talawas blog

Chuyên mục:

Trịnh Khả Nguyên – Keep smilling

13/06/2010 | 12:00 chiều | Chức năng bình luận bị tắt ở Trịnh Khả Nguyên – Keep smilling

Tác giả: Trịnh Khả Nguyên

Category: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975, Tạp văn
Thẻ: >

Sáng hôm sau gia đình anh Phúc sẽ ra phi trường đi Mỹ. Anh là đại úy chế độ cũ, sau 1975 cải tạo hơn bốn năm nên được đi theo “diện” H.O. Chiều hôm trước, tôi và Hòa rủ nhau đến thăm chia tay. Hai đứa tôi là bạn của em trai anh Phúc. Lúc đi học, chúng tôi hay tụ tập tại nhà anh để học chung, đôi khi ăn ngủ tại đó luôn, nên khá thân với  gia đình anh. Vừa gặp anh, tôi nói ngay:

“Mai anh chị đi sớm, bọn em lại đi công tác, không đưa được, chiều nay tranh thủ đến thăm, chúc anh chị, hai cháu đi bình an.”

“Cám ơn hai chú. Nhưng đi thăm sao phải tranh thủ ghê vậy?” Anh cười khà khà rồi tiếp, “Chú nầy nói như cán bộ.”

“Hai chú ấy bây giờ là cán bộ chứ như gì nữa, nên cái gì cũng phải ‘tranh thủ’ hết à”. Chị Hoài, vợ anh, nói vậy.

Hòa cãi lại:

“Bọn em mà cán kiết gì. Còn “tranh thủ, khẩn trương” là phương châm chung cho mọi người: ăn, tranh  thủ/ ngủ, khẩn trương/ làm việc, thường thường/ vui chơi, chủ yếu, cứ thế đến khi nào mệt thì nghỉ”.

Tôi  hỏi, chuyến nầy có ai quen cùng đi với anh không. Anh nói, chắc không, mấy người quen đi trước rồi. Có một số tấm hình cũ chụp ở quân trường anh định mang theo, nhưng không biết có được không. Hình đen trắng, nhưng nước thuốc khá tốt. Trong ảnh, ông nào ông nấy tóc cắt ngắn ba phân, rất ngố. Anh Phúc chỉ một số người và nói. Ông đứng ngoài cùng “ra” Thủy quân lục chiến. Tiểu đoàn của ổng đánh nhau với bộ đội chính qui miền Bắc tại cổ thành Quảng Trị từ đầu tới cuối, giành từng mảng tường, chiếm rồi mất, rồi tái chiếm rồi mất, rồi lại tái chiếm. Đánh xa: có; giáp lá cà: có; thế mà ổng không chết, nhưng đi cải tạo được hơn năm thì chết vì kiết lỵ. Ông lùn lùn có cao học luật, là giảng viên đâu ngoài Huế, hết lý do hoãn dịch nên nhập ngũ. Nhưng sau lại xin xuất ngũ, ứng cử vào quốc hội. Ông ta xưng thuộc lực lượng thứ ba, thứ bảy gì đó. Sau 4/75, ổng đặt bàn làm việc trong chùa của thành phố, cấp giấy chứng nhận cho binh lính chế độ cũ đi trình diện và thu nhận vũ khí giao nộp. Có người cho rằng sau đó ổng làm trong ban tuyên giáo, chức vụ cũng lớn, có lẽ đúng, vì ổng học luật. Ông ta là “cơ sở”, chẳng sợ ai, ăn nói  thoải mái, mạnh dạn. Ông ta góp ý thế nầy, thế kia. Theo ổng, đúng sách vở là XYZ chứ không phải là ABC. Không biết cái luật học của ông ta thế nào, hay ông ta đọc lầm sách, mà chẳng ai chịu nghe. Người đứng cạnh ông luật sư là anh chàng thi trượt năm thứ hai đại học, không được hưởng qui chế hoãn dịch vì học vấn. Người hút thuốc thì dạy trung học; cha nầy hát hay, nhưng lè phè số dách. Một số vị đứng phía sau chuyên trốn ra khu dân sinh tán mấy con nhỏ bán hàng. Mấy chục vị trong tấm hình, trước đây ở chung trong một phòng, khi ra trường thì có người đã “lên bàn thờ”, có người còn cải tạo mút mùa trên núi, có người là thương binh, rất đông không có tin tức gì. Nhiều tay cũng lắm tài. Ngay khi cải tạo trên núi, nhiều người bỗng thành thợ mộc, thợ xây, thợ cơ khí giỏi. Ban ngày đi lao động mệt thấy mồ, thế mà có cha tìm nhặt những chiếc radio hư của lính hay của bộ đội vất trước đây, đem về sửa lại, có thể bắt được sóng ngắn, tối tối áp sát vào tai, mở nghe “lén” tin tức. Có những tay như quyển tự điển sống, chuyện gì cũng biết, giải Nobel ngành nào, trao cho ai, năm nào. Những trại cải tạo, trước đây là rừng núi, bây giờ thì nhà ngang, nhà dọc khang trang, cảnh đẹp như một khu nghỉ mát. Anh nói: “Giỏi cỡ gì đi nữa cũng không bằng được phân công đi chăn bò, chăn lợn.”

Chuyện trò  thân mật, Hòa cầm những tấm hình màu mới vừa chụp hôm liên hoan chia tay, chỉ người đưa hai ngón tay thành chữ V (vê), nói đùa:

“Vê gì mà vê, T (tê: thua) hay C (xê: chạy) thì có, phải không anh Phúc?”

“Vê, tê, xê gì nữa chú. Bây giờ mình đi là vì tương lai con cái, cho bọn chúng có cơ hội học hành”, anh trả lời.

Tôi nghe nhiều người đi định cư ngoại quốc cũng cho rằng vì tương lai con cái mà đi. Thậm chí có người gởi con cho những người khác vượt biên mang theo ra ngoại quốc. Có ông trong xóm tôi, mấy lần đem con vượt biên không thành, mà cũng không từ, nghiện như nghiện xì ke. Có lần bị gạt mất vàng, nhưng không dám mở miệng đòi. Có lần vừa len lén tập họp trên bãi, chưa nhúng được bàn chân xuống nước biển xem mát lạnh thế nào, thì nghe: “Tất cả đứng yên!”, sau đó theo công an về khám.

Hôm trước, lại gặp một người biết anh Phúc sắp đi H.O. Người nầy khá rành tình hình “đi đứng”. Ông ta nói, qua bên đó cũng chán lắm, không biết tiếng, biết tăm thì như điếc, như câm, lạc đường không biết hỏi ai. Luật Mỹ cho ly dị khỏe như đi chợ mua hàng, cựa là đưa đơn xin ly dị. Ông ta kể lại trường hợp của người bà con mình để làm bằng. Hai vợ chồng ấy, ở đây thương nhau như Kim Trọng- Thúy Kiều (trời đất, chưa nghe ai so sánh ấn tượng như vậy). Thế mà vượt biên sang bên đó, một thời gian, mụ vợ đưa đơn xin ly dị với lý do lãng xẹt, “Hết yêu nữa rồi”. Còn làm việc à? Phải “cày”. Tướng, tá chạy bàn; bác sĩ, kỹ sư cũng bồi bàn luôn. Đàn bà thì “neo”, suốt ngày cúi mặt ngang gối của mấy con Mỹ đen, ngửi mùi hum hủm, phát buồn mửa, vừa làm vừa chửi thề “chết tiệt”. Hòa cãi lại, háng của nữ hoàng cũng hum hủm chứ cứ gì của Mỹ đen. Ở đó mà hum hủm. Hum hủm sao nhiều người chạy chọt như điên, tìm phương nầy kế nọ để đi. Ngay xếp của hắn cũng đang lo cho cậu con trai đi du học, mặc dù ở đây cậu ấy học vẫn chưa hết chữ. Một người nữa, trong xóm hắn, giàu có, lanh lẹ, bỏ công, bỏ của lên tận A Sao, A Lưới, nơi trước kia là căn cứ của một sư đoàn lính Mỹ, lùng tìm con lai. Bê được một cô lọ lem, đem về quí như vàng, dạy đủ điều, nhất là những câu trả lời để đi phỏng vấn cho chắc ăn. Đến ngày, cả nhà theo con nhỏ vào phỏng vấn. Mẹ kiếp, cái thằng Mỹ hỏi một câu trời ơi, con nhỏ chịu chết, cả nhà cũng thả tay theo.

Khi ba đứa chúng tôi đang học lớp 10, anh Phúc đã thi vào trường Phú Thọ, đậu phát một ngon lành. Tốt nghiệp kĩ sư công chánh, anh cũng đứng hạng cao, được ưu tiên chọn nhiệm sở tốt. Những năm đó chiến tranh bắt đầu ác liệt, lính tráng chết vì bom đạn đã đành, mà dân thường cũng có thể là nạn nhân của những viên đạn, những trái mìn, trái pháo của bất kỳ phía nào, cho nên ai cũng muốn làm việc gần thành phố để được an toàn. Nhưng năm anh Phúc ra trường thì chỉ còn nhiệm sở xa. Anh nói thanh niên, chưa vợ, chưa con, làm ở đâu cũng được. Làm được hai năm, anh nhận giấy gọi vào quân đội, học trường sĩ quan trừ bị. Chỉ người nào có bằng cấp chuyên môn mới sang lính ngành: quân y, quân cụ, quân nhu, hành chánh, tài chánh… chữ “thọ” hơi to. Còn không thì ra chuẩn úy Bộ binh, Biệt động, Thiết giáp, Dù, Thủy quân lục chiến, làm trung đội trưởng, chỉ huy độ vài ba chục người, hành quân thì đi đầu, đóng đồn thì ở lẻ, chưa kinh nghiệm đánh đấm, dễ thành “cố thiếu úy” như chơi. Anh Phúc là kĩ sư công chánh nên được về ngành công binh kiến tạo. Anh lại được biệt phái sang dạy ở trường Võ bị Đà Lạt cho đến khi lên trung úy mới ra đơn vị. Anh nhận chức Đại đội trưởng một đại đội công binh mới vừa thành lập. Dù không trực tiếp đánh trận, nhưng anh hay đi theo các cuộc hành quân lớn. Đôi khi anh  kể lại cho nghe nhiều trận mà những phim chiến tranh chúng tôi đã xem chẳng nhằm nhò gì. Anh nói, khi chưa đụng thì đứa nào cũng sợ thót dái lên cổ; nhưng đã đụng rồi, bắn nhau một lúc, đạn như mưa, tiếng nổ, mùi thuốc súng làm cho con người hết biết sợ. Ai trúng thì “lãnh”, ai còn thì bắn. Đạn tránh người, chứ người không tránh đạn được. Ngồi núp trong hầm cũng chưa chắc, một quả đạn cối, một trái pháo 122 ly, một trái 105 ly lọt “lô” thì hồn phách, thịt xương tan nát chẳng còn một tí gì. Nhưng cũng có những trường hợp chết lãng nhách. Chẳng hạn, mới sáng ra, thấy một đám tang khiêng ngang qua đồn, người đi theo kêu khóc hu hu, kể lể thống thiết. Lính tráng đứng nhìn chưa kịp hỏi xem kẻ chết là ai, ông, bà, già, trẻ thế nào, thình lình từ trong đám ma nghe hô “xung phong”, nghe tiếng súng nổ chĩa về phía đồn. Thế là có mấy “con” bị ngã. Đám ma tháo chạy, bỏ lại chiếc quan tài trống. Binh sĩ lo tải thương mà tức anh ách, như đánh cờ tướng, trúng thế cờ “rình” bị mất xe.

Tin chiến sự càng nhiều, cha, mẹ, vợ, con càng lo cho người thân của mình. Họ ở nhà chỉ biết cầu ơn trên phù hộ. Hai bác muốn anh Phúc có vợ, cưới chị Hoài cho xong. Anh chị quen nhau thời còn đi học. Khi đó chị dạy tại trường nữ trung học của thành phố. Các cô trong trường phần nhiều cũng có chồng là sĩ quan. Chuyện hành quân, chiến sự là đề tài trò chuyện các bà, các cô ngoài những chuyện về thời trang, giá cả hàng hóa. Thỉnh thoảng chị Hoài cũng vào quân y viện thăm các ông chồng của các chị bạn cùng trường, được tải về từ các trận đánh ở đâu đâu. Nhiều lần, chính chị nhận đơn xin phép nghỉ học của học sinh với lý do, cha hay anh của các em vừa bị thương hoặc bị tử trận tại Đồi 607, Căn cứ Tử thần,… những cái tên trước đây chị chưa hề nghe.

Rồi chị Hoài cũng gia nhập “câu lạc bộ” những người có chồng  lính.

Sau 1975, anh Phúc bị đi cải tạo. Chị Hoài cũng không được “đứng lớp” nữa vì chồng là sĩ quan đang học tập. Nhà trường chuyển chị sang làm công tác thư viện. Tiếng là thư viện, nhưng thật ra là kho sách giáo khoa của trường thì đúng hơn. Việc chính của nhân viên thư viện là phát sách cho học sinh mượn, thu sách học sinh trả. Những quyển sách đã qua nhiều tay dùng nên tả tơi hoa lá, chữ viết xen với chữ in trông gớm. Nhưng kệ nó. Làm thư viện nhẹ hơn đứng lớp, tối về không soạn bài, rảnh rỗi, chị nhận đan len kiếm tiền, phụ thêm để lo thăm nuôi anh trên trại. Nghe mấy người được về trước nói rằng trên đó ăn uống thiếu thốn, làm việc nặng nên rất dễ mắc bệnh, dễ chết. Khẩu phần ít, thiếu chất, nên ra đồng họ bắt  ếch, nhái, thằn lằn, chuột, rắn các loại, nướng ăn hay giấu để đem về trại, tối nấu với một nắm đọt lá làm canh ăn cho có chất tươi. Các ngọn đồi quanh trại tìm một con rắn, một con cóc làm thuốc cũng không ra.

Có lần tình cờ chị nghe một đoạn của bản “Cầu sông Kwai”, nhớ lại hình ảnh những người lính Anh cao, to, khỏe, mạnh, nhưng khi bị làm tù binh ở sông Kwai, chỉ còn là những bộ xương, có người bước đi không nổi, ngã gục, chết tại chỗ, chị liên tưởng tới anh Phúc. Phải cố thăm nuôi anh cho được nhiều lần để anh còn sống mà về. Đường lên trại xấu vô cùng, hầu hết đi bằng xe thồ, nhưng chị Hoài không lo. Kẹt lắm nhờ mấy đứa em đi thay một chuyến cũng được. Nhưng chị ngại nhất là đi ký đơn xác nhận. Việc nầy không vất vả, nhưng rắc rối, bị vặn vẹo đủ điều:

“Trình độ văn hóa phải ghi lớp 12/12, ghi kĩ sư là sai.”

“Dạ, kĩ sư là qua lớp 12 rồi.”

“Kĩ sư, lính công binh là làm đồn, làm cầu, làm đường phục vụ cho chiến tranh chứ gì? Cũng có tội. Cần khai cụ thể hơn, như đi hành quân mấy lần, có nợ máu không…”

Nhiều người đi xin xác nhận lý lịch cũng thấy nặng nề như chị. Ngồi theo dõi cán bộ đọc đơn, “vái trời” cho ổng phê cho mấy chữ. Còn “nợ máu”, kinh quá. Như một điệp khúc sau 75, họp tổ dân phố nghe, “Tên nầy có nợ máu với nhân dân”; học chính trị trong ngành nghe, “Tên kia có nợ máu với nhân dân”. Ai lâm vào chiến tranh mà không bắn, không gây nợ máu. Đã hết chiến tranh rồi, không lẽ ngồi tính sổ món nợ nầy nữa sao, phải đòi cho được hay sao? Chị biết chắc chắn rằng anh Phúc vào cuộc không có chút thù hận nào, anh bình thản chấp nhận. Còn phước nên anh sống đến hôm nay, nhưng nếu bạc mệnh thì anh đã chết như biết bao người. Làm sao biết ai đã bắn anh, ai gây nợ máu với anh. Chị không muốn nghĩ thêm nữa, ghê quá.

Trên đường từ nhà anh Phúc về, Hòa nói: “Khi nãy xem hình của anh Phúc cậu nhận thấy thế nào?”

“Thế nào là thế nào?” Tôi hỏi lại.

Hòa giải thích. Cái hình anh Phúc chụp một mình, đứng bên khung cửa song sắt, giống cảnh anh Mo-rít trong phim Giờ thứ hai lăm, khi đứng sau hàng rào kẽm gai. Bộ mặt anh chàng đang thộn ra, thiểu não, nhưng cố gắng nhếch môi cười khi nghe người thợ ảnh hô “Keep smiling!”

Hòa hỏi thêm: “Chữ Mo-rit viết thế nào nhỉ?”

“Viết thế nào thì quan trọng gì. Có điều, anh Phúc được đi thì keep smiling, còn mầy ở lại thì “keep” gì, keep crying nhé.”[1] Tôi trả lời.

© 2010 Trịnh Khả Nguyên

© 2010 talawas


[1]Keep smiling: cười tiếp/tiếp tục cười; Keep crying: khóc tiếp/tiếp tục khóc.

Bình luận

Không có bình luận (bài “Trịnh Khả Nguyên – Keep smilling”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>