừ lừ giận dữ:
– Nó mà khùng cái gì, giả bộ hoài, treo ngược lên cây là hết khùng.
An về đến cửa. Một vài người đưa mắt dò hỏi. An lẳng lặng giơ hai tay cho ông Chín khóa còng. Thảo nói nhỏ: “Không ổn rồi”. Quang ái ngại đưa mắt nhìn An đương giơ tay lau mồ hôi trán. An nhắm mắt lại, tựa đầu lên thành gỗ, hai chân duỗi dài. Quang vơ vẩn nhìn ra ngoài sân. Đàn gà của bà Sáu đang thong thả bươi đất kiếm mồi dưới gốc cây sồi. “Sống trong chế độ ngụy quân, ngụy quyền, bà con ít nhiều đã phạm những tội lỗi với nhân dân…” Quang nhớ tới những lời nói của người dân quân ở xã và nghĩ tới những điều mình sắp phải khai.
Một người cảnh vệ bước vào miệng ngậm thuốc nhìn quanh quẩn khắp phòng, giơ tay vịn lên cây xà ngang, rồi cúi xuống nói với mụ Xuân:
– Sao đây? Khóc nữa hả, chết tôi rồi.
Ông Chín già xen vào:
– Nó vẫn khùng khùng hoài vậy đó anh Tư. Tôi la nó hoài, ngớt la là nó lại lảm nhảm nói tới con nó.
– Nè bà Xuân. Tôi biểu bà một cách: bà đừng có theo ba thằng Mỹ nữa là hết khùng. Nó bỏ bom, nó đốt cháy nhà bà mà, bà nhớ không? Nó đâu có thương tiếc gì bà. Tụi dã man!
Người cảnh vệ cúi sát xuống gần mụ Xuân, rồi ngẩng lên nói tiếp với mọi người:
– Hồi này mấy cái xã gần núi, tụi Mỹ nó đốt phá tan tành hết. Gặp ai nó cũng bắn, ai nó cũng nói là V.C, người mình chết đâu có ăn nhập gì tới nó. Chết bao nhiêu không được.
Một vài người chép miệng, tỏ vẻ buồn bã như để cho câu chuyện đậm đà thêm. Quang thấy bực mình trước cái kiểu lấy lòng đó. An vẫn nhắm mắt, ngồi bất động như pho tượng, mặt lấm tấm mồ hôi. Ở phía cuối phòng, Bốn Khanh cất tiếng nói vẻ nịnh bợ:
– Khăn đâu đẹp dữ thần vậy anh Tư?
Người cảnh vệ ném tàn điếu thuốc, xòe tay cho chiếc khăn bung ra, giơ cho mọi người thấy hình một con chim đang bay và một dòng chữ bằng chỉ đỏ thêu vụng ở góc khăn: “Anh đi vì nước diệt thù”.
– Khăn này của mấy cô thiếu nữ tặng tụi tôi mỗi đứa một cái hồi tụi tôi đánh thắng bọn Mỹ ở Kiến Long.
Bốn Khanh không rời mắt khỏi chiếc khăn thêu, cười cười như ngại cho câu nói sắp đến của mình:
– Vậy mà tôi cứ ngỡ của…
Hắn bỏ dở câu nói cười ngượng ngập. Người cảnh vệ cúi mặt dí dí mấy đầu ngón chân lên sàn:
– Vợ tôi chết rồi, nó trúng đạn đại bác. Nó tiếc ba cái giạ lúa…
An như từ hồi nào vẫn yên lặng trong tư thế ngồi của mình, mở choàng mắt, nói cắt ngang câu chuyện:
– Anh Tư! Anh làm ơn xin giùm cho tôi khai nốt ít điều.
– Sao sáng không khai, nghĩ kỹ chưa?
– Dạ rồi, tôi xin nhận hết.
Người cảnh vệ nhìn An dò xét:
– Làm gì nhận nấy, anh sợ gì. Nhận tội sẽ được khoan hồng, cách mạng có muốn giết ai đâu, anh không phải thằng Mỹ, anh là người Việt mà.
An dạ nho nhỏ. Người cảnh vệ gấp chiếc khăn nhét vào túi, vừa nói vừa quay lưng đi:
– Được! Để tôi lên trình giùm anh coi.
Mọi con mắt đổ dồn vào An. An giơ tay day day trán rồi cúi xuống gục đầu trên hai đầu gối. Quang nhìn những ngón tay gầy, xanh mướt của An buông dài trên mu bàn chân, cố gắng mường tượng lại một An mới gặp trong phòng giam. Khung cảnh những người tù sau mỗi bữa cơm, luyến tiếc ngồi nán lại trước những chiếc hòm gỗ nhỏ tối tăm, mịt mùng gây cho Quang một ý niệm về thời gian. Nửa năm rồi! Nửa năm với những chiếc còng ở chân rồi ở tay; những chiếc hòm rồi những sợi dây cột. Nửa năm với những ngày mong đợi lo lắng, muộn phiền. Quang có cảm tưởng mình đã chìm đắm trong những ngày dài mông mênh đó. Nhưng đồng thời những ngày đó cũng trôi đi liên tục, triền miên như dòng nước. Và Quang lờ mờ cảm thấy đã chẳng sống được chút gì cho riêng mình. Quang đã không sống trong những ngày đã qua.
Người cảnh vệ trở lại. An được mở còng rồi đi ra. Quang tiếp tục nghĩ tới những gì sẽ xảy ra cho mình nửa năm sau. Quang sẽ ra sao lúc đó? Quang vẫn còn ở tù, vẫn quanh quẩn với những gốc cây to lớn của cánh rừng này? – Không phải, mình phải được về. Mình sẽ về. Quang thấy như mình đang dẫm chân trên con đường đất đỏ dẫn vào xóm. Hai bên đường vẫn những cây bông mọc rải rác lủng lẳng những trái khô chín, hàng sầu đông trụi lá với những cành khẳng khiu. Mũi Quang vẫn ngửi thấy mùi đất ẩm từ dưới ruộng bốc lên hòa lẫn với mùi cỏ dại và mùi phân trâu bò. Cùng với con đường mòn, nếp sinh hoạt ngày xưa làm Quang ngây ngất. Quang thấy thèm được nhìn lại mái nhà bếp thấp lè tè, thèm dựa lưng vào đụn rơm trong góc vườn, thèm bứt những dây cỏ mọc lan trên bờ giếng.
An đã về. Mọi người đưa mắt dò xét. An lẳng lặng giở gói thuốc ra chia cho mỗi người một điếu. An nói đã được ra tự giác và gói thuốc đó là của ông Ba Lớn cho. Cả gian phòng um khói thuốc. Trong lúc An thu xếp đồ đạc thì mỗi người nói một câu chúc tụng làm gia phòng ồn ào. Lúc An đứng dậy đi ra ngoài, Quang thấy lòng vui rộn lên một cách bất ngờ. Quang gọi lớn:
– Anh An! Tôi hứa sẽ ra tự giác với anh kỳ này. Tôi cũng ngoài sáu tháng rồi.
An quay lại giơ tay nắm chặt tay Quang:
– Chào bồ, bồ thì chắc chắn sẽ ra. Hôm nay bồ có vẻ bớt phù rồi đó.
An vừa nói vừa liếc nhìn xuống chân Quang. Quang cảm động ấp úng:
– Dạ… dạ… cám ơn. Tôi cũng thấy mấy hôm nay người khỏe khỏe.
An cười siết chặt tay Quang một lần nữa rồi đi ra. Quang nhìn theo cho tới lúc An khuất hẳn trong túp lều của ông Đoàn phó bên bờ suối bên kia, lòng náo nức một niềm vui không rõ rệt. Ngày mai, ngày mốt, hay cùng lắm là một tuần lễ nữa, Quang sẽ được gọi lên khai suất. Quang sẽ ra tự giác, sẽ đi lao động. Chiếc còng trên tay không còn nữa. Tối ngủ không phải cột chằng vào người này người nọ. Quang sẽ được thảnh thơi, tha hò vận động. Những lúc rảnh rỗi, Quang có thể cởi trần ra tìm một chỗ nào đó ngồi hóng nắng tùy thích. Nếu chịu khó hoạt động và phơi nắng mỗi ngày, da dẻ sẽ hồng hào trở lại và người bớt phù đi. Trong lúc sung sướng với viễn ảnh tương lai, Quang thấy người tràn trề sức khỏe, tưởng như những hồi nào có thể chạy suốt một quãng đường dài từ đồn về nhà mà miệng vẫn có thể huýt sáo không lạc nhịp.
(còn tiếp)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 6)”)