Trương Nhân Tuấn – Thử bàn về trí thức và trí thức Việt Nam (2)
11/06/2010 | 12:00 chiều | 19 Comments
Category: Tư tưởng
Thẻ: Vai trò của trí thức
(Xem kì 1)
Trí thức Việt Nam
Nhiều người định nghĩa trí thức Việt Nam bằng cách tìm hiểu ý nghĩa của hai chữ “trí” và “thức”. Nhưng từ “trí thức”, nguyên thủy là từ Hán, cũng dịch ra từ chữ “intellectuel” của phương Tây. Tìm hiểu nghĩa nguyên của từ “trí thức” là hiểu “trí thức” qua lăng kính của người Trung Hoa. Tức là hiểu ý nghĩa “trí thức” qua nhân sinh quan Trung Hoa. Như vậy chưa chắc là đúng. Do đó cách ngắn nhất để nhận diện trí thức Việt Nam vẫn là lấy tiêu chuẩn trí thức của phương Tây để làm mẫu và so sánh. Các tiêu chuẩn có thể là: nơi chốn xuất thân, nghề nghiệp, thái độ nhập thế và yếu tố đạo đức.
Về nghề nghiệp và xuất thân xã hội, tầng lớp trí thức phương Tây lúc mới xuất hiện hầu hết đều xuất thân từ chốn trưởng giả, trung lưu như nhà văn, nhà báo, triết gia, giáo sư, nhà khoa học, chính trị gia… Ngày hôm nay vẫn không thay đổi, tầng lớp người này, với những ngành nghề tự thân không biến chuyển theo thời gian, vẫn luôn là thành phần “trung lưu” trong xã hội. Ngoại trừ một thiểu số nhỏ, tất cả đều sống thoải mái, dư dật.
Nếu xem yếu tố “xuất thân xã hội” và “nghề nghiệp” như là tiêu chuẩn quyết định bản chất trí thức, có lẽ sẽ khó nhận diện được tầng lớp trí thức Việt Nam hiện nay.
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong một bài viết mang tên “Giới thông thái chân đất” đã dẫn nhận xét về trí thức của nhà xã hội học lão thành Đỗ Thái Đồng, trong bài “Tâm lý dân tộc với cuộc cải cách hành chính hiện nay”, theo đó xã hội Việt Nam: “Không có giai cấp quý tộc trong khi có đông đảo đám quan lại nhất thời. Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng. Không có lớp doanh nhân tung hoành về thương mại hay công nghệ trong nước cũng như ngoài nước.” [i]
Theo tôi, trong 3 ý kiến của cụ Đỗ Thái Đồng, nếu cho phép thì tôi sẽ sửa lại ý kiến thứ 2. Thay vì “Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng” thì tôi sẽ đổi lại là “không có những triết gia (hay nhà tư tưởng) lớn để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng”. Như vậy cái nôi của trí thức Việt Nam sẽ được minh họa rõ rệt hơn.
Tầng lớp trí thức được phát xuất từ hai nhóm người trong xã hội: “giai cấp quí tộc” và “tầng lớp doanh nhân” thành công. Hai lớp người này tạo thành lớp người “bourgeoisie – trưởng giả”. Những “trào lưu học thuật” và “tư tưởng” của các “triết gia” là bình sữa cho lớp người “trưởng giả” này bú mớm để họ có một tư duy, một nhân sinh quan về xã hội mà họ đang sống. Từ đó họ có thể trở thành “trí thức” hay không.
Để mở rộng vấn đề, thử tìm hiểu thế nào là thành phần trung lưu, tiểu tư sản tại Việt Nam? Cách đây không lâu thành phần “tạch tạch sè”, tức thành phần “tiểu tư sản”, vẫn còn là kẻ thù giai cấp của chế độ. Ngày nay, trong buổi chiều “xã hội chủ nghĩa” đang mùa thu tàn tạ, Đảng CSVN đang cố gắng thay đổi để hiện hữu, tầng lớp “tiểu tư sản” của Việt Nam đang được thành hình lại. Nhưng hiện tượng này chưa phải là điều mừng, vì hầu hết thành phần này chỉ là kết quả của sự giao hợp bất chính giữa phe đảng quyền lợi-quyền lực. Người làm giàu bằng khả năng, bằng mồ hôi nước mắt của mình vẫn còn rất hiếm. Tập hợp người trong liên minh quyền lực-quyền lợi đều làm giàu một cách bất chính như sang đoạt của cải quốc gia, tham ô, nhũng lạm, hối mại quyền thế, ăn cướp mồ hôi nước mắt của người dân. Một số người có thể có bằng cấp rất cao (nhưng chưa chắc có thực học), có nhà lầu xe hơi đắt tiền, nhưng vô lương tâm, vô đạo đức, họ lãnh cảm trước mọi vấn đề bức bách của xã hội. Họ có thể là đảng viên cao cấp, hay có người trong họ “làm quan lớn”, theo truyền thống một người làm quan cả họ được nhờ. Tập hợp người này không thể là nguồn cung cấp trí thức như trong các xã hội phương Tây. Họ không có đức tính mà người trí thức không thể thiếu: lương tâm và đạo đức. Trong khi hầu hết những người sống bằng nghề “cầm viết”, lao động bằng trí óc, giáo sư, hay giới văn nghệ sĩ Việt Nam… đều nghèo. Nhưng điều chắc chắn là cái nghèo không ảnh hưởng đến việc người cầm viết hay người làm văn nghệ Việt Nam có trí tuệ, có tấm lòng như trí thức phương Tây.
Như thế tầng lớp trí thức Việt Nam, nói như cụ Đỗ Thái Đồng, là không hiện hữu.
GS Hoàng Tụy cho rằng: “Thời thế tạo anh hùng thì cũng thời thế, cơ chế tạo ra phẩm chất người trí thức[ii]”. Tôi tán thành ý kiến của cụ Hoàng Tụy. Mà “phẩm chất” có thể hay hay dở[iii]. Thử nói về cái hay trước.
Cái “thời thế” của Việt Nam đã tạo ra một lớp trí thức đặc sắc, vì không bắt nguồn như trí thức phương Tây, tưởng không mà có, vì hiện hữu phần lớn trên không gian ảo. Thử làm một cuộc nghiên cứu trên thực tế. Tôi đã có một thời gian dài “hội nhập” để có thể liên tục quan sát lề lối sinh hoạt trên “không gian ảo”, thế giới của “blogger Việt Nam”, thể hiện qua những “trang nhà” của những người cầm viết như nhà văn, nhà báo, nhà giáo, văn nghệ sĩ… hoặc thể hiện qua các diễn đàn đối thoại… Tôi vẫn còn đang “hội nhập” như thế và lạc quan nhận xét rằng: có một tầng lớp trí thức Việt Nam đang thành hình một cách rất nhanh chóng, nhất là trong giới trẻ. Có thể nó họ còn khiếm khuyết ở một vài phương diện, như chưa dứt khoát về một hành động “dấn thân”, hay vẫn còn e dè chưa dám có thái độ trước những cảnh bất công, oai trái của xã hội, nhưng sự tiếp cận – cho dầu chỉ là ảo – với văn hóa và lề lối sinh hoạt dân sự trong xã hội các nước dân chủ tự do, tôi nghĩ sẽ không bao lâu tầng lớp trí thức Việt Nam sẽ trưởng thành. Chắc chắn tầng lớp năng động này sẽ dấn thân hướng dẫn dư luận, chủ động làm thay đổi xã hội.
Nói như Vương Trí Nhàn: «Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó[iv]». Thì «những thể nghiệm làm người» của lớp trí thức trẻ đó sẽ là những thể nghiệm làm thay đổi cách thức tổ chức xã hội Việt Nam. Vì đây là đầu mối, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, những tệ nạn, những trì trệ của Việt Nam. Lúc đó sẽ không còn phân biệt lề trái lề phải mà sẽ là những đại lộ thênh thang.
Điều đáng mừng hơn nữa là trong tầng lớp đó tỉ lệ phái nữ đã chiếm một con số đáng nể, thành quả của họ đáng để các đấng mày râu ngả nón khâm phục.
Trong bài đã dẫn GS Hoàng Tụy than thở: “Nhìn lại lịch sử hình thành lớp trí thức Việt Nam qua các thế hệ, tôi vẫn băn khoăn một câu hỏi lớn: tại sao trong hơn 80 năm qua, hình như chưa có thế hệ trí thức nào vượt qua được về tài năng, trí tuệ và cả phẩm chất nhân cách, thế hệ trí thức những năm 30-45 thế kỷ trước[v]”.
Nhận xét này không hề sai. Nhưng tôi lạc quan cho rằng chỉ trong vài năm nữa chúng ta sẽ thấy một tầng lớp trí thức Việt Nam với đầy đủ tài năng, trí tuệ và phẩm chất nhân cách như thế hệ tiền bối của những thập niên 30-40 của thế kỷ trước.
Và tôi nghĩa đây là cái cái phúc trong cái họa của dân tộc Việt.
Về cái dở thì có rất nhiều. Đã nhiều người nói những vẫn không thể nói hết.
Xã hội Việt Nam là một xã hội ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Khổng giáo hơn ngàn năm. Vào khoảng hơn một trăm năm sau này, xã hội Việt Nam được (hay bị) du nhập nhiều luồng tư tưởng từ các nước phương Tây. Điểm chung, dầu là văn hóa Nho giáo của Trung Hoa hay các tư tưởng tư bản, cộng sản… của phương Tây, người Việt Nam chỉ hấp thụ chúng một cách thụ động, không qua quá trình lựa chọn-sa thải, tức hấp thụ theo tính cách bị bó buộc, hay dở gì cũng phải hấp thụ.
Ngày xưa, xã hội Việt Nam có tầng lớp «kẻ sĩ»: Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt, dân hữu tứ sĩ vi chi tiên. (Xã hội có năm chức tước thì kẻ sĩ được xếp vào. Trong dân có bốn giai cấp thì kẻ sĩ được đặt hàng đầu). Trong mô hình văn hóa Nho giáo, kẻ sĩ là một mẫu người vẹn toàn các đức tính: nhân, trí, dũng. Sơ lược mà xét thì «nhân» là những gì thuộc về lương tâm, đạo đức; «dũng» là tính can đảm và «trí» là trí tuệ, tức sự hiểu biết. Xem ra bản chất kẻ sĩ của Nho giáo không khác gì bản chất trí thức (phương Tây). Nhưng nếu xét kỹ trên từng giá trị cơ bản xã hội thì có nhiều vấn đề cần phải bàn lại.
Trong lịch sử bốn ngàn năm, tầng lớp kẻ sĩ này đã giúp gì cho văn hóa và văn minh Việt? Đến ngày hôm nay người nông dân Việt Nam vẫn còn lận đận với con trâu và cây cày. Đó cũng là cảnh của ngàn năm trước. Tức là, về phương diện khoa học kỹ thuật, sĩ phu Việt Nam hoàn toàn không có một đóng góp nào để cải thiện việc sản xuất hay làm cho người nông dân bớt cực khổ. Trong cùng thời gian đó, đã có biết bao nhiêu nền văn minh rực rỡ xuất hiện, biết bao nhiêu trí tuệ đóng góp vào phát minh khoa học kỹ thuật nhằm cải thiện đời sống của con người. Vì sao vậy? Người Việt Nam không thông minh hơn các dân tộc khác?
Không phải! Một người học trò gốc Việt Nam, đi học với những đứa trẻ người nước ngoài cùng trang lứa, đứa học trò Việt Nam đôi khi biểu lộ sự xuất chúng hơn hẳn những đứa học trò kia. Vấn đề phải nằm ở chỗ khác.
Theo tôi, nguyên nhân là tinh thần bảo thủ của Nho giáo đã làm hư hỏng trí tuệ của người dân Việt Nam.
Người sĩ phu Việt Nam có thể đi ba bước xuất khẩu thành thơ, hay ra một câu đối mà khó có thể một người Hán nào đối lại được. Nhưng nội dung của các bài thơ, câu đối đó chỉ là sáo rỗng, không hề có điều gì mới. Đây là tinh thần bảo thủ từ chương và chính nó đã giết chết tính sáng tạo của các thế hệ sĩ phu Việt Nam.
Một khi mà những gì «người xưa» nói đều đúng, những gì «Tử viết» đều là lời vàng ngọc, là cái “khung”, sĩ phu phải học theo đó, dựa theo đó mà nói lại, thì mọi óc sáng kiến đều chết. Không ai đặt lại vấn đề, mà cũng không ai dám đặt, dám hoài nghi về những điều «Tử viết». Mặc dầu trí tuệ của ông Khổng có siêu phàm đến đâu thì những gì ông nói cũng chỉ đúng trong phạm vi không gian, thời gian hay trong cái khuôn mẫu xã hội mà ông đang sống mà thôi. Một nguyên nhân khác, tai hại không kém, đã làm cho tinh thần Khổng tử trường tồn. Đó là kiểu mẫu xã hội Nho giáo đã được các triều đại cầm quyền ủng hộ, vì nó đã đem lại một trật tự và sự ổn định tuyệt đối trong xã hội. Cách tổ chức xã hội này đã được giới sĩ phu tích cực đóng góp xây dựng, phụng sự và bảo vệ, vì nó ưu đãi cho tầng lớp người này. Con đường tiến thân của sĩ phu là cái học. Cái học như thế được trở thành một phương tiện để ra làm quan. Mà nói đến «quan» là nói đến «lộc», quan lộc. Một người làm quan cả họ được nhờ. Như thế, liên minh quyền lợi-quyền lực không phải chỉ bắt đầu mới đây trong thời kỳ kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà đã bắt đầu từ thời ông Khổng. Chính liên minh này đã giữ vững chế độ và sự ổn định trong xã hội. Rốt cục cả ngàn năm, có thể xã hội ổn định, nhưng là ổn định của nước trong ao tù. Người sĩ phu Việt Nam càng học càng tối tăm, không còn khả năng tư duy khoa học.
Không có tinh thần hoài nghi khoa học, không có khả năng phân tích sự vật, không dám đặt lại vấn đề thì không bao giờ có sáng tạo ra cái mới. Mọi việc muôn đời vẫn vậy, như con trâu và cái cày từ hơn ngàn năm nay. Đời sống do đó không thể cải thiện được. Sự ổn định xã hội của các triều đại theo kiểu mẫu Nho giáo, (hôm nay là kiểu mẫu Mác-Lê), đã khiến xã hội cô lập trở thành ao tù nước đọng. Quốc gia trên mọi phương diện đều tụt hậu, thua kém các nước khác. Và đó đã (và sẽ) là nguyên nhân đưa đến cảnh nước mất nhà tan.
Theo Từ điển văn học Việt Nam do Lại Nguyên Ân biên soạn với sư cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường, dẫn từ bài “Giới thông thái chân đất” của Vương Trí Nhàn, từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX, sĩ phu Việt Nam chỉ cho ra trung bình 7 tác phẩm cho 1 thế kỷ[vi].
Không biết các tác phẩm Việt Nam có bị mất mát hay tiêu hủy qua các cuộc chinh biến với Trung Hoa hay không, nhưng con số đưa ra cho thấy tình trạng suy nhược tư tưởng của sĩ phu Việt Nam đã trầm trọng quá mọi mức báo động.
Cũng từ nguồn dẫn của Vương Trí Nhàn ghi trên, có nhắc cuốn Kho tàng về các ông trạng Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh. Theo đó: “các triều đại Lý, Trần, Lê có 47 người được phong trạng. Nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở nước ta.[vii]” Tức là các tác phẩm đã được thống kê có tác giả phần lớn không đỗ đạt, không có bằng cấp cao. Điều này cho thấy càng ít học thì khả năng sáng tạo càng lớn.
Rõ ràng cái học và cái kiểu mẫu xã hội của Nho giáo đã khiến con người càng học càng mông muội.
Và nó không phải chỉ đúng cho xã hội Việt Nam thời phong kiến mà nó cũng rất đúng cho thời kỳ xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Nếu làm một so sánh về cách tổ chức chính quyền thì xã hội chủ nghĩa có nhiều điều giống với Nho giáo. Bài nghiên cứu “Trí thức và Nhà nước ở Trung Quốc và Việt Nam thời cải cách” của Alexander Woodsidedo Lê Quỳnh dịch có đoạn: “tư tưởng cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam trong thập niên 1990 đã có sự đi kèm, ở cả hai nước, của trào lưu phục cổ, quan tâm trở lại với các nhà tư tưởng “trị quốc” của thời quân chủ… Người ta bảo những lý thuyết như của Phan Huy Chú có thể dùng để giúp sửa những nhược điểm của quan niệm Marx-Lenin về chính quyền, và như thế cho phép Việt Nam tránh khỏi số phận của các nhà nước Leninist Đông Âu nay đã biến mất.[viii]”
Nhiều dấu hiệu cho thấy chế độ độc tài đảng trị tại Việt Nam có khuynh hướng chuyển hóa sang một chế độ phong kiến đế quyền, trong đó Đảng CSVN dùng điều 4 hiến pháp để khẳng định chân mệnh thiên tử.
Ngày xưa kẻ sĩ bảo thủ gọi là “hủ nho” thì hôm nay gọi là “hủ mác”. Ngày xưa cái gì cũng “Tử viết”, ngày hôm nay thì nếu không “trên nói” cũng “Bác Hồ dạy”. Như ông Khổng tử, “trên” không bao giờ nói “sai” mà chỉ ở dưới “làm sai” mà thôi! Hai mô hình xã hội này chỉ đào tạo một tầng lớp sĩ phu Việt Nam đầy khuyết tật.
Hãy đọc cụ Hoàng Tụy để thấy phẩm chất của trí thức XHCN: “các thế hệ trí thức được đào tạo sau này ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ một cách bài bản, lớn lên trong nền giáo dục thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp, hằng ngày được gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, ghét bóc lột, xả thân vì dân vì nước… mà sao có vẻ như phẩm chất không được như ta kỳ vọng. Dường như có cái gì không thật, có cái gì chưa ổn lắm, cho nên gặp hoàn cảnh không thuận lợi thì bộc lộ nhiều nhược điểm.[ix]”
Trong khi đó, tin tức trong nước cho biết, hầu như tất cả những công cụ kỹ thuật phục vụ cho nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay đều do giới nông dân tự sáng chế ra.
Nếu đúng vậy thì trí thức XHCN không khác sĩ phu thời phong kiến.
Ông Hồ Chí Minh, nhân một câu hỏi liên quan đến “tư tưởng” của mình, đã trả lời như sau: “Các bác Các Mác, bác Lê Nin, bác Mao đã viết hết rồi nên tôi không còn gì để viết nữa![x]”.
Nhiều người cho rằng đây là một câu nói nửa đùa nửa thật. Nhưng sự thật cuộc đời người này đã phản ảnh đúng như vậy. Ông Hồ là một nhà chính trị lớn và ông không phải là một triết gia. Nói như F. A. Hayek khi định nghĩa trí thức: «Trí thức là những người buôn bán đồ cũ chuyên nghiệp về tư tưởng, tức là những kẻ truyền đạt tư tưởng của những người khác (như tư tưởng của Plato, Khổng tử, Đức Phật, Chúa Jesus, Adam Smith, Karl Marx, Einstein, v.v.)[xi]»
Người trí thức chỉ truyền đạt tư tưởng của người khác nhưng người làm chính trị thì áp dụng những tư tưởng của người khác (hay của mình) vào xã hội. Hiếm có người làm chính trị đồng thời là một nhà tư tưởng. Cái sai của người trí thức có thể sửa chữa, vì sự phản biện hay sự xét lại thường trực của trí thức, nhưng cái sai của người làm chính trị thì rất khó sửa. Cái sai của người trí thức có thể nhận diện qua các phản biện. Cái sai của người làm chính trị chỉ thấy được sau một thời gian dài, sau khi kiểm chứng được thành quả trên xã hội. Có câu ngạn ngữ: làm chính trị sai thì làm hư một chế độ nhưng làm giáo dục sai thì làm hư hỏng cả một thế hệ. Cái tệ hại sẽ lớn khủng khiếp nếu chế độ chính trị đó, mặc dầu hư hỏng và đầy khuyết điểm nhưng lại không sớm sụp đổ, mà nó nắm luôn thẩm quyền ở các vấn đề giáo dục. Điều trớ trêu khác là giả sử một chế độ sụp đổ, chế độ mới lên thay, cái gì thay đổi chứ nội dung của chương trình giáo dục vẫn không thay đổi. Ở Việt Nam đã là như vậy từ hơn ngàn năm nay. Xưa đã vậy mà nay cũng vậy. Xưa học ông Khổng thì nay học ông Mác, ông Lê! Thử tính có bao nhiêu thế hệ Việt Nam đã bị hư hỏng?
Không ai khác, chính tầng lớp lãnh đạo Việt Nam đã giết chết mọi sức sống của dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc vào vòng nô lệ mới. Không phải lối nô lệ của thời thực dân mà nô lệ như một con người máy, thực hiện mù quáng những thảo chương đã được người ta soạn sẵn đặt vào đầu. Thảo chương đó chính là chủ nghĩa cộng sản Mác-Lênin.
Đó là biểu hiện cụ thể nhất, trầm trọng nhất về việc bội thực văn hóa, tư tưởng.
Thử nhìn sang thế giới khác. Trong lúc sĩ phu Việt Nam thờ ông Khổng thành kính, ngoan ngoãn hơn bất kỳ một người Hán nào, thì người Nhật, cũng đồng thời hấp thụ văn hóa Hán, nhưng tầng lớp sĩ phu Nhật đã biết lựa chọn cái hay và loại bỏ cái dở. Vì thế người Nhật dầu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nhưng họ không hề thần phục Trung Hoa như Việt Nam. Sau này Nhật cũng học hỏi văn hóa phương Tây, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào xã hội Nhật, nước này trở thành cường quốc, không kém những nước mà họ đã học hỏi trước đó.
Đó là cái hay của việc học. Học để hơn người chứ không phải học để nô lệ cho người.
Cách học của Việt Nam là «bị học», cái thứ gì cũng nhồi nhét vào đầu. Thử hình dung một người ăn thịt gà mà ăn luôn cả lông lá, những thứ không thể nhai nuốt. Bị nhồi nhét tư tưởng Nho giáo, Việt Nam trở thành lệ thuộc, gắn bó vào nước Trung Hoa, mất hẳn tinh thần tự chủ, độc lập.
Sau này bị nhồi nhét tư tưởng phương Tây, người Pháp, cũng như người Hán trước kia, chỉ đào tạo cho sĩ phu Việt Nam trở thành những người phục vụ đắc lực. Họ không dạy cho dân tộc Việt Nam trở thành những người có trình độ hiểu biết (như dân Pháp ở mẫu quốc) mà chỉ hướng cho lớp dân này thành những cu li lao động hay những nông dân dốt nát. Họ cũng đào tạo một tầng lớp trí thức nội địa, nhưng cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích của mẫu quốc. Miền Nam được thành lập với di sản tinh thần của thực dân để lại, với những người lãnh đạo hầu hết là những người trí thức đã được đào tạo như thế. Điểm chung của lớp người này là thiếu lòng ái quốc thực sự.
Nguyễn Văn Lục trong «Trí thức miền Nam 20 năm nhập cuộc», nhận định: “Một trong những lý do gây ra sự khủng hoảng chính trị sau này của miền Nam là sự thiếu vắng một nhà lãnh đạo, thiếu vắng một lớp người trí thức có vốn liếng cách mạng và có lòng với đất nước”[xii].
Vì thế mới có câu bất hủ của một vị lãnh đạo miền Nam, đại khái ghi lại như sau: «Mỹ viện trợ tới đâu thì giữ tới đó». Câu nói này biểu lộ được hết bản chất đánh thuê của người lãnh đạo. Trong khi một số sĩ phu khác học tư tưởng Mác. Nhưng người Nga, người Tàu dạy tư tưởng này cho sĩ phu Việt Nam cũng để nhằm sử dụng người Việt Nam phục vụ cho đất nước của họ. Rốt cục cũng là cái học để làm nô lệ. Dĩ nhiên ngoại trừ một số thực sự vì dân vì nước. Nhưng số nhỏ này cũng trở thành nạn nhân của chính những người Việt khác.
Điều đặc biệt, những luồng văn hóa phương Tây, như tư bản với cộng sản, rõ ràng phủ nhận lẫn nhau, đồng lúc được hai phe Việt Nam hấp thụ. Dĩ nhiên sẽ có việc gà nhà bôi mặt, anh em nhìn nhau như kẻ thù, đứa thì huyênh hoang là «tiền đồn chống cộng», đứa thì đắc chí là «thành trì vô sản». Không đứa nào thật sự vì dân vì nước. Rốt cục hai đứa đều ngu xuẩn đánh nhau chí chết để phục vụ quyền lợi cho các đại cường. Sau chiến tranh, người Việt ở về phía bên thua hay ở về phía bên thắng thì cũng đều thua. Ai đã «được» gì sau chiến tranh, ngoài những cái bánh vẽ to tướng? Đất nước đổ nát, trì trệ, lạc hậu.
Sĩ phu Việt Nam học của người nhưng để làm nô lệ cho người. Người Việt Nam say mê với tư tưởng ngoại lai, bảo hoàng hơn vua. Tư duy thuần Việt không có (tức là tư duy thế nào để hành động có lợi cho cộng đồng, dân tộc). Ngày nay người cộng sản Việt Nam thờ ông Mác, ông Lê (thậm chí cả ông Mao) kính cẩn hơn bất kỳ một người dân Đức hay dân Nga nào, mặc dầu ông Mác sinh ra ở Đức và ông Lê sinh ra ở Nga. Bất kỳ ai lên tiếng phê bình thì sẽ bị trù dập không thuơng tiếc.
Tại sao người Việt Nam có thể say mê các tư tưởng ngoại lai đến mù quáng như vậy? Nó đã đem lại ích lợi gì cho dân tộc ngoài những đổ vỡ tang thương?
Đó cũng là hậu quả của việc bội thực tư tưởng.
Các thế hệ trí thức Việt Nam do đó được nuôi dưỡng bằng chất sữa (béo cũng có mà thiu chua cũng có) của các luồng tư tưởng đó.
Về trí thức cả nước sau 1975, thực trạng xã hội sẽ phản ảnh cụ thể hình ảnh trí thức của xã hội đó.
Nhiều người đổ thừa cho chiến tranh nhưng chiến tranh không là tất cả. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn viết: “Chiến tranh cào bằng tất cả. Chiến tranh tước đi những tự do tối thiểu của mọi công dân vì lúc ấy cần phải vậy. Sự tập trung cho chiến tranh làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam dăm sáu chục năm nay một tâm lý thường trực, là chỉ tính chuyện ăn ngay trước mắt. Ngay trong thời kỳ 1946-54, một nền giáo dục thời chiến đã được tổ chức để đào tạo nhân tài. Nhưng cũng vì cần phục vụ ngay nên đó là một nền giáo dục mang nặng tính thực dụng, không muốn và không thấy cần đạt tới chuẩn mực cần thiết[xiii].”
Theo tôi chiến tranh không «cào bằng tất cả». Chiến tranh có thể tàn phá tất cả những gì thuộc về vật chất nhưng không thể tàn phá hết những gì thuộc về tinh thần. Nhật Bản, Đại Hàn cũng bị chiến tranh tàn phá, tất cả những gì vật chất đều bị tiêu tan. Nhưng tinh thần của họ còn, nhờ vào tinh thần họ đã nhanh chóng thành công xây dựng đất nước tươi đẹp.
Vấn đề là, đọc lại đoạn đã dẫn của Dmitriĭ Likhachëv trong bài «Trí thức: bộ phận độc lập về trí tuệ của xã hội” do Phạm Xuân Nguyên dịch, ta sẽ thấy: “Trí thức luôn là tấm bia công kích của nhà nước, và việc đầu tiên mà bất kỳ nhà nước nào cũng làm để củng cố quyền lực của mình là tìm cách hủy diệt giới trí thức và tất cả những gì thúc đẩy việc hình thành nên trí thức[xiv]”
Việc làm đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau 1954 là phát động chiến dịch cải cách ruộng đất, tiếp theo là vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Việc làm đầu tiên của nhà nước Việt Nam sau 1975 là chính sách cải tạo quân nhân, công chức chế độ cũ, đánh tư sản v.v… Đó là những hành động “hủy diệt trí thức” của một chế độ độc tài. Cái tinh thần của Việt Nam vì vậy cũng tiêu tan.
Tinh thần vì thế là quan trọng hơn hết. Còn tinh thần, như dân Nhật, dân Đại Hàn, thì còn xây dựng được tất cả. Việt Nam đã không những gầy dựng được một lớp trí thức tinh hoa, tức những triết gia hay nhà tư tưởng lớn, để có thể có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng, mà lại còn hủy diệt hết tất cả những gì là “trí, phú, địa, hào” hãy còn non trẻ.
Những năm đổi mới sau này đã đem nguồn hy vọng mới cho nhiều thức giả đang trăn trở với vận mệnh đất nước. Nhưng xem nguy cơ xem ra vẫn còn rất lớn. « Đổi mới » mấy năm nay nhưng chỉ đổi mới về kinh tế, tức về mặt vật chất, cái cốt lõi về tinh thần vẫn không thay đổi.
Ông Hà Sĩ Phu ngậm ngùi: “Ở Việt Nam ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, năm 1930 trí thức từng được xếp số 1 trong chuỗi bốn kẻ thù TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO cần “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Nhưng rồi thế cục xoay vần, năm 2008 này, sau một khoá họp trung ương của Đảng, trí thức chính thức được tái xác nhận rằng đã được kéo lên, xếp hàng cuối trong chuỗi ưu tú CÔNG NÔNG TRÍ. Chừng ấy năm trời lên được một bậc kể cũng khiêm nhường! Nhưng từ “kẻ thù” số 1 chuyển lên “đồng chí” số 3 cũng quý lắm chứ? [xv]“
Nhưng việc mà ông Hà Sĩ Phu gọi là “quý”, từ “kẻ thù số 1 chuyển lên đồng chí số 3”, thì GS Chu Hảo đặt nghi vấn: “Ngày nay trong cụm từ “Liên minh Công – Nông – Trí” tôi ngờ rằng chúng ta đã dùng từ “trí” để chỉ những người lao động trí óc (kỹ sư, bác sĩ, nhà văn, họa sĩ, v.v.) chứ không phải là trí thức theo cách hiểu thông thường của thế giới hiện đại. [xvi]»
Tức là cái mà ông Hà Sĩ Phu cho là quý thì không có gì chắc hết! Cái «trí» ở đây không chắc là «trí thức» mà có thể là giới «lao động trí óc».
GS Chu Hảo chua chát cho rằng: “Ngoài giai đoạn này (tức nửa đầu thế kỷ 20, chú thích của TN Tuấn) chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường của thế giới.” [xvii]
Và Phạm Xuân Nguyên trong “Trí thức là ai?” cũng cho rằng: “hiện nay ở Việt Nam có những trí thức có nhân cách kẻ sĩ, nhưng rất ít người có tư cách trí thức[xviii]”.
Cũng đúng thôi. Vì giới trí thức (nếu có thể gọi như thế) hiện nay ở Việt Nam có hai loại, một loại đi lề phải, một loại đi lề trái. Loại lề trái đã nói ở trên, là những người sinh hoạt phần nhiều trên các trang nhà (blog hay trên các diễn đàn internet. Loại đi lề phải là nhóm trí thức “kỹ trị”, là loại mà Phạm Xuân Nguyên đã nói. Họ là những ông “quan văn” của thời đại.
Kết luận lại, bấy nhiêu ý kiến vẫn chưa chắc nói lên hết tình trạng của trí thức Việt Nam!
© 2010 Trương Nhân Tuấn
© 2010 talawas
Tham khảo
http://fr.wikipedia.org/wiki/Intellectuel
http://fr.wikipedia.org/wiki/Affaire_Dreyfus
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=10608&rb=0102 Dmitriĭ Likhachëv – «Phẩm tính trí thức» do La Thành dịch và chú thích.
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=10714&rb=0102 Nguyễn Hữu Vinh – «Quyền lực và trí thức».
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=13793&rb=0102 Hà Sĩ Phu – «Công Nông Trí và nguyên khí quốc gia»
Về trí thức miền Nam trước 1975, xin tham khảo Nguyễn Văn Lục, «Trí thức miền Nam 20 năm nhập cuộc», http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5101&rb=0102
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5101&rb=0102
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Suy_nghi_ve_khai_niem_tri_thuc/
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Tri_thuc_thoi_hao_danh/
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Tri_thuc_Viet_Nam-Tri_thuc_la_ai/
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luan-Ly/Pham_cach_quan_trong_cua_nguoi_tri_thuc/
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Si_phu_tri_thuc_khong_duoc_hen/
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Sy_phu_tri_thuc_nuoc_nha_xua/
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/De_co_lop_tri_thuc_xung_dang/
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Hanh_xu_cua_tri_thuc_duoi_che_do_cu/
[i] Vương Trí Nhàn, «Giới thông thái chân đất», nguồn Tuần Việt Nam, đăng lại trên: http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Tri_thuc_thoi_hao_danh/
[ii] GS Hoàng Tụy, «Để có lớp trí thức xứng đáng», Nguồn: Tạp chí Tia Sáng
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/De_co_lop_tri_thuc_xung_dang/
[iii] Chỉ xin nói về cái hay và cái dở mà không nói đến cái «nửa hay nửa dở» của những trí thức «lớn», tức những người chủ trương phản biện những công trình lớn của nhà nước, những công trình thuộc về chiến lược phát triển quốc gia. Theo tôi sinh hoạt trí tuệ của những nhà trí thức «lớn» này có khuynh hướng chính trị hơn là văn hóa và xã hội. Sẽ trở lại bàn sau ở phần «trí thức và chính trị».
[iv] Vương Trí Nhàn, “Trí thức và thói háo danh”, Tuần Việt Nam, đăng lại trên http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Tri_thuc_thoi_hao_danh/
[v] Idem ghi chú 11.
[vi] Idem ghi chú 13.
[vii] Idem ghi chú 13.
[viii] “Trí thức và Nhà nước ở Trung Quốc và Việt Nam thời cải cách” của Alexander Woodside do Lê Quỳnh dịch, nguồn talawas, http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=4754&rb=0102
[ix] Idem ghi chú 10.
[x] Ghi lại một cách đại khái theo trí nhớ.
[xi] Nguyễn Quang A, Idem ghi chú 3.
[xii] Nguyễn Văn Lục, «Trí thức miền Nam 20 năm nhập cuộc», http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5101&rb=0102
[xiii] Vương Trí Nhàn, «Truy tìm căn nguyên thói “háo danh” của trí thức”, Nguồn: Tuần Việt Nam, đăng lại trên: http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Tri_thuc_thoi_hao_danh/
[xiv] Idem ghi chú 5.
[xv] Idem ghi chú 8.
[xvi] Idem ghi chú 6.
[xvii] Idem ghi chú 6.
[xviii] Phạm Xuân Nguyên, «Trí thức là ai?», nguồn Tia Sáng
Trong một góp ý ông Trương Nhân Tuấn viết:” Theo đó một nhà tư tưởng hay một triết gia lớn, có thể có những tư tưởng để dời, nhưng họ chưa chắc là « trí thức ». « Trí thức » là một « thái độ » chứ không là một « tư tưởng » hay một « học thuật ». Danh từ « trí thức » chỉ mới ra đời (từ cuối thế kỷ 19) trong khi « triết gia » thì đã có mặt từ rất lâu. Liên hệ « trí thức » và « triết gia » (hay nhà tư tưởng) không có liên hệ theo lối quả trứng với con gà mái để có thể hỏi ai đẻ ra ?”.
Tôi nghĩ danh từ “triết gia” chúng ta mới dịch từ Tây phương gần đây cho từ Philosopher (Anh), hay Philosophe (Pháp), với cái nghĩa hiểu theo từ nguyên dường như là người “minh triết”, chỉ những người có suy tư sâu sắc, tư tưởng cao xa, về các vấn đề thuộc bản thể hay nhân quần xã hội, nhưng dường như thiếu ý chí để hành động thực tiễn (vì vậy bị Marx chê trách, và Mao coi khinh). Có lẽ vì cái mặc cảm chỉ ” nghĩ mà không làm “, nên gần đây một số triết gia cũng mạnh mẽ bày tỏ thái độ về các vấn đề thực tiễn trong chính trị, về công bằng xã hội, chiến tranh…, như J.P. Sartre ở Pháp, hay Nguyễn Văn Trung ở Miền Nam trước đây. Tuy nhiên, ngày xưa ở Đông phương cũng đã có những từ ngữ dùng gọi trí thức hiểu theo nghĩa rộng, như :”trí giả”, “thức giả”, “hiền giả”, “triết nhân”, “hiền triết”… Bây giò dùng từ mới là trí thức để gọi họ chác cũng được vì họ vừa có tầm hiểu biết cao hơn số đông người cùng thới họ, và họ cũng có những hành động thiết thực để làm thay đỏi nhận thức, cách sống của dân tộc họ hay của con người nói chung trong thời đại đó. Tôi nghỉ Khổng Tử, Mạnh Tủ, Mặc Tử, hay Thích Ca là những trí thức của đất nước họ, hay của nhân loại mãi về sau này. Riêng về Thích Ca xin đứng cho ông chì là người của tôn giáo, đạo giáo, mà nghĩ tới điều ông truyền dạy, và thái độ dứt khoát muốn xóa bỏ chế độ đẳng cấp khắc nghiệt ở Ấn Độ cách nay 2500 năm, mà gần đây ngay Gandhi cũng chỉ đụng tới một cách dè dặt. Các nhà họ Khổng , Mạnh và Mặc đều nhiệt thành muốn đem những điều họ thấy trước “thiên hạ” áp dụng vào thời họ sống để làm thay đổi cách cai trị của vua chúa phong kiến ở ít ra tại Trung Hoa cổ đại.
Tại Việt Nam thì dường như không thấy có ai hết. Nhưng khi ông Phong Uyên cho đạo Phật ngày xưa ở VN chỉ là con số không khi so sánh với Hàn hay Nhật, là ví không biết đến những trước tác của Trần Nhân tông, Tuệ Trung và nhiều tăng sĩ khác trong nhiều thế kỷ. Bên Nho giáo ở VN cũng có các ông Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiệp, và gần hơn cũng nên kể tới Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ. Họ đều có hiểu biết tương đồi cao so với người VN củng thới, vừa có tấm lòng dối với đất nước, dân tộc, muốn làm cho tốt hơn, và đã thử làm. Thời gần đây, cũng thấy có các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tường Tam, và phải kể đến ông Nguyễn Tất Thành, mỗi người trong một lãnh vực với cách nhìn riêng. Tôi biết có sự đánh gía khác nhau về các nhân vật trên, nhưng sẽ không đi sâu vào (tranh luận nếu có).
Nhưng VN ngày nay còn có trí thức không? Nếu trí thức VN đã có thì tôi tin vẫn còn, nhưng tôi không nhắc tới tên nhiều vị thường thấy trên báo chí, hoặc ở bài viết, hành động của họ, hoặc do công an sách nhiễu, bỏ tù mà cả quốc tế đều biết tới, vì có thể đụng đến tính khiêm nhường của họ (của những trí thức thực sự), hoặc sẽ bị coi là thiên lệch vì cũng có những trí thức khác ở VN trong nhiều vai trò, lãnh vực khác nhau mà không ai biết tới tên, nghĩ tới họ. Nếu cần kề để thí dụ, tôi chỉ nêu một người từng được đào tạo chính quy trong lò XHCN, nay dường như đứng ngoài vòng “thế sự” ví tuổi gia, như ông Nguyễn Kiến Giang. Tuy vậy, nhìn về tương lai, dường như nhiều người không mấy lạc quan. Các ông Nguyễn Thiện Nhân và Trương Gia Bình đều nhận được giáo dục tốt ở nườc ngoài, đều thành công trong lãnh vực chính trị hay doanh thương ở VN, nhưng có nên gọi là những trí thức tiêu biểu của VN hiện nay không ? (trước hết, vẫn còn tranh cãi là trí thức hiểu theo “nghĩa” nào). Tôi chợt nghĩ các ông/cô Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức…; với tôi họ đáng coi là những trí thức trẻ của VN hiện nay, còn nhiều người khác có giáo dục tốt, có bằng cấp cao, nhất là bằng do các đại học danh tiếng ở Anh, Pháp, Mỹ cấp, thì tôi gọi là những người có học vấn cao, hay chuyên gia giỏi.
Bác Trần Văn Tích thân kính,
theo tôi người đẻ ra cái tên “Hội trí thức yêu nước” một là không hiểu ý nghĩa “trí thức” như người Âu châu hiểu (ít nhất như người Đức), hai là thừa hiểu nhưng đã chính trị hóa nó và cũng đồng nghĩa là làm méo mó ý nghĩa của nó. Trong trường hợp thứ hai, họ gọi cho có vẻ “sang cả”, cho có vẻ “có trình độ” vậy thôi.
Trí thức “quốc doanh” không hề có đặc tính giống trí thức bên này (chưa xét xấu tốt, tùy nhận xét mỗi người), như người Âu châu hiểu: “vô giai cấp, độc lập, không phục tùng ai”, “rất nhạy cảm đối với vấn đề xã hội”. “Tự xem mình là nhà “đạo đức học” họ thường lên tiếng trước những điều chướng tai gai mắt (…), và đòi sự thay đổi”.
Kỳ rồi về VN, tôi cũng được dịp gặp các “trí thức Việt kiều yêu nước” (quốc doanh), và cũng được hỏi thăm: “Lâu quá rồi không thấy Dũng Vũ viết về ngôn ngữ học mà viết về chính trị?”. Tôi trả lời, tôi sẽ viết tiếp về ngôn ngữ học nhưng hiện giờ tôi thấy có những chuyện cần viết hơn và theo tôi không phải về chính trị. Có người còn khuyên tôi đừng viết “lung tung”, chứ không sẽ bị cấm về VN như ông Nguyễn Hưng Quốc.
Nhìn mấy ông già “Việt kiều yêu nước” (toàn giáo sư, tiến sĩ) đã nghỉ hưu, không biết làm gì, về VN hưởng già, du ngoạn, tụ tập nói toàn chuyện công danh sự nghiệp cá nhân, gia đình, đôi khi có vẻ khoe khoang, trông kì cục quá chừng. Thà vậy, nên làm gì cho có ý nghĩa. Thí dụ, đã về hưu, có thì giờ, nên viết bài góp ý xây dựng, chia sẻ kinh nghiệm bổ ích với mọi người (trên talawas chẳng hạn). Nhưng chưa thấy ai làm.
Bác Trần Văn Tích là trường hợp ngoại lệ của “hội trí thức yêu nước”.
Độc giả vantruong cho rằng thời nay chắc khó kiếm ra trí thức trên đất Pháp. Hai tác giả Jacques Julliard và Michel Winock trong cuốn Dictionnaire des intellectuels francais, nhà xuất bản Seuil, 1996, 1258 trang đã trình bày tiểu sử, hành trạng, khuynh hướng chính trị của những nhân vật được xem là trí thức Pháp, còn sống (vào thời điểm từ điển phát hành) hay đã khuất : Guillaume Apollinaire, Louis Aragon, Henri Barbusse, Roland Barthes, Paul Éluard, René Étiemble, Anatole France, Jacques Monod, Antoine de Saint-Exupéry, Jean Paul Sartre, Nathalie Sarraute, Pierre Teilhard de Chardin, Émile Zola v.v.. Vì tôi không có cuốn này trong tủ sách cá nhân mà chỉ đọc nó tại thư viện của Trung tâm Văn hoá Pháp nên không tra được tên hai nhân vật Bernard Henri và Luc Ferry được độc giả vantruong đề cập đến coi có danh tính họ trong từ điển hay không. Nhưng xem Petit Larousse Illustré ấn bản 2002 thì không thấy.
Thưa bạn Trương Đức,
Thưa cũng khá đúng khi bạn nói tôi là một « big fan » của túc cầu. Tôi nghĩ cũng có lẽ nhờ những « fan » như tôi ủng hộ mà đội nhà mới thắng giải trong năm qua (đội nhà thắng giải vô định quốc gia đồng thời cũng đoạt một giải vô địch Châu Âu). Và tôi không phải chỉ thích có đá banh mà còn thích rất nhiều thứ khác (thể thao, nghệ thuật, văn nghệ…). Tôi nhớ ngày xưa ba tôi thường căn dặn anh em tôi : « tụi bây phải chơi thể tháo để có tinh thần thượng giỏ ». Ba tôi nói « thể tháo » chứ không nói « thể thao » và « thượng giỏ » chứ không thượng võ. Lời nói quê mùa của ba tôi xem ra cũng đúng. Chơi thể tháo ngày nay, tiền « ra » hay tiền « vô » đều nhiều, đến đỗi phải đựng bằng… giỏ. Nhiều đến chóng mặt, và hiển nhiên, nó cũng cuốn trôi nhiều thứ.
Về chủ đề trí thức đang bàn cãi, theo tôi, ngoại trừ những « quan điểm » của cá nhân thì mọi người cần tôn trọng, thì chúng ta nên xác định lại mình đang nói về cái gì và trên căn bản nào. Tôi nghĩ mình nên « khoanh vùng » nó lại, hay tạo những điểm chuẩn, những tiêu chuẩn, những giá trị… mà hai bên cùng công nhận, hay cùng đồng thuận, thì mới có thể bàn luận đến nơi đến chốn.
Tôi thấy ở đây tôi và bạn có nhiều đồng thuận trên những giá trị cơ bản, nhưng chỉ khác nhau cái nhìn ở « trục » thời gian. Một người nhìn về vật A ở quá khứ với một người nhìn vật A ở tương lai thì kết quả rất xa nhau.
Tôi « đi về » quá khứ để thu thập dữ kiện, kiểm chứng, sau đó làm so sánh, cuối cùng kết luận rằng VN không có tầng lớp trí thức. Trong khi bạn (và bài viết mà bạn đã dẫn) thì nói VN không có trí thức vì VN không có các tư tưởng « khai sáng ».
Tôi đã viết : Tầng lớp trí thức được phát xuất từ hai nhóm người trong xã hội: “giai cấp quí tộc” và “tầng lớp doanh nhân” thành công. Hai lớp người này tạo thành lớp người “bourgeoisie – trưởng giả”. Những “trào lưu học thuật” và “tư tưởng” của các “triết gia” là bình sữa cho lớp người “trưởng giả” này bú mớm để họ có một tư duy, một nhân sinh quan về xã hội mà họ đang sống. Từ đó họ có thể trở thành “trí thức” hay không.
VN đã không có tư tưởng riêng, mà chỉ tiếp nhận tư tưởng Nho giáo, sau đó các tư tưởng tạp nhạp (vì học không đến nơi đến chốn) như cộng sản và tư bản, thì làm sao có tầng lớp trí thức thật sự ? Bài viết của tôi đã viết như thế. Bạn đọc lại thì rõ.
Như thế có khác gì khi nói VN không có tầng lớp trí thức vì VN không có các tư tưởng khai sáng ?
Do đó khi bạn bắt bẽ tôi về tính không chặt chẽ của phương pháp luận thì tôi thấy hơi bị oan.
Trong bài viết tôi cũng có đề cập sơ qua trường hợp Nhật Bản, mà bài viết bạn đã dẫn có đề câp, nguyên văn như sau : Thử nhìn sang thế giới khác. Trong lúc sĩ phu Việt Nam thờ ông Khổng thành kính, ngoan ngoãn hơn bất kỳ một người Hán nào, thì người Nhật, cũng đồng thời hấp thụ văn hóa Hán, nhưng tầng lớp sĩ phu Nhật đã biết lựa chọn cái hay và loại bỏ cái dở. Vì thế người Nhật dầu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nhưng họ không hề thần phục Trung Hoa như Việt Nam. Sau này Nhật cũng học hỏi văn hóa phương Tây, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào xã hội Nhật, nước này trở thành cường quốc, không kém những nước mà họ đã học hỏi trước đó.
Đó là cái hay của việc học. Học để hơn người chứ không phải học để nô lệ cho người.
Vấn đề là người Nhật họ học thế nào, hay nhờ các yếu tố nào mà họ thành công trong việc học ?
Cái học gọi là theo lối « khai sáng », như bạn đã nói, hay như nhiều người viết hiện nay, theo tôi thì cũng khó nói. Trên thế giới này có hàng chục nước đã học theo lối « khai sáng » nhưng đất nước họ vẫn không hề sáng sủa. Bởi vì sự thành công phụ thuộc rất nhiều yếu tố như « thời cơ » và vị trí « địa lý chiến lược ». Nếu xét kỹ trường hợp của Nhật và Đại Hàn thì sẽ thấy vấn đề này.
Mặt khác, khai sáng thế nào để không bị « vong thân » ? Được hay bị khai sáng ? Tự nguyện hay bắt buộc ? Tôi cũng có nói sơ trong bài viết và trường hợp Nhật Bản cũng là một thí dụ nên nghiên cứu học hỏi.
Tại sao nước này vẫn giữ được bản sắc ngàn năm trước của dân tộc họ mà không bị các luồng tư tưởng mới, các nền văn minh khác đồng hóa, trong khi các nước khác thì đã không khai sáng được lại còn mất cả gốc , các nước Châu Phi (và Việt Nam) là các thí dụ điển hình. Tôi sẽ trở lại chủ đề này trong phần tiếp theo « trí thức và chính trị ». Hy vọng sẽ không quá trễ (vì giải túc cầu thế giới).
Người “trí thức” theo như định dạng trong bài của tác giả Trương Nhân Tuấn và của một số độc giả thì thời nay chắc khó kiếm ra lắm ngay cả trên đất Pháp, vì thời buổi đời thường đã thay đổi và việc tiến hóa (tác giả đã dùng chữ: hoàn cảnh xã hội) cũng thêm vài chuyện mà ngày xưa chưa có, nó kỳ lạ và rắc rối lắm không thể cứng ngắc (rigide/inflexible) được. Có thể nào ta đòi hỏi lý tưởng hơi quá chăng? Chuyện nhỏ, những ai ở bên Pháp chắc đều biết đến hai ông này:
http://en.wikipedia.org/wiki/Bernard-Henri_L%C3%A9vy
http://en.wikipedia.org/wiki/Luc_Ferry
Hai ông, thứ thiệt không thiếu gì cả, đều được người Pháp gọi là “intellectuel” và “philososophe” nhưng chuyện này chắc chắn vẫn sẽ làm một số khá đông dân Pháp ít nhất rũ ra cười. Mà tôi dám chắc những người này cũng có “định kiến” về những nhân vật “intellectuel” và “philosophe” không ít thì nhiều như những gì viết trong bài và nơi một số độc giả khác.
Bởi vậy “trí thức” kiểu “xưa” đó ngày nay đốt đuốc giữa ban ngày bên này kiếm lòi mắt cũng không ra cho nên trong giới “người Việt” có thể nào châm chước cho chút ít được không? Chuyện khó không phải là chuyện đùa.
Nhưng tự do trí tuệ dù dưới trời nào chắc chắn là thứ phải có cho người trí thức, vì vậy cái tự do đó không một thế chế độc tài toàn trị nào chấp nhận nó được. Tiến hóa xã hội ắt phải có trí thức đấy nhưng chắc chưa đủ vì vậy cũng đừng nên “quan trọng hóa” quá mức thành phần này lắm (tôi muốn dùng chữ intellectual-centrism như Euro/Afro/China/State-centrism, không biết như vậy có thỏa không?).
Theo ông Dũng Vũ thì trí thức “nói nôm na là người/giới có học”. Nhưng rồi ông cũng thêm ngay tức khắc là “họ thường lên tiếng” v.v.. Như vậy, rõ ràng là nếu chỉ có học không thôi thì chưa đủ để được gọi là trí thức. Hầu hết các phản hồi khác chung qui cũng đều đi đến kết luận tương tự.
Nhưng người cộng sản khi cho thành lập “Hội Trí thức Yêu nước” đã không sử dụng những tiêu chuẩn thông dụng nhằm định nghĩa hai chữ “trí thức”. Tương tự như vậy, vào khoảng 1978-1979, chúng tôi bị ký tên vào một bản tuyên cáo của trí thức Việt Nam theo đó nhân dân và trí thức đã tự do lựa chọn chủ nghĩa xã hội (không biết tuyên cáo để làm gì và tuyên cáo với ai). Nếu giáo sư Chu Hảo “ngờ rằng chúng ta đã dùng từ “trí” để chỉ những người lao động trí óc” thì cá nhân tôi không hề ngờ, tôi tin, tôi thấy như vậy. Cho nên tôi mới viết rằng hầu hết hay đại đa số thành viên của Hội Trí thức Yêu nước không phải là trí thức. Đó chỉ là một cách không chia sẻ lối hiểu hai chữ “trí thức” của những người cho thành lập Hội Trí thức Yêu nước. Thế thôi. Chứ khi lập luận như vậy, tôi không hề bỉ thử, thậm chí châm biếm hoặc trách cứ anh chị em trong Hội Trí thức Yêu nước mà bản thân tôi từng là một hội viên. Vì là hội viên nên tôi đã có dịp theo học lớp tiếng Nga tại trụ sở của Hội. Vì là hội viên nên tôi nhiều khi mang sổ tiếp liệu đến Hội để được mua phần thịt heo bán theo giá quốc doanh do Thành ủy ưu ái cung cấp trong khuôn khổ đãi ngộ trí thức. Vì là thành viên nên tôi cũng có dịp theo dõi để ghi nhận là dần dà Hội Trí thức Yêu nước biến thể thành Hội Trí thức Yêu nước Ngoài, như anh chị em chúng tôi vẫn gọi vào thuở đó. Vậy rất mong ông Phùng Tường Vân mà tôi rất quí mến “châm chước” cho.
“Tôi có viết: “Tầng lớp trí thức được phát xuất từ hai nhóm người trong xã hội: “giai cấp quí tộc” và “tầng lớp doanh nhân” thành công. Hai lớp người này tạo thành lớp người “bourgeoisie – trưởng giả”. Những “trào lưu học thuật” và “tư tưởng” của các “triết gia” là bình sữa cho lớp người “trưởng giả” này bú mớm để họ có một tư duy, một nhân sinh quan về xã hội mà họ đang sống. Từ đó họ có thể trở thành “trí thức” hay không.”
Ngồn gốc của trí thức Tây phương là như thế. Trí thức Tây phương được cấu thành với những yếu tố như thế thì muốn tìm tầng lớp «trí thức Việt Nam» thì cũng phải dựa trên các yếu tố đó…
…Danh từ «trí thức» chỉ mới ra đời (từ cuối thế kỷ 19) trong khi «triết gia» thì đã có mặt từ rất lâu. Liên hệ «trí thức» và «triết gia» (hay nhà tư tưởng) không có liên hệ theo lối quả trứng với con gà mái để có thể hỏi ai đẻ ra ai.”(Trương Nhân Tuấn)
@ông Trương Nhân Tuấn thân mến,
Trước hết, xin có vài lời về bóng đá, môn thể thao mà tôi thấy, ông là một “big fan” thì phải?! Tôi cũng là một “big fan” của đội banh Pháp, từ cái thời Platini cơ! Nhớ hồi tôi mới sang Hungary, có được xem giải đá banh Mundial 1986, đội “gà nhà” là Hungary thua trắng đội “gà trống” Pháp 3 trái mà dở mếu dở cười. Bóng đá Hungary cũng “vang bóng (đá) một thời”. Đã từng có “Đội tuyển Vàng” chinh phục thế giới với cầu thủ Puskas Ferenc. Ông này đã qua đời, sân vận động quốc gia của Hungary ở thủ đô Budapest được mang tên ông. Câu phát biểu nổi tiếng “Tiền bé, bóng đá bé” của ông, dường như đã đi vào lịch sử và được các đội banh trên thế giới lấy làm “cương lĩnh hoạt động” cho mình. Có một điều thú vị là câu nói này cũng đúng cho những “môn đấu” khác của cuộc sống. Tiện đây, xin trích từ bài viết của tác giả Huỳnh Ngọc Chiến câu này: “Mọi giá trị tinh thần, mọi tiêu chuẩn đạo lý, mọi thước đo nhân phẩm trong cuộc sống dường như đều được quy thành vật chất, và giá trị con người được tính tỷ lệ thuận theo độ dày của những xấp giấy bạc.” với mục đích minh họa cho cái ý “tiền bé bóng đá bé” của người cầu thủ danh tiếng người Hungary, Puskas Ferenc. Giải Mundial 2010 lần này, tôi cũng cổ vũ cho các đội “favorite” là Pháp, Hòa Lan, Tây Ban Nha, đội Nam Hàn thì chỉ vì là đội châu Á tôi thích, chứ không có khả năng giành chức vô địch.
Trở lại với “trí thức Việt Nam”, tôi xin nêu lên vài điểm như thế này:
1. Ông vẫn chưa hiểu tôi lắm. Ở PH trước, là tôi nói về tính không chặt chẽ của phương pháp luận của ông. Tôi xin được nói rõ, nếu đã nói như ông: “Tầng lớp trí thức được phát xuất từ hai nhóm người trong xã hội: “giai cấp quí tộc” và “tầng lớp doanh nhân” thành công. Hai lớp người này tạo thành lớp người “bourgeoisie – trưởng giả”. Những “trào lưu học thuật” và “tư tưởng” của các “triết gia” là bình sữa cho lớp người “trưởng giả” này bú mớm để họ có một tư duy, một nhân sinh quan về xã hội mà họ đang sống.”, thì không thể nói tiếp là: “Từ đó họ có thể trở thành “trí thức” hay không“ được. Tức là, nếu đã nói “A” phát xuất từ “B” và “C”, thì sau đó không thể nói “”A” cộng(bú mớm) với “D” để có thể (quay trở lại) là A hay không” được. Chưa kể là, nếu dựa vào cái ý “bú mớm” của ông, thì tôi xin hỏi là, “điều gì” khiến “hai nhóm người trong xã hội: “giai cấp quí tộc” và “tầng lớp doanh nhân” thành công, tạo thành lớp người “bourgeoisie – trưởng giả” trước khi “bú mớm” bình sữa của “những trào lưu học thuật” và “tư tưởng” của các triết gia? Chẳng lẽ nhóm “lớp người trưởng giả” này trước đó cũng đã “bú mớm” bình sữa “tạo thành trưởng giả” của “các nhà gì gì” đấy chăng? Về cái hành động “bú mớm”, thì tôi đã nói ở PH trước, ở đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh thêm là, đã không xảy ra cái hành động ấy trong xã hội phương Tây trong quá trình hình thành tầng lớp trí thức phương Tây.
2. Và bây giờ, tôi xin mở rộng cái ý “những triết gia(hay nhà tư tưởng) xuất thân từ tầng lớp trí thức” của tôi như thế này: Theo tôi, là có một tầng lớp học thức đã được hình thành từ nhiều tầng lớp trong xã hội bởi “tính khai sáng” trong họ (xin đọc bài này để hiểu rõ hơn về cái “tính khai sáng”), cùng theo sự tiến hóa của xã hội, mà sau này(từ cuối thế kỉ 19?) người ta đã đặt tên cho tầng lớp học thức ấy cái tên mới là “tầng lớp trí thức”, (Việc danh từ “trí thức” có sau danh từ “triết gia” không có nghĩa là “triết gia” ra đời trước “trí thức”!). Và chính từ tầng lớp học thức này đã “nảy sinh” ra những triết gia(hay nhà tư tưởng), và nhờ vào những “trào lưu học thuật” hay “tư tưởng” do họ “sáng tạo” ra, mà TLTT trở nên “mạnh” hơn. Xã hội phương Tây đã “trọng dụng(nuôi dưỡng, tôn vinh, phát huy)” những “trào lưu học thuật” hay “tư tưởng” của họ, coi là những tri thức mới cần thiết cho sự phát triển của xã hội, con người. Ở Việt Nam thì không, mặc dù cũng đã có TLTT.
Xin góp vài ý nhỏ.
“Trí thức” là một khái niệm của phương Tây (tiếng Đức: Intellektueller/ Intellektuelle, gốc La tinh: intellegere (hiểu biết); những ngôn ngữ Âu châu khác tựa vậy). “Trí thức” được dịch từ đó.
Xưa nay đã có nhiều định nghĩa về “trí thức” (Intellektuelle); mỗi người định nghĩa mỗi khác (Chomsky, Sartre, Schumpeter, Camus, v.v.). Tuy vậy người Âu châu vẫn hiểu khái niệm ấy dùng để chỉ một người, một giới hiểu biết, nói nôm na họ là người/giới có học (bất kể từ trường học hay trường đời).
Đặc tính của người/giới này là vô giai cấp, độc lập, không phục tùng ai, nhiều khi xa rời quần chúng. Karl Mainheim chế giễu họ là trí khôn lơ lửng tự do trong xã hội.
Thực ra người trí thức rất nhạy cảm đối với vấn đề xã hội. Tự xem mình là nhà “đạo đức học” họ thường lên tiếng trước những điều chướng tai gai mắt (theo quan điểm chủ quan của mình) và đòi sự thay đổi. Xã hội tiến bộ cũng nhờ có tiếng nói đó. Dĩ nhiên cũng có tiếng nói suông, vô bổ hoặc nguy hiểm đến độ đưa đến một thay đổi đầy thảm họa.
“Intelligenzija” thời Sa hoàng Nga (thế kỷ 19) là nhóm trí thức tiêu biểu đã lên tiếng bênh vực nông dân chống lại cha ông họ là địa chủ. Từ thành phố họ kéo nhau về vùng quê truyền giảng ý tưởng “cộng sản” của Marx, nhưng nhà nông không hiểu gì cả. Họ chỉ muốn được làm chủ miếng đất để mà trồng cấy. Lenin xem họ là “trí thức cải lương” và gọi dân “trí thức” Bolschewik của mình là “nhà cách mạng chuyên nghiệp”. Về sau lên nắm chính quyền, Lenin cho dẹp sạch đám trí thức văn nghệ sĩ, khoa học gia chống đối mình.
Thời chiến tranh VN, giới trí thức khuynh tả Âu châu như Sartre, Chomsky, Fonda, … đã hết mình bênh vực CSVN, chống Mỹ. Giới trí thức khuynh tả Đức như Schily, Fischer, … một thời cũng xuống đường hô “Ho, Ho, Ho Chi Minh”, ủng hộ CSVN, chống Mỹ. Cánh trí thức xã hội Bắc Âu cũng vậy. Đến khi toàn nước VN nằm vào tay CS, vô số người vượt biển tìm tự do, thiên đường CS chẳng thấy đâu ngoài đói nghèo, mất tự do, dân chủ, xã hội đầy dẫy bất công, tệ nạn tham nhũng hối hộ, đạo đức suy đồi, v.v., những nhà trí thức khuynh tả kia mới trắng mắt ra. Như bị đánh lừa, cả đám bèn chửi rủa. CSVN chỉ cười trừ; “nhiệm vụ đã hoàn tất”, tớ không cần bọn bây nữa.
Có lần được gặp ông Fischer (lúc chưa làm bộ trưởng ngoại giao Đức), tôi nói với ông ta “nhờ ông xuống đường hô Ho Chi Minh, mà hôm nay tôi được sống ở Đức”.
Chắc ông cũng biết, giới trí thức Âu châu đã gây tại họa làm giới trí thức Việt Nam trong nước ngày nay lãnh đủ?
Theo tôi để đánh giá là một trí thức, nghĩa là con người có tư duy chưa bi xơ cứng, chưa bị nếp nhăn bảo thủ , có khả năng biết dọn sạch đầu mình để dung nạp thông tin mới của thời đại nghĩa là biết phản tư, luôn luôn đổi mới tư duy, biết công nhận sai lầm và phủ định mình, không công nhận cái tuyệt đối đúng( chân lý),xem mọi cái đều chỉ là tương đối, không có lề phải lẫn lề trái…Đó là khái niệm xuyên suốt của triết học khoa học và chính nhờ đó mà tư duy con người mới có thể phát triển không ngừng trong không gian mờ. Do vậy, tiêu chí số một của người trí thức là phải biết luôn luôn phủ định và tự phủ định. Suy nghĩ cực đoan như vậy, tôi cho rằng trong chúng ta đây chưa ai đáng gọi là trí thức mà chỉ là kẻ có hiểu biết tầm tầm, biết xấu hổ( quân tử thận kỳ độc) biết tự trọng, biết tôn trọng và biết coi khinh kẻ khác mà thôi. Hiện nay chúng ta mới có những người có học, có nhân cách nhất định mà chưa tập hợp đươc một tầng lớp trí thức,vì sự ngự trị của gian trá, sự chia rẽ dân tộc… nên ta chưa xây dựng được một nền triết hịọc đạo đức, triết học của trí thức/.
Thưa bạn Trương Đức : Tôi nghĩ rằng niềm vui của những người cầm viết là có người đọc bài viết của mình. Riêng tôi thì có diễm phúc hơn vì bạn không những đọc mà còn có những nhận xét rất tinh vi về những ý kiến đã viết trong bài. Phản hồi của bạn đã gây cho tôi một cảm giác « hào hứng » khác hẵn ngày thường, mặc dầu trận banh tối hôm qua giữa đội Pháp (gà nhà) và Uruguay đã làm tôi bực bội và cụt hứng vì đội nhà đá quá tệ ! Bạn bè tôi bàn luận chung quanh bàn bia rằng đội Pháp tiêu xài xa hoa, tiền đổ ra vượt quá tầm với tài năng của mình. Riêng tôi thì thấy đội banh Pháp, mặc dầu với những cá nhân là những cầu thủ xuất sắc tầm quốc tế, từng cá nhân một họ có thể thắng xuất sắc các cá nhân cầu thủ khác. Nhưng tập hợp các cầu thủ này lại thì nước Pháp không có một đội banh lý tưởng, vì nó không thể hiện tinh thần và tham vọng của nước Pháp. Tôi thấy phần lớn cầu thủ trong đội banh Pháp đá banh với sự thúc đẩy của cái danh cá nhân và đồng tiền. Do đó thiếu hẵn yếu tố « hãnh diện nòi giống », thiếu chất keo « nối kết » thành một khối quyết tâm, như đội Đức và Ý, để có thể thắng. Nhưng… trời đâu có đóng cửa nhà ai. Biết đâu chó ngáp nhằm rồi. Nếu xảy ra như vậy thì tôi sẽ đãi mọi người một chầu nem nướng !
Trở lại chủ đề, tôi vẫn cho rằng nguyên nhân Việt Nam không có một tầng lớp trí thức là vì Việt Nam không đào tạo được một số triết gia hay nhà tư tưởng lớn để có trào lưu học thuật hay tư tưởng riêng. Nên chú ý ở đây là « trí thức Việt Nam ».
Tư tưởng Khổng Tử, Mặc Tử, Lão Tử… đã tạo cho Trung Hoa những tầng lớp « sĩ phu » ; đồng lúc ở Tây phương, các tư tưởng của các nhà « hiền triết » Hy Lạp, La Mã… đã đào tạo ra những tầng lớp triết gia, những nhà tư tưởng lớn, từ đó nảy sinh ra nhiều trào lưu tư tưởng và học thuật. Đến cuối thế kỷ 19 thì các luồng tư tưởng đó sinh ra tầng lớp « trí thức ».
Việt Nam có tầng lớp « sĩ phu », bản chất không khác chi mấy sĩ phu Trung Hoa, vì đã lệ thuộc văn hóa Hán nhiều ngàn năm. Việt Nam cũng có lớp trí thức Tây học, nhưng bản chất kém xa trí thức Tây phương, vì thời gian tiếp cận không lâu. Nhưng ta khó có thể nói là có hiện hữu một tầng lớp « trí thức Việt Nam ».
Vì thế tôi mới viết : Theo tôi, trong 3 ý kiến của cụ Đỗ Thái Đồng, nếu cho phép thì tôi sẽ sửa lại ý kiến thứ 2. Thay vì “Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng” thì tôi sẽ đổi lại là “không có những triết gia (hay nhà tư tưởng) lớn để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng”. Như vậy cái nôi của trí thức Việt Nam sẽ được minh họa rõ rệt hơn.
Tôi có viết : Tầng lớp trí thức được phát xuất từ hai nhóm người trong xã hội: “giai cấp quí tộc” và “tầng lớp doanh nhân” thành công. Hai lớp người này tạo thành lớp người “bourgeoisie – trưởng giả”. Những “trào lưu học thuật” và “tư tưởng” của các “triết gia” là bình sữa cho lớp người “trưởng giả” này bú mớm để họ có một tư duy, một nhân sinh quan về xã hội mà họ đang sống. Từ đó họ có thể trở thành “trí thức” hay không.
Ngồn gốc của trí thức Tây phương là như thế. Trí thức Tây phương được cấu thành với những yếu như thế thì muốn tìm tầng lớp « trí thức Việt Nam » thì cũng phải dựa trên các yếu tố đó.
Tôi có viết : Các thế hệ trí thức Việt Nam do đó được nuôi dưỡng bằng chất sữa (béo cũng có mà thiu chua cũng có) của các luồng tư tưởng đó.
Câu các luồng tư tưởng đó là các tư tưởng Nho giáo và Tây phương (cộng sản và tư bản). Thế hệ trí thức này ra sao thì có lẽ bạn cũng đã biết.
Tôi cũng cám ơn bạn Trương Đức đã chỉ ra một số lỗi chính tả trong bài viết này. Điều này làm tôi quí trọng bạn hơn. Bạn không những đọc mà còn đọc rất kỹ !
Bác Trần Văn Tích : Cám ơn bác rất nhiều. Góp ý của bác sẽ làm rõ rệt hơn ý nghĩa và quan hệ giữa « trí thức » với các nghề nghiệp, hoạt động « trí óc ». Theo đó một nhà tư tưởng hay một triết gia lớn, có thể có những tư tưởng để dời, nhưng họ chưa chắc là « trí thức ». « Trí thức » là một « thái độ » chứ không là một « tư tưởng » hay một « học thuật ». Danh từ « trí thức » chỉ mới ra đời (từ cuối thế kỷ 19) trong khi « triết gia » thì đã có mặt từ rất lâu. Liên hệ « trí thức » và « triết gia » (hay nhà tư tưởng) không có liên hệ theo lối quả trứng với con gà mái để có thể hỏi ai đẻ ra ai.
Thưa bạn Văn Lang : Thật ra trước đây tôi rất lúng túng khi sử dụng giữa hai từ Trung Quốc hay Trung Hoa. Nhưng từ khi có quyết định là viết theo thời kỳ lịch sử thì thấy mọi sự ổn ra, không vướng mắc với « chính trị » nữa.
Trong quyển « Biên Giới Việt Trung 1885-2000 » của tôi viết trước kia đã bị một vài học giả phê bình là tại sao dùng chữ Trung Quốc ? trong khi miền Nam chỉ dùng chữ Trung Hoa !. Miền Nam dùng chữ Trung Hoa để chỉ Trung Hoa Dân Quốc và miền Bắc dùng chữ Trung Quốc để chỉ Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Thật ra cả hai cũng đều chỉ (hai chế độ) của một nước Trung Hoa. Tôi giải thích là, trái với sự hiểu biết của nhiều người, chữ Trung Quốc đã được sử dụng từ cuối thế kỷ 19, chứ không phải từ 1949. Chữ Trung Quốc ở đây « phi chính trị ».
Về việc sử dụng chữ « Trung Hoa » hay « Trung Quốc » theo tôi đều có ý nghĩa như nhau, vì Trung Hoa Dân Quốc hay Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc cũng đều chỉ nước Trung Hoa mà thôi.
Tôi không nghĩ khi sử dụng « Trung Hoa » là ca ngợi người Hán và « Trung Quốc » thì không ca ngợi người Hán. Vấn đề là viết thế nào cho đúng ? Theo tôi, cách viết theo thời kỳ lịch sử (hay trong hoàn cảnh lịch sử) là đúng nhất.
@ Van Lang:
Tên gọi “Trung Quốc” là do nhà Chu đặt ra từ thế kỷ 6 trước CN, vì họ coi mình là trung tâm của văn minh, còn dân bốn phía xung quanh đều là man di mọi rợ cả [Nam Man (trong đó có dân Bách Việt)ở phía nam Trường Giang,Bắc Địch(Rợ) ở phía bắc Hoàng Hà, Đông Di(Triều Tiên, Nhật Bản), Tây Nhung. Mọi thì ở khắp nơi: Man Rợ, Di Địch, Man Di].
Còn tên gọi Trung Hoa xuất hiện muộn hơn nhiều, trong trào lưu dân tộc chủ nghĩa thời Mãn Thanh (T.k. 19 – 20). “Dân tộc Trung Hoa” là tên lúc đầu được dùng để gọi người Hán. Sau đó, khi thành lập Trung Hoa Dân Quốc (1912), Tôn Trung Sơn đã mở rộng khái nhiệm “dân tộc Trung Hoa” thành 5 chủng tộc: Hán, Mãn Châu, Tây Tạng, Mông, và Duy Ngô Nhĩ.
Trung Quốc trở thành tên gọi chính thức và là tên gọi tắt của Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1912, sau này là tên gọi tắt của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hoà Quốc (tức Trung Cộng) thành lập năm 1949.
Vì vậy cái tên “Trung Hoa” hàm ý một “dân tộc Trung Hoa” (người Hoa) còn cái tên “Trung Quốc” được dùng để chỉ một quốc gia. Cũng vậy, ta viết “Hoa kiều” chứ không thấy ai viết “Trung Quốc kiều”.
“… Cho nên trong chế độ phong kiến, cụ Đồ Chiểu là trí thức mặc dầu cụ chẳng hề đỗ trạng nguyên, bảng nhãn. Còn trong chế độ cộng sản thì đại đa số các thành viên của “Hội Trí thức Yêu nước” với trụ sở tại số 29 đường Nguyễn Thông (sau 75, chẳng biết nay còn không) không phải là trí thức tuy rằng có người mang học vị này, đỗ bằng cấp nọ.” ( Trần Văn Tích)
Về trường hợp cụ “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” hơặc Phan Văn Trị “Trai ngay phò nước gái theo chồng” …thì trắng đen là đã minh bạch lắm, kẻ nào nói khác đi thì đích thị là giống Việt gian rồi, có nguỵ biện, lẻo mép đến mấy thì cũng không dấu được cái bản mặt Trần Ích Tắc. Tuy nhiên cuộc đời mà lúc nào cũng hắc bạch phân minh như vậy cho thì đã đỡ khổ biết bao; xin trở lại cái hội “trí thức yêu nước” ấy tôi còn nhớ cái ông được “cử” làm Hội Trưởng, nghe đâu một hôm được “thành đoàn” mời lại hội ý về chuyện gì đó thì… “khách hỏi nhà ông tới, ông đã vượt biên rồi!”, âu cũng là cái cảnh “gặp thời thế, thế thì phải thế” mà còn có chỗ châm chước được chăng ?
Tôi xin trình bày quan niệm cá nhân về trí thức một cách ngắn gọn và cụ thể. Theo tôi, một nhà bác học thành công trong việc chế tạo bom nguyên tử không phải là một trí thức. Nhưng vào thời điểm ông ta nhận chân rằng vũ khí hạt nhân là một nguy cơ cho nhân loại và lên tiếng kêu gọi các đồng nghiệp cùng ký tên vào một bản tuyên ngôn chống đối việc sử dụng nó, thì ông trở thành trí thức. Sản xuất bom nguyên tử là vấn đề khoa học kỹ thuật, sử dụng bom nguyên tử là vấn đề chính trị đạo đức. Nhà khoa học tìm phát minh, người trí thức tỏ thái độ. Tuy nhiên dấn thân đòi hỏi trách nhiệm và lương tri. Những kẻ dốc lòng phụng sự một chế độ độc tài, những người bán linh hồn cho một chính thể toàn trị đều tự phủ nhận mình vì họ phản bội chức năng cao cả của trí thức là bảo vệ các giá trị nhân bản, là đấu tranh cho công lý lẽ phải. Anh có thể đỗ đạt rất cao nhưng điều đó chỉ chứng tỏ là anh có cái tiểu thông minh tầm thường để thu nhập kiến thức, để kiếm chác văn bằng. Muốn là trí thức, anh cần đạt được cái đại trí tuệ xuất chúng để nhận thức đúng chân lý, giác ngộ được lẽ phải. Cho nên trong chế độ phong kiến, cụ Đồ Chiểu là trí thức mặc dầu cụ chẳng hề đỗ trạng nguyên, bảng nhãn. Còn trong chế độ cộng sản thì đại đa số các thành viên của “Hội Trí thức Yêu nước” với trụ sở tại số 29 đường Nguyễn Thông (sau 75, chẳng biết nay còn không) không phải là trí thức tuy rằng có người mang học vị này, đỗ bằng cấp nọ.
1. Tác giả hỏi: “Tại sao người Việt Nam có thể say mê các tư tưởng ngoại lai đến mù quáng như vậy? Nó đã đem lại ích lợi gì cho dân tộc ngoài những đổ vỡ tang thương?”
– Có lẽ người Việt chỉ say mê tư tưởng ngoại lai khi tư tưởng đó có lợi cho họ. Các triều đại phong kiến VN buộc người ta tôn sùng đạo Nho chỉ vì đạo Nho khuyến khích trung với vua, kẻ sĩ thì chỉ nên phò tá vua vv… Nếu thực sự say mê chủ nghĩa Mác Lê, các lãnh đạo của đảng Cộng Sản hẳn đã thuộc kinh điển Mác Lê hơn cả các vị tu ở La Mã thuộc kinh thánh, và điều này ai cũng biết là thực sự các lãnh tụ hoàn toàn không quan tâm, thậm chí có thể chưa bao giờ tìm đọc. Có ích cho dân VN không thì họ không tính, miễn có ích cho họ.
2. Nhiều người trí thức VN hay mắc lỗi này: Không biết phân biệt từ Trung Quốc và Trung Hoa khác nhau thế nào! (cho nên dùng lẫn lộn 1 cách vô ý). Người Trung Quốc tự gọi họ là Trung Hoa thì có lý vì dân tộc nào cũng tự hào về mình. Họ xưng họ là Hoa Hạ (Hoa = đẹp đẽ, Hạ = hay), xem mình là trung tâm của văn minh trong khi các vùng chung quanh là nơi của người mọi rợ (Bắc Địch, Nam Man, Đông Di, Tây Nhung). Chúng ta việc gì phải đi khấu đầu công nhận cái trật tự này?
Tương tự, nhiều người Việt cũng không biết phân biệt Hàn Quốc và Đại Hàn khác nhau ra sao! Xin cẩn thận, nhất là khi bàn về thái độ trí thức, sĩ khí , vv…
“Không ai khác, chính tầng lớp lãnh đạo Việt Nam đã giết chết mọi sức sống của dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc vào vòng nô lệ mới. Không phải lối nô lệ của thời thực dân mà nô lệ như một con người máy, thực hiện mù quáng những thảo chương đã được người ta soạn sẵn đặt vào đầu. Thảo chương đó chính là chủ nghĩa cộng sản Mác-Lênin.”(Trương Nhân Tuấn)
@ông Trương Nhân Tuấn,
Tôi xin được trao đổi vài cảm nghĩ về phương pháp luận của ông như sau:
1. Theo tôi, “Những triết gia (hay nhà tư tưởng) lớn” cũng xuất thân từ tầng lớp trí thức. Vậy nên, khi ông viết “Theo tôi, trong 3 ý kiến của cụ Đỗ Thái Đồng, nếu cho phép thì tôi sẽ sửa lại ý kiến thứ 2. Thay vì “Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng” thì tôi sẽ đổi lại là “không có những triết gia (hay nhà tư tưởng) lớn để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng”. Như vậy cái nôi của trí thức Việt Nam sẽ được minh họa rõ rệt hơn.“, thì tôi nghĩ, ông đã không chặt chẽ trong lí luận của mình. Bởi vì, cái ý kiến 2 của cụ Đỗ Thái Đồng nó “bao quát và chặt chẽ” hơn cái ý kiến sửa lại của ông. Tôi nói như vậy là bởi vì, trên thế giới, và cụ thể là ở những nước phương Tây tân tiến như Đức, Pháp, Anh,… các nhà tư tưởng, triết gia lớn đều “ra đời” từ tầng lớp trí thức. Họ không thể “xuất thân” từ một tầng lớp khác bất kỳ nào đó của xã hội.
2. Khi ông viết “Tầng lớp trí thức được phát xuất từ hai nhóm người trong xã hội: “giai cấp quí tộc” và “tầng lớp doanh nhân” thành công. Hai lớp người này tạo thành lớp người “bourgeoisie – trưởng giả”. Những “trào lưu học thuật” và “tư tưởng” của các “triết gia” là bình sữa cho lớp người “trưởng giả” này bú mớm để họ có một tư duy, một nhân sinh quan về xã hội mà họ đang sống. Từ đó họ có thể trở thành “trí thức” hay không.”, thì ông lại “sa” vào cái lỗi giống như ở điểm 1 mà tôi đã trình bày ở trên. Tức là ở đây tôi muốn nói, cái hành động “bú mớm” của “lớp người trưởng giả” không khác gì cái hành động như trong đoạn văn “Ngày xưa kẻ sĩ bảo thủ gọi là “hủ nho” thì hôm nay gọi là “hủ mác”. Ngày xưa cái gì cũng “Tử viết”, ngày hôm nay thì nếu không “trên nói” cũng “Bác Hồ dạy”. Như ông Khổng tử, “trên” không bao giờ nói “sai” mà chỉ ở dưới “làm sai” mà thôi! Hai mô hình xã hội này chỉ đào tạo một tầng lớp sĩ phu Việt Nam đầy khuyết tật.” này của ông. “Bú mớm” sữa nào, thì sẽ ra “trí thức” thế nấy! Chưa kể, ở đoạn tiếp theo của bài viết, ông nói tiếp rằng, “Không có tinh thần hoài nghi khoa học, không có khả năng phân tích sự vật, không dám đặt lại vấn đề thì không bao giờ có sáng tạo ra cái mới.” Tóm lại, theo tôi, VN đã có một tầng lớp trí thức (trong lẫn ngoài nước), nhưng chưa đủ “mạnh” với những yếu tố cần thiết như trí tuệ, lương tâm, đạo đức, chí khí.
Trên đây là những điểm tôi thấy cần phải trao đổi lại với ông. Còn lại những điểm khác của bài viết thì tôi hoàn toàn đồng ý với ông. Nhất là quan điểm này của ông, “Không ai khác, chính tầng lớp lãnh đạo Việt Nam đã giết chết mọi sức sống của dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc vào vòng nô lệ mới. Không phải lối nô lệ của thời thực dân mà nô lệ như một con người máy, thực hiện mù quáng những thảo chương đã được người ta soạn sẵn đặt vào đầu. Thảo chương đó chính là chủ nghĩa cộng sản Mác-Lênin.”
Tiện đây, xin “nhắc khéo” một lỗi ngữ pháp trong câu này của ông: “Việt Nam đã không những gây dựng được một lớp trí thức tinh hoa, tức những triết gia hay nhà tư tưởng lớn, để có thể có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng, mà lại còn hủy diệt hết tất cả những gì là “trí, phú, địa, hào” hãy còn non trẻ.”, hình như thiếu chữ “không” ở giữa chữ “những” và chữ “gây” thì phải?! (và riêng về nội dung thì ông cũng phạm phải cái “lỗi tự mâu thuẫn” như tôi đã nói ở điểm 1). Chưa hết, trong câu “Nhưng xem nguy cơ xem ra vẫn còn rất lớn.” hình như lại thừa từ “xem” sau từ “Nhưng” thì phải?!