Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 3)
19/06/2010 | 1:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 3)
Category: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: tù cải tạo
Phần hai
Cả trại ồn ào lên từ lúc trời còn sáng mờ mờ: Tiếng chân người bước trên sạp cây thình thịch, tiếng bát đĩa va chạm, tiếng cành cây khô gãy vụn dưới bước đi, tiếng gọi nhau lao xao trong những căn nhà sàn phía ngoài. Trên nhà cơ quan, mấy con gà mái quác quác ầm ĩ. Những tiếng động lạ tai ấy đánh thức đám người trong kỷ luật. Nhiều người tung mền nghển cổ nhìn ra ngoài. Sự linh cảm có một điều khác thường trong trại làm họ tỉnh táo. Họ nhớ lại những tiếng súng nổ hồi nửa đêm dưới chân núi. Quang kéo mền ngồi dậy, hơi lạnh buổi sáng làm Quang rùng mình muốn chui lại vào trong mền. Ở ngoài bếp có tiếng ho của ông đoàn phó lẫn với tiếng của mấy người cảnh vệ ra lệnh cho đám tù. Quang ghé mắt nhìn ra ngoài. Qua làn khí đá mờ mờ, những bóng người lăng xăng đi lại trên sạp, những thúng mủng quang gánh để bừa bãi trên những mô đá. Trong phòng kỷ luật có tiếng một vài người xì xào, “Dời trại! Dời trại!”. Quang vấn một điếu thuốc hút rồi quay qua lay vai Thảo:
– “Dậy mày! Dậy mày!”
Thảo ưỡn người trong một cử chỉ mệt mỏi, mở căng miệng ngáp một hơi dài lầu nhầu trong miệng:
– Để tao ngủ chút nữa, sớm mà!
Một người cảnh vệ bước vào dõng dạc gọi:
– Ông Chín!
Ông Chín già đang nằm trên chiếc võng bố mắc ở góc phòng chồm dậy đu xuống.
– Ông nới dây cho anh em để họ còn dọn dẹp dời trại.
– Dạ, dời trại sao anh Bốn?
Người cảnh vệ không đáp, lẳng lặng bỏ ra ngoài, nhảy từng bước dài trên những rễ cây lớn trồi lên mặt đất. Anh Năm Sự đã thức dậy ngồi cạy rử mắt, mồm há ra méo xệch sang một bên. Anh xoa xoa hai tay cất giọng lè nhè:
– Đi nữa ta ơi! Chết tía tui rồi, ba cái hột bắp hồi hôm ăn không nhai mà nó cũng tiêu đi đâu hết ráo.
Gần đó, anh Tư Sang khum khum hai tay châm thuốc hút, ngọn lửa loè lên soi rõ cặp lông mày đương nhíu lại. Anh nói qua hơi thuốc:
– Nè ông Chín hồi hôm nghe súng bắn không?
– Ai không nghe mày.
Anh Tám Lâu ngồi bỏ thõng hai chân trên chiếc võng của mình hỏi bâng quơ:
– Đụ mẹ! Đạn đâu mà bắn dữ quá hé, hồi đó phiên gác ai ta?
– Phiên tui – Ông Tám Bửu vừa nói vừa khoa tay chỉ – Lúc tui kêu thằng Mười Máy đổi phiên còn nghe súng bắn phía này, súng đại liên không.
– Thôi đi cha, biết mẹ gì mà đại liên với tiểu liên.
Anh Năm Sự vừa đưa tay cào sồn sột trên lớp da bụng, vừa nói xen vào. Ông Tám Bửu ngừng xếp mền, ngẩng mặt lên tức tối:
– Bộ mày tưởng mình mày đi lính mày mới biết súng đại liên sao. Thằng này cả mười mấy năm chạy loạn mà dễ thường không phân biệt được tiếng súng. Mày coi nè!
Ông Tám Bửu vừa nói vừa vén quần chỉ vào vết sẹo dài ở gần háng. Ông Chín già nhăn mặt nói lớn:
– Trời đất! Bây giờ mấy người ngồi cãi lộn đó sao, lẹ lẹ lên còn nới dây cho người ta chớ. Ba cái đồ quỷ đó mà xếp xếp hoài?
– Rồi, rồi, tui rồi, ông khỏi lo mà ông Chín.
Anh Tám lâu vừa cột cái tay nải đựng đồ xong, treo lên vách rồi đi nới dây cho dây mình. Đám tù bắt đầu dọn đồ đạc một cách vội vàng. Quang nhoài người lấy chân khều một sợi dây cột. Thảo hỏi:
– Mang tấm lá theo không?
– Sao không mày, rồi lấy chi nằm. Đêm mà nằm xuống đá lạnh thấy ông cố nội cố ngoại.
Thảo hé miệng kéo cái nút buộc tay nải rồi hỏi tiếp:
– Mày biết trại dời đi đâu không?
– Sao biết được, tao đâu phải cơ quan.
Quang dọn đồ của mình xong, ngồi bệt xuống, móc túi kéo ra một gói ni lông nhỏ đựng thuốc, lấy giấy vấn một điếu, quay sang hỏi:
– Nè Thảo, mày còn thuốc không?
– Sắp hết rồi, Thảo đáp.
– Chết mẹ! Rồi lấy gì hút? Tao cũng chỉ còn có vài điếu.
– Kệ cha nó, hết nhịn luôn.
Quang cười khẩy:
– Sợ mày không chịu được, kỳ trước dời trại trời lạnh mà còn nằm ngủ trên đá, tao thèm thuốc chịu hết thấu. Quang lấy chân đè giùm tấm lá cho khỏi bung để Thảo cột ở hai đầu và luồn một sợi dây chằng đeo lên vai.
– Mày biết tại sao đi không? Thảo hỏi.
– Dĩ nhiên là tại đi đánh giặc, mày không nghe súng bắn hồi hôm đó sao?
Quang bỗng quay lại nhìn đăm đăm ra ngoài, nói mơ màng như cho chính mình nghe: “Tụi địch nó tấn công cái núi này, bây giờ không chừng nó ở dưới chân núi”. Thảo ướm thử sợi dây lên vai giọng hờ hững:
– Đi rồi có trở lại đây nữa không?
Quang bị kéo khỏi ý nghĩ của mình, đáp cáu kỉnh:
– Tía tao cũng không biết, tao đã nói tao đâu phải cơ quan.
Ở dây bên cạnh có giọng khàn khàn của thằng Tài. Tài nói với Sang:
– Sao các thằng nó hỏi ngu thế; ở đây mà hỏi cái giọng đó chắc nó hết muốn sống rồi.
Thảo vùng lên như thói quen của những con mụ lắm điều:
– Tao nói gì mặc cha tao. Tao có ỉa trên đầu ông nội mày hồi nào đâu.
Thằng Tài dằn mạnh gói đồ, chồm người trên hai đầu gối, chờn vờn xô tới. Ông già Cung ngồi bên cạnh giơ tay cản nó té xuống. Quang cũng kéo Thảo sang một bên. Thằng Tài lầu nhầu trong miệng:
– Kệ tui mà! Để tui bẻ gãy họng nó ra.
Thảo nhún vai cười chế giễu. Ở ngoài cửa có tiếng người cảnh vệ gọi với vào:
– Ông Chín đâu rồi, cho kỷ luật ra ngoài đi!
Một vài người hối hả cột đồ đạc lên vai. Quang cúi xuống thắt lại các ống quần lên cao. Trời sáng dần. Đám tự giác đã thu dọn xong. Một vài người ngồi bệt xuống sạp giở thuốc hút. Mấy cô cấp dưỡng ngồi cạnh những giỏ muối và thùng bát đĩa vấn sơ lại mái tóc. Kỷ luật đứng riêng ra một góc. Mấy người cảnh vệ bồng súng ngồi vắt vẻo trên những mô đá, mỗi người quàng một cái ruột nghé đựng gạo đằng sau lưng. Bà Sáu còn mang cái bu gà ra nhờ một người tù mang hộ. Ông Sáu ẵm đứa con trai nhỏ leo qua cái cầu khỉ bắt ngang suối. Ông đặt con xuống đất rồi leo lên đứng ở một mô đất cao. Mọi người đưa mắt nhìn chăm chú. Ông đứng thẳng người, hai tay khoanh trước ngực, ngó phớt lên đám tù. Ở phía nhà bếp có tiếng ông đoàn phó vọng lên:
– Anh em ngồi xuống hết coi.
Ông Sáu đợi cho mọi người hoàn toàn im lặng mới cất tiếng nói chậm rãi và rõ ràng:
– Hồi hôm bà con chắc đã nghe thấy tiếng súng nổ. Tôi xin báo cho bà con rõ: Hiện tại địch rất gần ta. Chỗ ở của ta không được kín đáo lắm và có thể ở trong tầm súng lớn của địch. Vì lý do đó, chúng tôi đưa bà con đi tản cư để tránh khỏi cái tầm súng đạn đó – Ông ngừng lại một chút, nuốt nước bọt rồi nói tiếp – Tuy nhiên, trước khi đi tôi thấy cần phải nhắc nhở với bà con vài điều. Bà con đây ít nhiều đều là những người có tội lỗi đối với nhân dân, được nhân dân đưa đi cải tạo để rửa sạch những lỗi lầm đó. Bà con đừng thấy những khó khăn cách mạng gặp phải ngày hôm nay mà đã vội giao động tư tưởng để nghĩ rằng cách mạng đã thua. Bà con lầm, từ Tết tới giờ, như tôi đã có dịp nói với bà con trong buổi học tập là tụi Mỹ nó đã kéo cả mấy trăm ngàn quân để uy hiếp quân dân ta. Tạm thời trước cái đông đảo của nó ta phải tạm lùi. Nhưng – ông giơ một ngón tay ngang mặt giữa sống mũi – Cách mạng lùi một bước để tiến hai bước. Bà con hãy tin rằng cách mạng không thể nào thua được. Dãy Trường Sơn còn cách mạng còn. Cách mạng còn đất nước không thể nào rơi vào vòng nô lệ được. Ông bỏ tay xuống chắp ra sau lưng, đảo mắt nhìn một lượt xung quanh – Tôi biết được một ít người trong số bà con đây đã diễn biến tư tưởng, hy vọng tẩu thoát được bàn tay cách mạng. Tôi còn biết được những kẻ đó là ai. Tôi báo bà con biết trước để liệu mà từ bỏ cái tư tưởng lầm lạc đó đi. Bà con có chạy thoát xuống chân núi bây giờ, tụi Mỹ nó cũng không tin được là bà con vừa trốn khỏi trại cải tạo nhân dân để về cúi đầu hầu hạ nó đâu. Nó đâu có hiểu bà con nói gì, nó đâu có nghe được tiếng Việt ta, nó sẽ bắn ngay lúc bà con ló khỏi bìa rừng. Ít lâu nay, tuy sự ăn uống có giảm sút nhưng chúng tôi đâu đã để bà con phải chết đói. Trong cái lúc khổ sở, thiếu thốn này bà con cần phải khắc phục để thể hiện lòng ăn năn hối cải của mình. Chúng tôi không phải là gỗ đá để không biết là bà con đương khổ cực. Nhưng lỗi đó đâu phải tại cách mạng, lỗi đó do tụi giặc gây ra cho bà con. Bà con phải căm hờn tụi Mỹ mới phải. Bà con đồng ý với tôi điểm đó không?
– Đồng ý! Đả đảo bọn Mỹ! Đả đảo! Đả đảo!
Tiếng nhiều người cùng hô lên một loạt. Quang dí dí ngón chân xuống đất nhìn một cái xác lá mục nằm trong vũng nước, nghĩ tới lời nói của ông Sáu Côn: “Tôi biết được một số ít người trong số bà con đây đã diễn biến tư tưởng, hy vọng tẩu thoát…” Quang tự hỏi: “Thật thế chăng? Vô lý, ngay cả Thảo cũng chẳng biết mình nghĩ gì”. Quang nói thầm: “Này, thằng Sáu Côn, tao oán thù cách mạng lắm, tao tin là tụi Mỹ nó sẽ bắn tao ở bãi rừng nhưng không đời nào tao tin được cái miệng của mày, mày đã bỏ đói chúng tao”. Quang nhìn lên, ông Sáu Côn đã dứt lời, môi vẫn đọng vẻ kiêu hãnh. “Đó, nó làm sao biết được mình nghĩ cái mẹ gì, nó làm sao hiểu được mình đương chửi nó”. Quang quay sang Thảo. Nó đang ghé miệng gậm sợi dây nâu cột đồ vẻ mặt thản nhiên. Quang thấy yên bụng và thích chí như những lần đánh bạc lật tẩy được một thằng chơi gian. Phía trên kia anh Bốn Đoàn bắt đầu nói:
– Tôi được cơ quan giao việc coi sóc anh em, bà con khi dời trại mọi việc sơ sẩy tôi phải gánh chịu hết nên tôi hy vọng bà con sẽ giữ kỷ luật khi đi đường. Thứ nhất, bà con không được ngắt lá cây, không được bẻ các cành con để tụi địch có thể dò biết được. Thứ nhì, không được gây tiếng động hay nói chuyện ồn ào. Thứ ba, bà con phải cất kỹ những ống lon, ca đựng đồ, những miếng nhựa trắng hay bất cứ những đồ gì chói nắng để máy bay địch có thể trông thấy…
Quang đứng yên thắc mắc mãi về cái việc “ông Sáu Côn không thể nào hiểu được ý nghĩ của mình” cho mãi tới lúc đoàn người bắt đầu đi. Đi đầu là ông Ba Lớn vai đeo một cái ba lô bằng vải thô dày, kế đến bà Sáu Côn và mấy đứa nhỏ. Sau đó đến bọn đàn ông vác gạo, bắp hay gánh những sọt than. Mấy cô cấp dưỡng và mấy mụ đàn bà đi thành từng toán chia nhau những giỏ muối, những thúng chén đĩa nồi niêu. Mấy người cảnh vệ chia nhau đi xen vào từng đoạn một. Hai người đàn ông khiêng cái võng cụ Chắc bắt đầu bọc hai đầu đòn lên vai. Quang nhìn hai cái bàn chân xương xẩu của cụ ló ra ngoài, tự hỏi không hiểu cách mạng bắt một cụ già lụ khụ như vậy để làm gì. Từ ngày lên cụ ốm liên miên. Một đôi lần trước kia người ta thấy cụ run rẩy bước trên những hòn đá trong sân nhặt rác rưởi và lá cây khô bỏ vào trong cái giỏ mây thưa. Sau này, những cơn sốt hành hạ vào mỗi ngày, cụ nằm lỳ trong trại và mỗi chiều khi cơn bệnh kéo đến, người ta nghe thấy cụ rên khừ khừ và nói lảm nhảm trong miệng. Lần trước cụ được khiêng đi phía đầu, nhưng sau lần dời trại ấy số người bệnh trong trại tăng vụt lên, người ta lập tức dồn hết mọi tội lỗi cho cụ. Nhiều người lớn tuổi nói với vẻ tin tưởng: “Cô bác nghĩ coi, khiêng gì mà lại khiêng đi đầu như khiêng đòn đám ma”. Cơ quan cũng đồng ý và lần này cho khiêng cụ đi sau sát với đám kỷ luật. Người cụ gầy đét nằm lọt thỏm trong chiếc võng bố trông như một khúc cây khẳng khiu.
Đoàn người lặng lẽ đi ngược theo dòng suối. Trời sáng dần, những tia nắng nhuộm vàng đầu những ngọn cây lớn ven bờ suối bên kia. Đường mỗi lúc một khó đi. Quang thấy bàn chân bắt đầu rát vì dẫm lên mặt đá nhám. Càng đi lòng suối càng rộng dần, cho tới chỗ có những tảng đá lớn nằm chồng chất lên nhau chiếm cả một khoảng lớn thì lòng suối chỉ còn là những dòng nước nhỏ tuôn ra từ trăm ngàn hốc tối, chảy chậm chạp lừ đừ như một giải lụa trắng và mềm quấn vào chân các mô đá! Bên kia bờ suối là một đám cây cỏ rậm rạp, xanh như màu mạ non. Những giọt nước đọng trên lá lóng lánh làm Quang liên tưởng đến những cây giáng sinh có giăng đèn và giải những giây kim tuyến ở hiên nhà thờ mỗi cuối năm. Cái cảm giác đầm ấm của những ngày xưa vui vẻ sống lại trong người làm Quang ngây ngất. Bao giờ mới được sống lại những ngày vui vẻ ấy? Bao giờ mới được yên ổn quỳ dưới chân Chúa nghe tiếng cầu kinh trầm trầm vang lên trong giáo đường? Quang vô ý vấp phải một cái rễ cây bò trên mặt đất ngã chúi xuống. Một người cảnh vệ xăm xăm bước tới:
– Đi đứng có mắt mà quá người đui.
Quang hấp tấp đứng dậy. Một bên ống quần tụt ra lùng bùng. Quang để nguyên vậy tiếp tục đi, hơi ân hận về sự vô ý của mình.
(còn tiếp)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Bùi Đăng – Cúi mặt (kỳ 3)”)