Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 5)
21/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 5)
Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: tù cải tạo
Phần ba
Thằng Hăng trốn thoát được ba hôm thì trại dời đi nơi khác. Trại cũ theo thói quen ngoài miệng, mang cái tên “trại thằng Hăng”. Cứ mỗi lần nhắc tới cái tên ấy, mọi người lại liên tưởng đến những ngày mưa tầm tã với những cơn gió lạnh căm căm. Trong mấy ngày mưa gió ấy, người ta chẳng làm được gì ngoài việc đi hái từng ôm lá quế về gặm cho qua ngày giờ. Bếp núc không thổi nấu được, củi và than dự trữ đều bị ướt. Gần sáng mỗi lần lên lửa là khói lại um lên lan ra khắp trại. Mấy cô cấp dưỡng lúc nào mắt cũng đỏ hoe như vừa mới khóc. Bắp còn nhưng không đủ củi hầm, vốn dĩ loại bắp tẻ lâu chín, cả trại phải ăn cháo. Buổi sáng với 100 gram gạo mỗi ngày được hai lưng chén; nhưng buổi chiều với 50 gram còn lại, người ta chỉ húp một hơi dài là hết cả phần ăn. Ngày đầu tiên người ta thấy đói và tưởng mỗi người có thể ăn được đến cả chục phần ăn; ngày thứ hai người ta mới nhận ra cái cảm giác đã có ngày hôm qua là điều không thực. Cái đói khác hơn trước nhiều, ruột gan cồn cào như có cả ngàn con kiến đang bò, mắt mũi hoa lên, người váng vất trong một thứ cảm giác khó chịu của sự mệt mỏi. Sang ngày thứ ba, thì cơn đói thực sự trở thành một kẻ thù ghê gớm. Tay chân như mất hết hơi sức, người nọ ngồi giương mắt nhìn người kia chẳng ai buồn mó máy gì cả. Lá quế ăn mãi đâm đắng miệng. Quang ăn nhiều đến nỗi dộp cả lưỡi. Mưa gió vẫn không ngớt. Suốt ngày khí núi bốc lên mờ mịt. Trong ba ngày liền quần áo mọi người chẳng lúc nào khô ráo. Thảo bị cảm, những cơn ho bắt đầu dội lên trong lồng ngực. Những lúc mưa nhỏ hạt, Thảo kê gói đồ ngồi dựa dầu vào vai Quang ngủ gà ngủ vịt. Hơi thở nóng hừng hực của Thảo phà vào vai vào cổ làm Quang ái ngại, lo lắng cho bạn. Quang thấy mình cần phải nhẫn nại chịu đựng và tỏ ra can đảm. “Biết đâu Chúa chẳng thử mình, muốn xem mình có oán thán Người không? Mình phải tin và kính Chúa. Chúa chẳng bao giờ bỏ quên những con chiên ngoan đạo”. Nhưng Thảo thì khác, sau mỗi cơn ho Thảo mất bình tĩnh hơn.
– Quang này. Tao chịu hết thấu rồi, tao lạnh quá!
Quang im lặng. Giọng Thảo khe khẽ, mơ hồ:
– Thằng Hăng giờ này chắc về tới nhà rồi! Nó liều thật, mày nhỉ?
Quang quay mặt nhìn đi chỗ khác lảng tránh câu chuyện, những lời nói xoay quanh vấn đề thằng Hăng tẩu thoát quả là điều không nên. Từ hôm nó cắn dây chạy mất và những người cảnh vệ phải chia nhau lùng cả buổi trời không thấy thì hầu như cả trại ai cũng ngầm cảm thấy mình phải chịu một phần trách nhiệm trong đó. Nhưng cơ quan thì vẫn không thấy thái độ nào rõ rệt ngoài việc giam anh Tư Sang vào kỷ luật. Nhưng bất thần, vào cái lúc hầu như mọi người đều quên lãng việc chạy trốn của Hăng thì một biến cố mới xảy đến.
Đêm hôm thứ ba, trời mưa lớn, nước như được trút xuống từ trên cao, gió rít trên đầu các ngọn cây như tiếng muôn ngàn thú dữ gầm thét. Gần sáng thì mưa tạnh mọi người mệt mỏi ngủ thiếp đi sau những giờ khắc vật lộn cùng mưa gió. Nhưng lập tức mọi người bị đánh thức vì những tiếng la hét trong trại, tiếng chân chạy rầm rập tiếng lên cò súng. Ông Sáu Côn hét lanh lảnh: “Nó tẩu thoát, bắt lấy nó!” Ánh đèn pin lấp loáng tiến về phía ven suối rồi biến mất sau những lùm cây. Trong bóng tối Thảo ngồi sát hẳn vào người Quang. Một ánh chớp loé lên, Quang thấy ông Xu ngồi đè tay lên ngực như cố nén cơn sợ hãi. Tự dưng Quang mong cho người nào đó tẩu thoát đã chạy được thật xa thoát khỏi tầm súng của người cảnh vệ. Một tiếng súng nổ chát chúa từ phía xa vọng lại rồi tiếp theo một tiếng nổ khác nhỏ hơn. Một lát sau ông Sáu Côn trở về, giọng cười ngạo nghễ vang lên từ bờ suối. Nghe tiếng cười, Quang có cảm tưởng vừa có một làn gió lạnh lùa vào trong lưng làm gợn lớp da. Ông Sáu Côn nói lớn:
– Chạy đâu cho thoát chớ! Thấy người ta chạy cũng bày đặt.
Ông ngưng một chút để cười rồi nói tiếp:
– Bốn Đoàn đâu rồi hé, đem còng thằng này lại, còn thằng kia để mai khiêng về.
Quang cố nhìn ra ngoài nhưng không trông thấy gì. Cả trại chìm trong im lặng. Tiếng nói khô sắc, lạnh lẽo của ông Sáu Côn như vẫn còn âm lên ghê rợn trong đêm tối. Ngọn đèn chai được thắp lên. Ánh lửa đỏ xiêu vẹo vì những cơn gió thổi qua, tỏa ra một thứ ánh sáng đỏ và đục. Qua làn khí đá dày đặc như hơi nước, thấp thoáng bóng hai người cảnh vệ cầm súng đứng yên lặng như những pho tượng màu đen. Anh Bốn Đoàn đang loay hoay trói thằng Ngươn, tiếng ống khóa lách cách. Ngọn lửa tắt phụt đi. Quang nghe thấy ở bên cạnh tiếng ông Xu thở dài nhè nhẹ.
Buổi sáng hôm sau mọi người được tập họp thành vòng tròn sau khi ăn cháo. Gió vẫn lạnh nhưng không có mưa. Mọi người đứng lố nhố sau những mô đá đợi khiêng xác thằng Chỉnh. Ông Sáu Côn đi đi lại lại giữa vòng người kể lại chuyện đuổi bắt hai người tẩu thoát. Thằng Ngươn bị trói quặt hai tay ra sau. Ông Sáu cúi xuống hỏi:
– Mày hãy nói lớn cho mọi người nghe. Tại sao mày tẩu thoát?
– Dạ thằng Chỉnh rủ tôi.
– Nó nói thế nào với mày mà mày nghe lời nó?
– Dạ, nó nói ở đây đói khát mà cơ quan chắc gì đã khoan hồng cho về sớm.
– Nó còn nói gì với mày nữa không?
Thằng Ngươn cau mày suy nghĩ:
– Dạ nó còn nói chạy xuống tới chân núi gặp bọn Mỹ giơ tay xin hàng nó không có bắn.
Ông Sáu ngẩng lên cười rồi nói với mọi người:
– Cơ quan đã để ý hai tên này từ lâu, chúng thường chuyện trò to nhỏ với nhau. Hồi ăn bắp chúng không ăn phần muối để tích lại phòng đi rừng đốn củ đác ăn. Có phải thế không? – Ông cúi xuống lần nữa.
– Dạ phải.
Ông Sáu đứng thẳng nhìn vào mặt từng người:
– Bà con coi đó, tất cả các hành động của bà con đều được cơ quan theo dõi, chỉ có điều chúng tôi không muốn nói ra. Đã đi cải tạo tất nhiên bà con phải chịu khổ cực, nhưng bao giờ cơ quan cũng khoan hồng cho người hối lỗi. Kỳ tết vừa rồi cơ quan đã phóng thích cho bao nhiêu người, bà con không nhớ sao. Cách mạng bắt được là sống rồi, như thằng Ngươn này lúc hô đứng, nó ngừng lại giơ tay lên, cách mạng có bắn nó đâu. Nó vẫn sống và nó còn thành thật khai suất, nó biết nhận lỗi, cơ quan sẵn sàng tha thứ cho nó. Nếu nó cố gắng cải tạo không chừng nó còn sớm được khoan hồng hơn những người khác.
Ở sau một hòn đá, tiếng ông Đoàn phó hô lớn:
– Hoan hô lệnh khoan hồng của cơ quan.
– Hoan hô!
Tiếng cả một đám đông bật lên vang động.
– Ai lại cởi trói cho nó – Ông Sáu ra lệnh.
Ông Chín già cầm chùm chìa khóa bước lại. Thằng Ngươn được mở còng chắp hai tay trước ngực vẫn giữ nguyên tư thế quỳ.
– Thưa cơ quan, em rất đội ơn cơ quan. Từ giờ em quyết tâm cải tạo và sẵn sàng phát giác những âm mưu tẩu thoát của bất cứ người nào rủ rê em…
– Hoan hô tinh thần hối cải của anh Lê Văn Ngươn – Hoan hô!
Tiếng ông Đoàn phó lại cất lên và mọi người lại đồng loạt hô theo. Người chết đã được khiêng về thòng dây treo lên một cành cây thấp. Ông Sáu giơ tay chỉ vào cái xác ướt đẫm đong đưa trên sợi dây:
– Đây là một thằng phản động. Bà con hãy phỉ nhổ nó. Những ai có cái ý tưởng thoái hóa như nó thì phải từ bỏ đi. Tôi biết là trong số những người đứng đây – ông khoa tay vẽ một vòng tròn chung quanh người – có những tên vẫn còn nuôi những âm mưu tẩu thoát nhưng chưa có cơ hội. Tôi nói thiệt, đứa nào có gan cứ chạy. Miền Nam còn có cả 14 triệu dân chống Mỹ. Chết đi một vài chục thằng bán nước đâu có nghĩa lý gì.
– Đả đảo tên ngoan cố! Đả đảo! Đả đảo tên Đặng Chỉnh phản động! Đả đảo!
Tiếng gào thét như vọng đến tận những cánh rừng chung quanh. Thằng Ngươn cầm một cục đá lớn ném vào giữa mặt xác chết. Ông Sáu lùi ra chỗ khác tránh những hòn đá khác tới tấp bay đến. Xác thằng Chỉnh xoay trên đầu dây. Mái tóc ướt bết vào da đầu, bên mang tai một lỗ thủng lớn sâu hút vào.
Thằng Điện chạy ra níu lấy chân ông Sáu sợ hãi kêu: Ba ơi! Ba ơi!
Quang nhắm mắt lại và nhận thấy giọng mình lạc đi.
o0o
Sau khi chôn cất thằng Chỉnh, trại lại lục tục dời đi chỗ khác. Đồ đạc của trại từ hôm đến vẫn chưa đem ra dùng trừ một vài thứ cần thiết nên từ lúc có lệnh dọn đi đến lúc khởi hành, người ta không phải tốn nhiều thời giờ sửa soạn. Cơn mưa đã dứt, trong rừng le lói có những đốm nắng. Qua vòm lá, người ta có thể trông thấy những mảng trời xanh, trong vắt. Tiếng chim sâu ríu rít chuyền cành hứa hẹn một ngày nắng ráo. Mọi người vui vẻ như vừa trốn chạy khỏi mấy ngày mưa gió vừa qua. Ánh nắng làm tan mau chóng lớp khí núi. Không khí ấm dần. Cảnh vật dọc đường thay đổi hẳn, mới mẻ và sáng sủa hơn. Nước chảy ồ ồ trong các khe đá tràn lan ra ngoài, theo các kẽ dốc làm thành muôn ngàn dòng nước nhỏ chảy chằng chịt. Xác lá rụng theo dòng nước trôi đi băng băng. Một vài con chão chuộc vắt vẻo đu trên cành sưởi nắng, phơi cái bụng lớn và trắng như một cục bột tròn mịn. Một thân cây lớn bật gốc nằm vắt ngang khối đá, vươn lên trời đám rễ ngoằn ngoèo.
Lần này trại dời đến một nơi thiệt đẹp, bằng phẳng rộng rãi, chỗ thung lũng tiếp giáp của ba ngọn núi. Giữa hai chân núi là một con suối, nước chảy lênh láng trên một bề mặt rộng. Lòng suối nong tuyền cát và sỏi, người ta phải đào một cái hố lớn giữa dòng để múc nước dùng. Dòng suối chảy thẳng rồi tản mác đổ ra vùng đất rộng đầy cỏ hoang dưới chân cả ngọn núi nằm vắt ngang như một bức tường đen đồ sộ chạy cắt đứt hai rặng núi phía trên theo một chiều chênh chếch.
Ngay buổi sáng hôm sau dọn đến, cơ quan đã phân công đi chặt cây, đốn lá, bứt dây về dựng trại. Thời tiết khô ráo và vì được ăn bắp trở lại, mọi người đều hăng hái làm việc, cả ngày rộn rịp tiếng cưa tiếng đục, tiếng những bó lá được rinh đi trên mặt đất soèn soẹt. Kỷ luật được dành một khu đất rộng để ở. Bị cùm xích lâu ngày, Quang thèm được tự do chạy đi, chạy lại; được cử động chân tay. Quang ngồi ngắm ông già chẻ lạt lợp lá, nhìn anh Bốn Đoàn cưa cây không biết chán. Hai ngày sau, những cái khung nhà đã được dựng lên, chơ vơ mấy cây cột chống và mấy cây xà gỗ bắt ngang. Mấy ông già khéo tay bắt đầu lên bện sạp. Cùng một lúc những bó lá cũng được kéo lên mái. Ngày thứ tư, lúc mọi người vừa bắt tay vào việc thì được tin cụ Chắc chết. Cái tin được loan truyền đi thật nhanh. Mấy cụ già bện sạp buông mớ dây đưa mắt nhìn nhau, những người đàn bà đánh lá dừng tay nghểnh cổ nhìn về phía đầu suối chỗ cụ Chắc nằm, mắt đăm chiêu. Đến chiều thì xác cụ được đem đi. Cụ được bó bằng những cành cây nhỏ, hai bàn chân thò ra ngoài, mặc thêm một chiếc áo cũ. Người ta đánh hai nút dây lớn ở hai đầu và thòng một chiếc đòn vào khiêng đi. Ba người đàn ông mang cuốc xẻng đi đầu, rồi hai người khiêng xác, cuối cùng là người cảnh vệ cầm súng đi theo. Lúc đoàn người đi qua, Quang nhìn thấy mấy sợi tóc bạc của cụ thòi ra ngoài phất phơ. Ông Xu cúi gầm mặt xuống. Quang lẩm nhẩm đọc lại một đoạn kinh cầu nguyện cho người chết. Các toán tự giác ngừng việc im lặng nhìn như để tiễn người bạc phúc. Nhưng lúc bóng đoàn người đi chôn khuất sau những thân cây thì vẻ trang trọng như cũng mất theo. Tiếng ồn ào cười nói lại rộn lên từ mặt đất cho tới mái nhà.
Buổi tối, cơm nước xong, kỷ luật được vô ngủ trong nhà. Nhà chưa lợp xong hẳn, các nẹp cây chung quanh cũng chưa kịp đóng, song ai cũng tỏ vẻ vui mừng – dầu sao cũng còn hơn ngủ dưới đất và đêm đến tắm sương. Mọi người lại trở lại cái thú ngủ trong nhà, có sàn lát bằng cây, có mái che mưa và nửa đêm tỉnh giấc được trông thấy ánh đèn chai bập bùng. Họ nói chuyện ầm ĩ. Quang có cảm giác ấm cúng của một người đi xa khổ cực được rở về cuộc sống đầm ấm bình thường. Thảo ngồi dựa lưng vào vách hát nho nhỏ một bản vọng cổ, vừa lấy chân đánh nhịp. Ông Tám Xu tỏ vẻ mệt mỏi, nằm xuống kéo mền lên tận cổ. Trong bóng tối chập chờn, trông cả khuôn mặt ông chỉ rút lại còn hai gò má cao và cái cằm nhọn nhô ra đằng trước. Mấy hôm nay, những cơn sốt rét mà ông tưởng đã dứt hẳn từ hơn hai tháng trước trở lại hành hạ ông dữ dội vào mỗi buổi chiều. Người ông càng quắt lại như que củi. Sau mỗi cơn sốt, ông ham nói chuyện và câu chuyện dầu được mở đầu bằng cách nào cũng được kéo lại quanh mấy thửa ruộng và con bò già có nghĩa. Ông cũng thích được nghe người khác tán tụng những kinh nghiệm trồng trọt của mình.
Ông Đoàn phó bước vào lúc Quang đương vén quần xem xét vết thương ở bắp chân đã làm độc, mưng mủ và sưng tấy lên. Ông vừa đi vừa nói: “Nghe đây! Nghe đây!” Lúc mọi người im lặng chăm chú nghe thì ông lại bỏ tờ giấy xuống, quàng hai tay ra sau lưng, tạo nét mặt nghiêm trang. Quang cúi xuống lấy tay cà nhẹ nhẹ vào khoảng thịt ven miệng vết thương, thấy bực mình trước cái kiểu ưa lập nghiêm bất thình lình của ông Đoàn phó.
– Nghe đây! – Ông Đoàn phó lặp lại.
Quang hừ hẹ trong cổ: “Cái thằng cha thiệt dễ ghét!”
“Trại cải tạo huyện, ngày… tháng…” – Ông băt đầu đọc giọng lớn và rõ ràng. Quang ngẩng lên tò mò.
“Chúng tôi đồng ký tên dưới đây: Ba Thuộc, Sáu Côn, cán bộ an ninh cấp huyện; Bốn Thải tiểu đội trưởng tiểu đội cảnh vệ cùng 257 trại viên cùng chứng kiến xác nhận cái chết của tên Trương Văn Chắc như sau:
Tên Trương Văn Chắc, 72 tuổi ngụ tại thôn An Hòa, xã Kiến Hậu can tội làm tay sai cho giặc Mỹ, bị bắt ngày… và đã trút hơi thở cuối cùng vào hồi 8 giờ sáng ngày…
Vì tuổi già, đương sự được cơ quan miễn kỷ luật cùng nhiều công tác lao động. Nhưng ít ngày gần đây vì không chịu được khí hậu miền núi, đương sự đã ngã bệnh. Mặc dù đương sự đã được cơ quan cung cấp thuốc men và lưu tâm chăm sóc, nhưng vì sức yếu đương sự đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày giờ nói trên.
Kiểm điểm trong người đương sự ngoài bộ quần áo mặc trong người, chúng tôi còn thấy hai bộ bà ba và một cái mền đã cũ, ngoài ra đương sự không còn tiền bạc và đồ tư trang nào khác. Cơ quan đã cho khâm liệm thi thể đương sự tại một vị trí khoáng đãng gần trại.
Vậy nay lập biên bản này để làm vi bằng và lưu chiếu về sau – Đồng ký tên”.
Ông Đoàn phó gấp tờ giấy, cúi xuống đặt lại ngọn đèn vào chỗ cũ. Quang nhìn lên những sống lá dài trên mái, tưởng tượng lại mấy sợi tóc bạc lòi ra ngoài phất phơ với hai bàn chân nhăn nhăn tím ngắt của cụ Chắc.
– Tiện đây tôi muốn báo cho bà con biết một tin không vui lắm.
Ông Đoàn phó ngừng lại, nuốt nước bọt, im lặng như để tìm âm hưởng lời nói của mình nơi những người đối diện.
– Với tư cách Đoàn phó trông nom việc ăn uống, tiền nong, thuốc men trong trại, hôm qua tôi đã trình lên cho cơ quan biết số bắp bột dự trữ trong trại không còn đủ ăn trong ba ngày nữa – Ông ngừng lại xoa xoa hai tay vào nhau – Tôi đã được cơ quan thông cảm về vấn đề này, vậy xin phổ biến để bà con được biết. Hiện tại cơ quan không tìm đâu ra một thứ hoa màu nào để thay thế cho bắp. Đó là một điều ngoài ý muốn của cơ quan. Và như bà con đã rõ, với địch tình o ép thế này, tất cả các phương tiện chuyên chở đều khó khăn. Chúng ta có thể có tiền nhưng không tải được gạo, bắp mì hay khoai lang lên núi. Phần nữa, các nông trại của ta đều bị giặc phá hủy mà hiện tại chúng ta vẫn chưa tiếp tục lao động sản xuất được. Với phần gạo còn lại, chắc chắn chúng ta không thể nào ăn đủ no. Để tạm thời giải quyết, mỗi ngày cơ quan sẽ cắt một toán người vào rừng đốn củ hũ hay hái lá mương dóc để ăn độn với cơm. Điều đó đủ chứng tỏ cho chúng ta biết cơ quan lúc nào cũng lưu tâm săn sóc tới chúng ta. Cách mạng là gian khổ. Đây là một cơ hội quý báu nhất để chúng ta thể hiện tinh thần ăn năn hối cải, một cơ hội để chúng ta chuộc lại những lỗi lầm đã phạm với nhân dân. Bà con đồng ý với tôi điểm đó không?
– Đồng ý – Tiếng vài người đáp lại rời rạc.
– Vậy tôi sẽ hô ba lần câu “Cương quyết khắc phục gian khổ”. Tôi hô dứt bà con sẽ hô theo “cương quyết”. Bà con lãnh hội đầy đủ đó chớ?… À, được rồi… bà con sửa soạn, nào… ta hô “Cương quyết khắc phục gian khổ”.
– Cương quyết!
– Nhỏ quá, tôi thấy có một vài cá nhân cố tình không muốn tham gia. Hô lại đi! “Cương quyết khắc phục…”
– Cương quyết!
– Chưa được vẫn còn nhỏ. Hét lên! Nào, một lần nữa: “Cương quyết khắc phục gian khổ”.
– Cương quyết!
Ông Đoàn phó xua xua hai tay:
– Ờ, ờ được rồi, khá lắm. Tôi ca ngợi tinh thần…
Một cơn ho kéo dài cắt đứt câu nói, ông Đoàn phó để một tay lên ngực như muốn níu cơn ho lại. Ông lảo đảo tiến ra phía cửa, người cong gập lại. Tiếng ho xa dần.
– Bà con nằm xuống nghỉ đi, khuya rồi. Chắc anh Bốn không điểm danh được.
Ông Chín già vừa nói vừa uể oải đứng dậy phủi đít quần. Quang quay lại tìm cái mền đắp. Thảo hích nhẹ vào vai Quang thì thầm:
– Tao nghi tụi mình bỏ xác quá. Rồi mày coi, đói thấy ông cố nội cố ngoại!
Quang trườn người vào trong mền không đáp. Bắp chân bị chạm vào nẹp cây đau thốn lên. Quang nhăn mặt kêu nho nhỏ. Lúc cơn đau dịu đi, Quang thấy buồn ngủ, một thứ mệt mỏi dịu dàng lan ra khắp người. “Mình phải đọc kinh đã”, Quang nghĩ vậy và cố cưỡng lại cơn buồn ngủ. Bên cạnh, ông Tám Xu trở mình nặng nhọc, rồi tiếng ông nói thều thào trong mền:
– Quang này, cái thửa đất sau nhà mà tôi nói với anh đó, tôi nghĩ lại rồi, mình trồng thuốc lá có lợi hơn. Tôi biết cách trồng thuốc hút đậm mà dài khói. Anh tin đi!
Quang cố gắng để không bị đánh lạc khỏi những lời kinh.
– Cũng chẳng khó gì cả, chỉ cần mình biết ủ phân.
Giọng ông Xu trở nên yếu ớt. Quang mơ hồ nghe thấy một loài chim ăn đêm bay qua với tiếng vỗ cánh nặng nề.
(còn tiếp)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 5)”)