Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 4)
20/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 4)
Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: tù cải tạo
Đoàn người đi qua khỏi đoạn đầu suối, bắt đầu tiến vào một con đường dốc ngoằn ngoèo. Con đường nhỏ không có lấy một ngọn cỏ dại như có người đi nhiều lần làm Quang ngạc nhiên không ngờ trong chốn núi rừng âm u này lại có sự sinh hoạt hường xuyên của loài người. Quang nghĩ tới những người làm cách mạng và trong lòng nảy nở một thứ tình cảm kính phục. Cái ống quần tụt ra lòa xòa, thỉnh thoảng lại mắc vào một nhánh cây nhỏ chìa ra làm Quang bực bội nhưng không dám dừng lại để vén lên. Đường mỗi lúc một trơn trượt, mọi người phải bấm ngón chân vào mỗi bước đi. Đường phủ một lớp đất sét dẻo quánh trơn như mỡ. Có một đoạn đường dốc ngược xuống, mọi người đi chậm hẳn lại, họ phải bám vào cành cây đu dần xuống. Quang tự hỏi những người gánh đồ và khiêng võng cho cụ Chắc làm sao có thể vượt qua? Nhưng lập tức Quang lại nghĩ những người đó có thể hỏi lại làm sao những người trong kỷ luật có thể trèo được với cái tay bị còng? Quang bật cười về sự lẩn thẩn của mình. Ông Tám Xu đi đằng trước vô ý buông cái cành cây bạt ngược lại phía sau đập vào mặt Quang đau điếng. Mắt tối sầm lại. Quang đương cố gắng mở một bên mắt tìm lại cái cành cây để vịn thì đã thấy người mình trượt đi như một chiếc thuyền. Rồi thân của người đi sau kéo mạnh té dồn cục vào một chỗ. Chân của Thảo đập vào vai làm Quang đau dại cả người. Ông Tám Xu lồm cồm bò dậy, quần áo lấm bê bết. Quang luống cuống nhìn lại phía sau tìm bóng người cảnh vệ – không có ai, Quang buộc miệng chửi một câu tục tĩu. Thảo cũng chửi theo nhưng không ám chỉ một người nào. Anh Tám Lâu coi dây lại nhặt giùm gói đồ của Quang văng ra bên cạnh vừa pha trò:
– Đi đứng kiểu này coi bộ lẹ phải không bà con?
Quang cúi xuống vén lại ống quần rồi hấp tấp bước theo toán người đi trước đã bỏ một quãng khá xa. Một lát sau thấy bắp chân xót xót. Quang cúi xuống thấy một đường máu dài chảy xuống tận mắt cá. Quang tiếc rẻ, nghĩ: “Chỗ máu này là bao nhiêu chất bổ thật uổng, ta đang cần sức để sống đến ngày về”. Quang nghĩ tới những chén cơm bắp, những hột muối có lẫn cả cát rồi nảy ra sự so sánh với những bữa cơm ở nhà. Cơm ở nhà có rau, có mướp luộc, có cá đồng nấu canh bầu, có tôm rim… Những ý tưởng nọ nối với ý tưởng kia triền miên như dòng nước. Quang bắt đầu có những ân hận về dĩ vãng của mình. Giá đừng đi dân vệ… giá đừng lẻn về nhà ngủ tối hôm ấy, giá bỏ đi Sài Gòn làm ăn… Tất cả những mệnh đề theo sau đều là những sự kiện thật tốt đẹp mà không cần phải nghĩ nhiều Quang cũng có thể ý thức được một cách rõ ràng. Giá đừng có chiến tranh… Quang dừng lại ở đó và ngẩn người ra – ta đâu phải đi dân vệ, đâu biết cầm súng giết người, ta làm ruộng, ta sẽ trồng cà ở vườn, ta trồng cải nữa, ta còn gầy một rặng trầu và không chừng bây giờ ta tậu thêm được một đôi bò, một con đực một con cái, chúng sẽ đẻ…
Đột nhiên đoàn người dừng lại. Cái tin được nghỉ ngơi ăn uống truyền đi thật mau. Những người cảnh vệ chia nhau đi xếp đặt chỗ ngồi cho từng toán. Quang ngồi tựa vào gốc cây thở hổn hển. Lúc đó Quang mới kịp nhận ra sự mệt mỏi trong người. Thảo ngồi bên cạnh, chân duỗi dài, lưng tựa vào thân cây, mắt nhắm lại. Quang lấy tay lau vết máu và ngoắc ông Chín già lại mồi nhờ điếu thuốc. Khói thuốc luồn vào phổi làm người ngây ngây. Quang thấy dễ chịu, ngước mặt nhìn vơ vẩn lên vòm cây. Qua kẽ lá, Quang nhìn thấy một mảnh trời có nắng lóa ở viền các cụm mây. Một giọng nói lè nhè phía sau:
– Anh Quang cho tôi làm một hơi, thèm quá sức thèm.
Quang quay lại, bộ mặt thằng cha Tương với cái miệng rộng và cái răng bịt vàng, bộ mặt thật dễ ghét, bần tiện ích kỷ. Quang không ưa cái bộ mặt ấy từ ngày nó tố cáo một người nói chuyện với ông đoàn phó.
– Tôi chỉ xin anh lần này thôi, nhất định mà – Hắn khẩn khoản.
Quang đưa mẩu thuốc cho hắn và không buồn xem hắn rít điếu thuốc dài đến thế nào.
Anh Tám Lâu mang về cho dây mình một rá cơm bắp. Thằng Quỳ giành chia cơm. Phần ăn mỗi người hút đến hai xỉ lớn. Thằng Ứng chửi thề:
– Chết tía mấy con cấp dưỡng! Nó chia cơm vầy chết không nhắm mắt.
Thảo cũng lộ vẻ bực tức:
– Ba cái con ngựa kéo ấy nó tọng vô lòi họng ra rồi còn đâu chia cho anh em.
Quang im lặng nhai từng hột bắp. Bắp nguội và hơi ướt nhưng Quang vẫn cảm thấy mùi béo ngầy ngậy của những hột bắp tẻ. Ăn xong Quang mới thấy đói và thòm thèm hơn. Quang nhớ tới những vườn bắp rậm rạp, trái bắp mới đậu xanh mướt, nhưng hột bắp đều mẩy trắng đục như màu ngà. Quang tự hỏi tại sao hồi trước, có nhiều lần đi qua những vườn bắp mà không để ý lại nghĩ ngợi đến những chuyện vớ vẩn, vô ích?
– Quang, trông kìa, tao đố mày bà Sáu với mấy đứa nhỏ ăn gì?
Quang nhìn theo tay Thảo, trả lời:
– Muối mè!
– Không đúng, thịt!
– Ở đây làm gì có thịt? Nếu có đời nào ông Sáu lại đi ăn cơm với mấy ông Ba Lớn, Ba Nhỏ.
– Ăn muối mè mà lại gắp à? Mày để ý coi – Thảo cãi.
Quang im lặng và không cần nhìn cũng biết ông Tám Xu đương ngồi rờ rầm nghịch với mấy cái lông mũi. Anh Năm Sự từ đằng xa bước lại, vừa đi vừa xoa cái bụng bự của mình:
– Ê! Ê! Sửa soạn đi bà con ơi.
Thảo vươn vai ngáp một hơi dài. Mọi người uể oải đeo lại những gói đồ lên vai. Thảo nói:
– Kỳ này được về, có phải bán nhà tao cũng phải mua một cái đầu heo luộc ăn cho đã.
Đoàn người bỏ con đường mòn đi xuyên qua rừng cây. Mặt đất đầy lá rụng lâu ngày ủng thối đi, mỗi chân dẫm xuống, lớp nước đọng ở dưới đen xì, đặc quánh trào lên theo mấy kẽ chân. Sự mỏi mệt như thấm vào tận cùng cơ thể, Quang thấy bước đi mỗi lúc một nặng nề. Những người cảnh vệ luôn luôn giục giã, gắt gỏng. Ông Tám Xu đột nhiên la lên: “Vắt! Vắt!” rồi đứng dừng lại. Một con vắt bám vào bắp chân, mình đen như màu gỗ mục. Ông Xu dứt thật mạnh quẳng ra xa. Một đốm máu đỏ tươi ứa ra từ miệng con vắt cắn. Quang tặc lưỡi: “Lại một số chất bổ mất đi”. Mồ hôi bắt đầu chảy thành dòng bên hai thái dương. Quang bước chệnh choạng như một người say rượu, hai chân như không chịu sự điều khiển của bộ óc dẫm vào một hòn đá sắc mà rõ ràng Quang đã nom thấy và định tránh đi trước khi bước tới.
Trời tối sầm lại. Gió như nổi lên từ một góc rừng nào đó thổi vi vút qua những hàng cây. Lá rụng lả tả khắp nơi. Cả khu rừng reo lên một điệu nhạc hoan hỉ. Cơn mưa sắp đến làm mọi người đi mau hơn. Quang gần như phải chạy lúp xúp mới theo kịp toán đi rước. Đoàn người tới một con thác lớn. Nước như ở cả mọi nơi dồn lại chảy trên một cái lạch rộng. Cái lạch bỗng dưng sụt xuống như một nấc thang lớn và từ đó nước đổ xuống ào ạt thành một bức tường trắng. Mọi người đi chậm lại cẩn thận đặt từng bàn chân lên các mỏm đá. Phía dưới, nước chảy ầm ầm, bọt ngầu lên trắng xóa rồi tan đi mau chóng khi lan vào các bờ cỏ. Càng ra giữa thác, nước chảy càng mạnh; Quang mãi nhìn một tảng đá giống hình con cóc đến nỗi suýt bị nước cuốn đi. Vừa lúc ấy, một chiếc máy bay sà đến, tiếng động cơ nổ rè rè. Người cảnh vệ đứng bên kia bờ thác hét lớn: “Ngồi xuống!” Tiếng thét vang lên lanh lảnh. Mọi người ngồi xuống như một cái máy tự động. Quang ngước mắt nhìn lên, chiếc máy bay có hai cánh dài và gọn bay là là trên đầu các ngọn cây rồi mất hút ở phía xa nhẹ nhàng, thơ thới như một con bướm vờn trên các cánh hoa. Quang đứng lên, quần áo ướt đẫm.
Người cảnh vệ cười thoải mái:
– Hú hồn! Tui tưởng bà con chết rồi chớ, nó bay thấp quá mà!
Trời bắt đầu mưa. Những tiếng rào rào mới đầu nổi lên ở một phía xa rồi tiến lại rất nhanh như tiếng vó ngựa dồn dập của cả một đoàn quân phi trên các ngọn cây. Mưa đổ xuống ào ạt. Đoàn người vẫn lầm lũi đi như một con rắn dài trườn mình vào phía rừng cây trước mặt. Nhiều người đã khoác những tấm nhựa lên đầu che mưa. Đường mỗi lúc một dốc ngược, lắm đoạn người ta phải nằm bò trên những tảng đá để leo lên hay phóng người qua những miệng hố sâu. Những người cảnh vệ trèo leo như loài sóc, luôn luôn phải đứng lại để chờ bọn tù nhân. Quang chăm chú đi không nhìn thấy gì ngoài những hòn đá dưới chân và các gói đồ lúc lắc trên vai ông Xu. Lúc đoàn người dừng lại Quang mới nhận ra mình vừa trải qua một đoạn đường dài quên mệt.
Những người cảnh vệ nhảy lên những tảng đá cao ngó dáo dác như muốn tìm kiếm một chỗ nghỉ qua đêm. Ông Sáu Côn rút khẩu súng lục ra lau với cái khăn choàng đầu. Quang đưa mắt nhìn chung quanh và không ngờ cơ quan lại cho đóng trại ở một địa điểm cheo leo thế này – chung quanh toàn là những tảng đá lô nhô như một khu vườn kỳ lạ trồng đủ các loại nấm hoang, không có một đoạn nào bằng phẳng khả dĩ có thể che tạm một túp lều. Phía bên kia là vách đá sừng sững mà Quang đoán là sườn một ngọn núi khác vì Quang đã trông thấy cái sườn của nó nổi lên thành một đường viền dài mấp mô, đen xẫm. Anh Bốn Đoàn dẫn một vài người đi chặt lá cây về quây một chỗ cho cấp dưỡng đun nấu. Mọi người loay hoay tìm chỗ ngủ. Anh Tám Lâu đem về cho dây Quang một ôm lá hỗn độn để trải làm chỗ nằm. Ông Tám Xu, Thảo và thằng Quỳ giăng những miếng nhựa lên đầu che mưa.
Anh Năm đi qua vất vào một nhánh lá nói:
– Ăn đi, lá quế đó.
Quang giơ tay đón, hỏi lấy lòng:
– Đâu vậy anh Năm?
– Ở mé suối, thiếu cha gì.
Ông Tám Xu bứt một ngọn lá, nhấm nháp, mũi hơi nhăn lại:
– Quế này là quế lá, rừng miệt này chắc không có quế cây.
Thảo nhét cả một nắm lá vào miệng nhai ngấu nghiến, nói lúng búng:
– Giá có cam thảo, cam thảo thì tôi gậm cả thúng được, à mà táo tàu nữa, thuốc bắc chỉ có hai vị ấy là ngon.
Quang ngắt một đọt lá ở ngọn nhai thong thả. Nước lá quế tiết ra cay cay, mùi thơm sộc lên mũi nóng cả mặt.
Cơm nước xong thì trời sập tối. Khí đá bốc lên mù mịt. Cả khu rừng như chìm trong lớp mây mờ. Nước thấm vào người lạnh buốt, Quang ngồi xổm người co tay vào trong lòng, thú vị trong việc để nguyên cho hai hàm răng tự động va vào nhau lập cập. Ông Tám Xu ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Thảo châm một điếu thuốc, vẻ mặt thừ ra buồn bã. Một lát sau Quang nghe thấy tiếng Thảo thở dài. Quang quay lại – Thảo úp mặt xuống đầu gối trong một dáng ngồi như ông Xu, điếu thuốc cháy ngun ngún ở đầu kẽ tay. Bên nỗi buồn đột nhiên của bạn, Quang thấy chán nản và bất lực. Ở bên ngoài, người cảnh vệ đu đưa cái võng ny lông, trên có một tấm nhựa lớn che kín từ đầu tới cuối. Quang thấy thèm địa vị và đời sống của người cảnh vệ. Tại sao mình khổ thế này? Quang nghĩ thầm và muốn khóc.
Trời tối mịt. Mặt đất nổi lên những vụn sáng lấp lánh. Mưa kéo dài rả rích. Thỉnh thoảng người cảnh vệ đi tuần chiếu đèn pin vào từng dây một, ánh đèn quét thành một đường sáng dài nhức mắt. Tiếng côn trùng vang lên mơ hồ, buồn tẻ. Quang ngồi dựa vào Thảo mệt mỏi ngủ thiếp đi mơ thấy mình là một hòn đá ngồi dưới chân thác nước.
Nửa đêm trời mưa lớn. Nước đọng thành vũng trên miếng nhựa theo nếp nhăn chảy tong tong vào bên trong. Mọi người phải thức dậy lấy que nâng chỗ trũng cho nước chảy ra ngoài. Đột nhiên một tiếng nổ lớn vang lên ngoài mé suối, rồi có tiếng những cục đá văng vào vách núi rào rào như có ai ném thật mạnh một mớ sỏi. Mấy người đàn bà la lên sợ hãi. Một lát sau, ông Ba Nhỏ cầm đèn pin đứng ở một gốc cây nói lớn:
– Địch nó câu đại bác vào suối, không sao đâu. Bà con không được chạy nhốn nháo khỏi chỗ của mình.
Cơn mưa mỗi lúc một lớn. Nước đọng trên miếng nhựa tròng trành muốn đổ vào trong chỗ nằm, tới một độ không thể nào ngăn nổi, mọi người phải giựt đứt những sợi dây cột, chia nhau nắm chéo nhựa đội lên đầu. Ông Xu, Thảo và Quang đội chung một miếng nhựa. Nước theo kẽ đá chảy róc rách thành những đường ngoằn ngoèo. Ông Xu nói:
– Mấy gói đồ ướt hết rồi.
Thảo than thở:
– Rõ ràng là trời không có mắt, nhè đúng hôm dời trại thì mưa.
– Kỳ này về nhà mình hết còn biết khổ là gì nữa.
Quang nói và cảm thấy thèm, khao khát một tấm giường nhỏ, một chiếc mền khô ấm để ngủ một giấc ngủ quên cả ngày đêm. Quang liên tưởng tới những đêm ngủ ở nhà, những đêm ngủ ngoài đồn, chiếu mền nhà binh dày và nhẹ, cái ngựa gỗ, đôi gối có thêu hình hai con chim đương hót trên cành, với chữ hạnh phúc bằng chỉ xanh đỏ. Đã nhiều lần Quang kê đầu, Quang úp mặt trên chiếc gối ấy, nhưng chỉ có bây giờ Quang mới cảm thấy cái hạnh phúc thêu thành chữ kia là thật. Quang nhớ đến vợ, nhớ cả cái tật Nhi nằm mỗi lúc lên giường. Bao giờ thì Nhi cũng gối đầu được vài phút rồi kéo cái gối xuống ôm trong lòng. “Giá bây giờ mình được ở nhà”, cái ý tưởng ấy thoáng qua đầu và cũng chỉ trong một thoáng ấy Quang thấy thương nhớ và yêu đương vợ nồng nàn. Hình ảnh Nhi tràn ngập tâm hồn, Quang như thấy vợ đương cười đương nói, đương cho con bú, đương lặt rau ngoài bờ giếng, đương tới luống cải trong vườn. Nhi thật đẹp, vui tính và dễ thương. Quang nhớ tới dáng đi và nụ cười của vợ. Đã có một thời nào Quang đã phải bỏ ra bao nhiêu ngày để theo đuổi nụ cười ấy. Quang bàng hoàng nhớ lại những kỷ niệm xưa. Bây giờ Nhi làm gì. Nhi còn hay làm món cá kho lẫn với đường mà chồng vẫn thích? Nhi có sống khắc khoải vì mong nhớ chồng như Quang trên này vẫn nhớ tới Nhi? Quang nhớ tới giấc mơ hồi chập tối, nhớ tới hòn đá hình con cóc tắm dưới chân thác nước. Tại sao mình lại có thể mơ mình biến thành hòn đá? Giấc mơ lành hay dữ? Mình sẽ chết ở đây và biến thành đá? Câu chuyện Trầu Cau hồi nhỏ dẫn Quang đến những mơ mộng vu vơ. Quang thành một hòn đá, Nhi đi tìm chồng qua vùng núi này biến thành một thứ dây leo. Không thể được, Quang không thành đá và Nhi không thể nào chết được. Nhi phải sống để nuôi thằng Hồ, con Ngọc. Quang cũng sẽ trở về, sẽ kể lại những cảnh khổ sở mà Quang đã trải. Chúng nó sẽ ngạc nhiên và khâm phục về sự từng trải và dày dạn của Quang.
“Mình phải về! Mình sẽ được tha!” Niềm tin mơ hồ ấy sáng rực trong lòng. Quang ngây ngất như nếm phải một thứ men lạ. “Chính sách của cách mạng là khoan hồng…” Câu nói cửa miệng của mọi người trong buổi học tập với Quang bây giờ trở thành một nguồn an ủi và khích lệ lớn lao. Quang nghĩ: “Mình có làm điều gì ác đức đâu, lúc nào mình cũng có bụng tốt với mọi người. Nếu cách mạng không bắt bớ, bắn giết, không phá làng xóm thì chắc chắn mình chẳng bắn giết họ làm gì. Chưa có bao giờ mình nhắm vào lưng ai để lẫy cò, rõ ràng là mình không ưa gì cái chuyện giết người đó. Nếu trong những lần chạm súng có người chết thì đó là tại họ không may, mình chẳng dính líu gì vào cái tội ác ấy. Người ta bảo mình cầm súng và canh đồn, mình đâu có muốn cách mạng đem quân về tấn công. Mình khoái được ngủ yên hay chơi xì lác hơn là thức khuya, lên đạn và nhòm ngó qua những lỗ châu mai. Mình phải được về! Quang nhớ lại những lời nói của ông Ba Lớn hôm đầu tiên được gọi lên khai suất: “Anh cầm súng Mỹ giết hại đồng bào. Tội anh là tội chết nhưng cách mạng chỉ muốn đào tạo anh để anh trở thành công dân tốt. Trước kia anh đã gây những lầm lỗi, biết bao người dân vô tội đã bị anh hành hạ, đánh đập. Anh đã gây cho họ biết bao đau đớn, anh bắn giết họ, anh đốt nhà họ, nay cách mạng chỉ muốn anh giác ngộ, hiểu được những tội lỗi của mình mà quay đầu về với nhân dân. Đáng ra, anh phải cầm súng bắn lại bọn giặc Mỹ dã man muốn đặt ách nô lệ lên đầu người dân Việt, anh phải giết họ vì họ đã dày xéo lên đất nước chúng ta. Cách mạng sẽ khoan hồng cho anh, nhân dân sẽ khoan thứ cho anh nếu anh thiệt tình ăn năn hối cải…”
Trời đã sáng nhưng mặt trời vẫn còn lẫn sau những lớp mây dày, cảnh vật sống trong một thứ ánh sáng mờ đục của một ngày ẩm ướt. Tiếng giun dế thưa dần rồi bặt hẳn. Một người cảnh vệ chui ra khỏi võng, uể oải nhìn lên vòm cây, hai vai co lại vì lạnh. Trong một hốc đá, hai đứa nhỏ con bà Sáu Côn vẫn còn ôm nhau ngủ cạnh những gói đồ, chúng nằm đâu mặt vào nhau, tấm mền phủ quá cổ. Quang tẩn mẩn lấy tay ấn sâu xuống mu bàn chân tìm những khớp xương ẩn sau lớp thịt dày bì bì như miếng da trâu. Ngón tay đào thành một lỗ trũng sâu xuống thịt. Ông Xu kêu:
– Cái chân coi bộ càng ngày càng đầy hung.
Quang vén quần chỉ chỉ vào vết thương ở bắp chân:
– Còn cái vụ này nữa, coi bộ cũng muốn làm độc sao mà nhức quá đi.
Giữa lúc đó, có tiếng hét của ông Sáu Côn ở một dây phía xa:
– Mày nói đi, nói ngay! Tao giết mày bây giờ.
Quang ngẩng lên nhìn. Ông Sáu đang nắm tay rung rung trước mặt ông già Tộ:
– Mày đừng có nói láo, mày không qua mặt được tao đâu.
Mọi người cùng đổ dồn mắt về một phía. Ông già Tộ chắp tay vái vái, miệng lắp bắp:
– Dạ, thưa cơ quan, quả thiệt tôi không biết. Có trời phật làm chứng hôm qua tôi mệt quá ngủ suốt đêm. Xin cơ quan soi xét.
– Thôi câm đi, ai soi xét cho mày.
Ông Sáu giơ chân đá thật mạnh vào ngực ông Tộ. Ông già bật ngửa người ra phía sau, hai chân quờ quạng nhấc khỏi mặt đất trông như một hình nhân bằng gỗ bị xô té. Ông Sáu quay sang An ngồi cạnh, một cái đá nữa vào vai. An hơi lạng người đi rồi ngồi lại ngay ngắn.
– Còn mày nữa, nó cắn dây chạy đi lúc nào?
– Thưa cơ quan chắc là khoảng nửa đêm vì sau khi súng nổ ở suối một hồi lâu tôi mới ngủ, trước đó nó vẫn ngồi cạnh tôi.
Ông Sáu cầm sợi dây cột ở tay An giọng dịu xuống nhưng quả quyết:
– Mày ngồi cạnh nó mà nó cắn đứt dây mày không hay? Có phải mày tổ chức cho nó chạy không? Mày khai đi, mày không khai tao bắn mày bể sọ.
Ông rút khẩu súng lục kê sát tận mặt An. An ngần ngừ nhìn vào họng súng rồi nói một cách bình tĩnh:
– Cơ quan xét cho tôi, nếu tôi tổ chức cho nó chạy thì tôi đã chạy theo với nó rồi, tôi đâu dám ở lại đây để bị liên lụy.
Ông Sáu đút khẩu súng lục vào bao, hậm hực nhìn anh Tư Sang:
– Mày được cơ quan tin tưởng cho coi kỷ luật, một dây có mấy đứa mà mày cũng để cho nó tẩu thoát. Mày phải thí mạng mày vô đó.
– Dạ, thưa cơ quan, thưa cơ quan…
Ông Sáu không để ý đến lời phân trần của anh Tư quay bỏ đi. Anh Tư Sang khóc thút thít như một đứa trẻ nhỏ, nói với người cảnh vệ:
– Anh Năm! Em có hay biết gì đâu, em làm sao bây giờ anh Năm?
Đến lượt người cảnh vệ bỏ đi. Anh Tư nức nở:
– Hăng ơi!… Hăng!… Mày chạy hồi nào?… Mày hại… tao rồi! Vợ con tao… không gặp được tao là tại… mày đó… Hăng ơi!…
Thằng Điệc, con bà Sáu đứng chắp tay ra sau, ngước mắt nhìn tò mò, miệng há ra, mấy sợi tóc mềm cong vòng trên đỉnh đầu. Ông già Tộ bắt đầu kể lể dài dòng nỗi oan ức của mình, nặng lời nguyền rủa kẻ vắng mặt. Cạnh đó, An ngồi ủ rũ, im lặng, hai vai gầy như nhô cao thêm. Một vài người nhìn An thở dài. Quang cúi xuống buồn bã nhìn cái lỗ thủng trên mu bàn chân. Tiếng ông Xu lơ lửng:
– Lại khổ bọn mình!
Quang chép miệng, ngơ ngẩn nhìn lên bầu trời sũng nước.
(còn tiếp)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 4)”)