Nguyễn Hoàng Văn – Thực dân, nô lệ, ăn mày (1)
10/06/2010 | 7:00 sáng | 20 Comments
Category: Tư tưởng
Thẻ: Đỗ Ngọc Bích > Lỗ Tấn > Phan Khôi
Tháng Ba năm 1906, phẫn nộ trước hình ảnh người Trung Quốc hả hê thưởng thức cảnh lính Nhật cắt cổ đồng bào mình trên màn ảnh trong một giảng đường y khoa tại Nhật, Lỗ Tấn đã dứt khoát từ bỏ hoài bão làm thầy thuốc nhen nhúm từ tấm bé và nung nấu khát vọng canh tân ở tuổi chớm biết ưu tư để lao vào cái nghề cầm bút nghiệt ngã, bấp bênh. Làm thầy thuốc thì chỉ có thể chữa những bệnh tật trên thể xác của con người. Cái mà dân tộc Trung Hoa cần chữa là những căn bệnh sâu trong tinh thần của mấy trăm triệu người.[1]
Tháng Tư năm 2010, những triệu chứng của chứng bệnh ấy lại lộ ra, không với dân tộc của Lỗ Tấn mà với chúng ta. Khi một bậc chuẩn khoa bảng ngành American Studies, qua sự tiếp tay của một nhà truyền thông, bực dọc đưa ra “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” để biện minh cho sợi thòng lọng mà hệ thống toàn trị láng giềng đang siết dần vào cổ họng đất nước mình, cả hai đã hả hê thưởng thức tương tự, không hơn không kém.[2] Hả hê trước những tâm cảm nhức nhối về thân phận nhược tiểu của đất nước mình. Hả hê trước tình cảnh điêu đứng của những anh em chú bác mình, những người vừa cắn răng chịu đựng một chính quyền không ra chính quyền, vừa bươn chải chịu đựng gã láng giềng đang tập tành tướng đi đế quốc nhưng chưa bao giờ ra dáng đế quốc bởi không thể gột bỏ hết bản chất vô sản lưu manh kiểu bần cố nông đấu tố như có thể thấy qua những hành vi cướp biển bần tiện, nhỏ mọn.[3] Và khi hả hê thưởng thức như thế, những con bệnh tim não cùng những ủng hộ viên khác đã thưởng thức với sự mãn nguyện của những đầu óc nô lệ, ăn mày.
Tôi không hề quá đáng, nặng lời. Khi cho rằng người Việt phải tri ân hệ thống toàn trị Trung Hoa qua những khoản đầu tư đã bỏ ra trong thời chiến, bậc chuẩn khoa bảng suy nghĩ có khác nào hạng ăn mày khi ghi tâm khắc cốt những ân huệ bố thí mà không đếm xỉa gì đến động cơ hay cung cách bố thí?[4] Và khi khăng khăng rằng mình hoàn toàn đúng bởi đã hành xử chính xác theo “Tiêu chuẩn biên tập BBC”, nhà truyền thông nối giáo cũng chỉ thể hiện một đầu óc nô lệ mà Phan Khôi đã chỉ ra trên Phụ Nữ Tân Văn hơn 80 năm trước:
“Chẳng những một mình ông, tôi thấy có nhiều người cũng nói như ông vậy. Họ nói: Quốc ngữ viết thế nào cũng được, không cần phân biệt t với c, có g với không g. Nói vậy thì sao họ học chữ Pháp họ lại phải viết theo từng nét? Sao họ không viết là ving đi mà phải viết vingt? Sao họ không nói ‘j’alle’, ‘tu alles’, ‘il alles’ đi mà lại phải nói ‘je vais’, ‘tu vas’, ‘il va’? Tôi mong rằng rày về sau đừng có ai nói như ông nữa mà làm cho tôi thương tâm quá! Vì trong sự này tôi thấy ra cái tánh nô lệ của người ta: các anh bồi từ phòng khách đến phòng ăn, phòng ngủ của Tây thì các anh giữ quét dọn sạch sẽ luôn; còn chỗ xó của vợ chồng anh ấy nằm thì tha hồ là dơ dáy. Song nô lệ cách này còn được; chớ nô lệ cách kia thì thôi, hết mong gì nữa!”[5]
Thì cũng là cái cảnh “hết mong gì nữa”. Người thì chăm chút “quét dọn sạch sẽ” sao cho đúng “tiêu chí biên tập” của kẻ giữ sổ lương, còn lại “tha hồ là dơ dáy”. Người thì, như một nghiên cứu sinh ngành American Studies, chắc chắn sẽ không bao giờ dám bộc lộ sự “bực dọc” tương tự trước những George Washington hay Benjamin Franklin, những người Mỹ đã dứt bỏ mối ràng buộc với nước Anh, cái mẫu quốc mà thuộc địa Mỹ “từ đó mà ra”. Từ những kẻ trong “xó nằm dơ dáy” cho đến hạng học thức hơn, sang cả hơn, chân trời đã rộng mở rất nhiều. Nhưng có mở đến đâu cũng vậy, cũng chỉ là cái tinh thần ở đợ và do đó vấn đề không thuộc về những cá nhân cụ thể mà là cái hình bóng chung thấp thoáng sau lưng họ, sau lưng những ủng hộ viên nhâng nháo, những kẻ đang lật bật muá may với những “ân phước” hay tinh hoa văn hoá Trung Hoa để làm nhiễu loạn mối ưu tư của cộng đồng Việt về sự sinh tồn trong mai hậu.
Như thế thì phải tìm hiểu kỹ hơn cái hệ số chung “bồi”. Như một chuẩn siêu cường đang lên, nước Trung Hoa hãnh tiến hôm nay đang càng ngày càng ra dáng thực dân và hệ quả là sự hình thành của lớp bồi Tàu đương đại, như một sự tiếp nối của những lớp “quăng vùa hương xô bàn độc” / “chia rượu lạt gặm bánh mì” thượng lưu hay hạ đẳng ngày trước.[6] Nếu sức mạnh cơ giới của thực dân Pháp từng khiến một Tôn Thọ Tường khiếp đảm đến độ đầu hàng không điều kiện Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc / Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay thì sức mạnh của thực dân Trung Hoa hôm nay cũng đang thai nghén nên một lớp kế thừa tương tự.[7] Nhưng thần phục thực dân cũng có nghĩa là thần phục sức mạnh. Não trạng nô lệ và ăn mày thực dân, thực chất, cũng chỉ là biểu hiện của não trạng nô lệ và ăn mày trước sức mạnh chính thống.
Khuynh hướng phò thực dân, như thế, chỉ là biểu hiện nhất thời và sa đoạ của khuynh hướng phò chính thống. Và nếu khái niệm “thực dân” luôn được hiểu như là những thế lực đến từ bên ngoài thì đã đến lúc chúng ta phải nhận diện thứ “thực dân” sinh sản bên trong.[8]
Khi quyền lực chính thống tự tách mình ra, không nương tay bóc lột cộng đồng để phục vụ lấy mình như một cộng đồng con, nó đã là hiện thân của một thứ “thực dân”. Nội hoá hay ngoại hoá, đã đối phó với khát vọng sống của cộng đồng thì thứ thực dân nào cũng ngay ngáy kiểm duyệt để che đậy bản chất ăn cướp và bóc lột của mình. Nhưng kiểm duyệt cũng chỉ là một biện pháp cụ thể trong mục tiêu ngu muội hoá con người, như một đường lối nhất quán. Khi hệ thống toàn trị sắt máu hơn cả chính quyền thực dân trong chính sách ngu muội hoá ấy, nó đã sợ hãi sự thật và mong mỏi công dân của mình ngu dốt hơn cả thế lực cai trị bên ngoài đã từng sợ và từng mong.[9] Như thế, nếu cái mũ cối được xem là biểu tượng của chủ nghĩa thực dân phương Tây thì hệ thống toàn trị hiện tại không chỉ kế thừa từ thực dân Pháp cái mũ ở trên đầu mà kế thừa cả cái chủ trương ngu dân ở bên trong cái đầu.
Cuộc cách mạng đắt giá mà hệ thống toàn trị vẫn ồn ào kỷ niệm đi kỷ niệm lại, xem ra, chỉ là thứ “cách mạng” để thay đổi màu da dưới cái mũ cối. Chỉ thay màu da thôi nên sau đó vẫn là những trò ngu muội hoá con người quen thuộc, vẫn là những cuộc xâm lược nhắm vào giềng mối quan hệ và tình cảm quen thuộc. Và có quen thuộc như thế nên những hình ảnh sinh động và bi phẫn nhất trong “Á Tế Á Ca” hay “Bình Ngô Đại Cáo” vẫn tiếp tục sinh động và tiếp tục bi phẫn như một thứ “hiện thực phê phán”.[10]
Khi thực hiện chính sách ngu dân trên đất nước chúng ta, thực dân Pháp đã đần độn hoá con người để vừa có thể đầu độc và bóc lột thậm tệ bằng thuốc phiện hay sưu cao thuế nặng, vừa có thể cao rao sứ mạng “khai hoá”. Hệ thống toàn trị kế thừa cũng tiếp tục như vậy để vinh quang hoá cái sự nghiệp ghê tởm xây dựng từ những cuộc đấu tố, những trại cải tạo, những trò cướp bóc tập thể, những cơn mê sảng vĩ cuồng mà hậu quả nhãn tiền là đói rách, nợ nần và tụt hậu. Hệ thống cần làm vậy để những sai lầm tiếp nối sai lầm vĩnh viễn thuộc về trách nhiệm của một “quá khứ” chung chung, của những “lý do lịch sử” chung chung hay “yếu tố khách quan” chung chung. Và nó cần vậy để mối quan hệ rành rành giữa kẻ cướp và con mồi mới trở thành “quan hệ hữu nghị hướng tới bền vững, ổn định”.
Để thoải mái cai trị và, thậm chí, để được thoải mái… hèn, hệ thống toàn trị phải kìm hãm, phải duy trì công dân của mình trong thân phận của những kẻ nô lệ hay ăn mày ngây dại, hồn nhiên.[11]
Như cái kiểu hồn nhiên khi chúng ta nắn nót những “đơn xin” đầy tính ăn mày. Cứ dựa theo tiêu chí dân quyền của một xã hội dân sự thì, trừ một thiểu số quyền lực, những ai đang từng hay đã từng sống dưới với hệ thống cai trị ấy mà không phải gánh chịu kiếp ăn mày? Dưới hai cái ách cai trị thực dân và quân chủ, cha ông chúng ta phải chịu thân phận ăn mày ấy khi viết “đơn xin” gởi lên “quan Công sứ” với lời kết “Muôn đội ơn quan lớn” đã đành.[12] Thời của những chính quyền “nhân dân”, “dân chủ” hay “cộng hoà”, chúng ta cũng phải tiếp tục các phẩm giá tương tự trong những “Đơn xin” in sẵn và những “Đơn xin” tự biên tự diễn tương tự. Đơn xin nhập học. Đơn xin chuyển trường. Đơn xin chuyển hộ khẩu. Đơn xin cấp giấy phép xây dựng. Đơn xin mượn giấy tờ trong hồ sơ sinh viên. Đơn xin làm lại thẻ sinh viên.[13] Xin, xin và… xin. Chúng ta vẫn phải đi ăn xin và vẫn phải “đội ơn” như thể là thời thuộc địa cho dù ngôn ngữ khác đi, có màu mè thêm ra kiểu “Trong khi chờ đợi sự chấp thuận của quý cấp tôi xin bày tỏ nơi đây tấm lòng thành kính và biết ơn sâu xa”.
Ăn xin cho đáng ăn xin / Lấy chồng cho đáng bù nhìn giữ dưa… Có hạ mình đi xin thì cũng nên xin những gì cho đáng chứ? Và để xứng đáng là “chính quyền nhân dân” thì cũng phải bình thường hoá những chuyện như thế như là những “thao tác” thuần túy kỹ thuật chứ? Khi phức tạp hoá những “thao tác kỹ thuật” ấy bằng một thứ ngôn ngữ và những thủ tục ăn mày, hệ thống cai trị đã biến nó thành một “hành động chính trị” để, qua đó, chính trị hoá vấn đề, biến công dân của mình thành những con tin hay con nợ nhằm tiện bề thao túng và chi phối.
Nhưng không chỉ là những quan hệ xin-cho lặt vặt mà là chủ trương ăn mày hoá như một phần trong hệ thống giáo huấn ngu dân. Chính tính nhất quán và sự tiếp nối của những hệ thống giáo huấn ngu dân nối tiếp nhau qua bao thời kỳ quân chủ, thực dân và thực-dân-hậu thực-dân mới có thể biến chúng ta thành những con tin hồn nhiên và ngây thơ như thế. Nó huấn nhục và tôi mọi chúng ta. Nó lột sạch phẩm giá con người của chúng ta. Nó bắt chúng ta tư duy như là những thực thể ký sinh, chỉ có thể tồn tại bằng cách ăn xin hệ thống, bám chặt vào hệ thống, như một thứ tôi đòi.
(Còn 1 kì)
© 2010 Nguyễn Hoàng Văn
© 2010 talawas
[1] Cha mất từ rất sớm và ký ức tuổi thơ gắn liền với hình ảnh của tiệm cầm đồ và tiệm thuốc: cầm đồ xong thì đến tiệm thuốc mua thuốc. Lớn lên muốn theo đuổi khoa học và nghe tin cuộc canh tân của Nhật khởi sự từ việc du nhập y khoa hiện đại Tây phuơng, Lỗ Tấn đã theo học tại Học viện Y khoa Tiên Đài (Sendai Medical Academy). Nhập học từ năm 1904, đến năm 1906 thì bỏ học để lao vào hoạt động văn học. Chuyện được kể lại trong lời nói đầu của tuyển tập tập truyện ngắn Gào thét (Call to Arm), đề ngày 3/12/1922:
“[..] These inklings took me to a provincial medical college in Japan. I dreamed a beautiful dream that on my return to China I would cure patients like my father, who had been wrongly treated, while if war broke out I would serve as an army doctor, at the same time strengthening my countrymen’s faith in reformation.
I do not know what advanced methods are now used to reach microbiology, but at that time lantern slides were used to show the microbes; and if the lecture ended early, the instructor might show slides of natural scenery or news to fill up the time. This was during the Russo-Japanese War, so there were many war films, and I had to join in the clapping and cheering in the lecture hall along with the other students. It was a long time since I had seen any compatriots, but one day I saw a film showing some Chinese, one of whom was bound, while many others stood around him. They were all strong fellows but appeared completely apathetic. According to the commentary, the one with his hands bound was a spy working for the Russians, who was to have his head cut off by the Japanese military as a warning to others, while the Chinese beside him had come to enjoy the spectacle.
Before the term was over I had left for Tokyo, because after this film I felt that medical science was not so important after all. The people of a weak and backward country, however strong and healthy they may be, can only serve to be made examples of, or to witness such futile spectacles; and it doesn’t really matter how many of them die of illness. The most important thing, therefore, was to change their spirit, and since at that time I felt that literature was the best means to this end, I determined to promote a literary movement.”
[2] Đỗ Ngọc Bích, “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100417_do_ngoc_bich.shtml
Truy cập ngày 25.5.2010.
Và:
Nguyễn Giang, “Về bài của tác giả Đỗ Ngọc Bích trên BBC”.
http://www.bbc.co.uk/blogs/vietnamese/2010/04/ve-bai-cua-ba-do-ngoc-bich-tre.html
Truy cập ngày 25.5.2010.
[3] Khi chính quyền không đủ sức, thậm chí không có đủ dũng khí để bảo vệ người dân thì nó không ra dáng một chính quyền nữa. Và đó không phải là hiện tượng cá biệt mà lặp đi lặp lại, không chỉ mất tài sản mà có khi còn mất mạng. Xem thí dụ gần nhất: Trà Minh, “12 ngư dân được thả sau khi nộp 200 triệu đồng tiền chuộc”, Tuổi Trẻ 15.5.2010.
[4] Trung Quốc không bao giờ muốn Việt Nam thống nhất và hùnh mạnh, do đó chỉ viện trọ nhỏ giọt để nuôi dưỡng cuộc chiến du kích. Tuy nhiên, cả trong việc viện trợ này Trung Quốc cũng lạm dụng để gặm nhấm dần lãnh thổ Việt Nam.
Xem: “Điều gì đang xảy ra trong bang giao Việt-Trung?”, Mặc Lâm phỏng vấn Dương Danh Dy, đài RFA 2.7.2009.
[5] Phan Khôi, “Viết chữ Quốc ngữ phải viết đúng”, Phụ Nữ Tân Văn số 31 (5.12.1929). Dẫn theo Tranh luận văn nghệ khế kỷ XX, (2002) tập 1, NXB Lao Động, tr. 106.
[6] Nguyễn Đình Chiểu, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:
“Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.”
[7] Bài thơ “Giang sơn ba tỉnh” của Tôn Thọ Tường:
Giang sơn ba tỉnh hãy còn đây,
Trời đất xui chi đến nỗi này?
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo
Mây tuôn đẹn kịt khói tàu bay.
Xăn văn thầm tính, thương đôi chỗ,
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!
[8] Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh định nghĩa “thực dân” là “Nhân dân di cư ra nước ngoài để làm ăn”.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (NXB Đà Nẳng 2004) thì định nghĩa (2) là “Người ở nước tư bản, thuộc tầng lớp bóc lột, thống trị ở nước thuộc địa, trong quan hệ với nhân dân nước thuộc địa.”
[9] Bùi Minh Quốc, “Thư ngỏ gửi các bạn trẻ Việt Nam và hai bạn Mỹ Fred, Rob”, Diễn đàn talawas, 19.8.2005.
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5180&rb=0307
“Trong dịp đại hội lần thứ 7 vừa rồi của Hội Nhà văn Việt Nam (tháng 4.2005), mấy đồng nghiệp của tôi – nhà thơ Xuân Sách, nhà thơ Trần Mạnh Hảo, nhà văn Hoàng Quốc Hải – phát biểu tại diễn đàn chỉ tha thiết xin nhà nước thành lập cơ quan kiểm duyệt chính thức, công khai, để nhà văn cứ viết hết cỡ theo lương tâm mình, còn nhà nước không vừa ý chỗ nào thì cứ cắt nhưng phải in rõ chấm chấm chấm kiểm duyệt bỏ chấm chấm chấm như thời chế độ thực dân.
Ôi, đau đớn làm sao, nhục nhã làm sao! Hỡi hồn thiêng các liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Văn Giá, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Trần Đăng, Thôi Hữu, Nam Cao, Trần Mai Ninh… và tất cả các liệt sĩ của tất cả các thế hệ đã ngã xuống vì độc lập tự do, hãy về đây mà chứng kiến cho nỗi nhục của chúng tôi! Chẳng lẽ chiến đấu như thế, hy sinh như thế để chuốc lấy nỗi nhục này? Sau bao nhiêu năm chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, nay chỉ xin cái mức tự do ngôn luận như thời thực dân mà cũng không được. Xưa là nô lệ cho ngoại bang, nay lại làm nô lệ cho một nhúm cầm quyền nhân danh Đảng.”
[10] “Á tế á ca” hay “Bài thơ về châu Á”, bài thơ dài 200 câu làm theo thể song thất lục bát, được dùng làm tài liệu giảng dạy ở Trường Đông Kinh Nghĩa thục (1907), gọi là “Đề tỉnh quốc dân ca”. Chưa rõ tác giả dù có người đoán là của Phan Bội Châu, nội dung lên án chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp, kêu gọi nhân dân Việt Nam noi gương Nhật, đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc.
Xin trích những đoạn khá “đắt” với chính sách kinh tế XHCN thời “bao cấp”:
Rượu ta nấu, nó cho rượu lậu
Muối ta làm, nó bảo muối gian
Hay:
Các hạng thuế các làng thương mãi…
Hết đinh điền rồi lại trâu bò
Thuế chó cũi, thuế lợn lò
Thuế muối, thuế rượu, thuế đò, thuế ghe
Thuế sản vật, thuế chè thuế thuốc
Thuế môn bài, thuế nước thuế đèn
Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền
Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn
thuế cả hết phấn son đường phố
Thuế những anh thuốc lọ gầy còm
Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn
Thuế người chức sắc, thuế con hát đàn.
Hay “Bình Ngô Đại Cáo” (bản dịch Ngô Tất Tố):
[…] Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
[11] Xem bài báo “Đồng chí Trương Tấn Sang: Nhà báo phải cống hiến nhiều hơn vì nhân dân” của Tr.Bình – M.Anh trên Sài Gòn Giải Phóng ngày 20.6.2009.
http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2009/6/194492/
Ngày 19-6, kỷ niệm 84 năm ngày “Báo chí Cách mạng Việt Nam”, ông Trương Tấn Sang đã đến “làm việc” với Hội Nhà báo Việt Nam, và trong “làm việc” này có lúc họ Trương “lưu ý” Hội nhà báo: “Trước một số vấn đề phức tạp, nhạy cảm, kể cả vấn đề hệ trọng liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của đất nước còn có biểu hiện vội vàng, chủ quan, chạy theo dư luận, gây khó khăn cho công tác lãnh đạo, điều hành. Một số cơ quan báo chí còn đưa thông tin sai, gây tác hại về chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và các địa phương, doanh nghiệp…” .
Chú ý chữ “gây khó khăn cho công tác lãnh đạo”.
[12] Tôi dựa vào một số đơn từ trong Quảng tập viêm văn của Edmond Nordemann, bản dịch của Nguyễn Bá Mão (NXB Hội Nhà văn & Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 2005), tập trung trong chương thứ 3, kể từ trang 70. Nguyên tác Chrestomathie Annamite – Contenant 180 textes en dialecte Tonkinois, xuất bản năm 1898. Tác giả là giảng viên Trường Thông Ngôn, lấy tên Việt là Ngô Đê Mân.
[13] Có thể xem một số mẫu đơn trong các trang web sau:
hay:
http://ussh.edu.vn/mot-so-mau-don-va-giay-chung-nhan/140
“Ý thứ nhất tôi xin nói là: tác giả Nguyễn Hoàng Văn đã hoàn thành một công việc đầy ý nghĩa là đã “mổ xẻ” cái “bộ óc” của ông Hồ Chí Minh ra một cách rất chi li cặn kẽ, có nghĩa là trong thời gian còn sống, ông Hồ đã suy nghĩ như thế nào, đã dùng những thủ đoạn chính trị gì, đã áp dụng những chính sách ngu dân như thế nào, để tạo ra được một “thế cầm quyền” vững chắc cho ĐCSVN từ bấy cho đến nay, thì bác NHV đã “chỉ rõ” cho chúng ta thấy. Hay nói một cách khác, là tác giả NHV đã mở ra cho những độc giả như tôi một cái nhìn tổng thể và khá chính xác về cái gọi là “chế độ thực dân” của cả ngoại xâm là thực dân Pháp và của nội xâm là ĐCSVN.” (Trương Đức)
Bạn Trương Đức nhận định rất đúng về bài viết (gồm 2 kỳ) này của tác giả Nguyễn Hoàng Văn. Về các thủ thuật để đạt được mục đích tạo ra một “thế cầm quyền” vững chắc cho ĐCSVN, tôi nhận thấy là ông Hồ Chí Minh đã TẬN DỤNG tối đa lòng yêu nước tha thiết của toàn dân Việt, ước mơ thoát khỏi cảnh nô lệ tủi nhục dưới bàn tay lũ thực dân Pháp, và được độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta thời 1945 để hô hào toàn dân hy sinh tất cả cho cuộc đấu tranh đuổi Pháp giành độc lập. Chính cái CHIÊU BÀI “giải phóng dân tộc” dùng để ngụy trang cho việc thực hiện giai đoạn đầu (trong vài giai đọan để tiến tới cứu cánh xã hội cộng sản), giai đoạn mà trong sách vở của CS Quốc tế đã gọi là cuộc “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, do Stalin đề ra và ông Hồ tuyệt đối tuân theo, đã đem lại tính “chính thống” (giả mạo) cho ĐCSVN trong nhiều năm, qua sự tuyên truyền bóp méo sự thật của bộ máy tuyên truyền của ĐCSVN. Tôi nói là CHÍNH THỐNG GIẢ MẠO là bởi vì, ngay những ngày đầu tiên từ TQ trở về VN, và ẩn nấp trong hang Pắc Bó, ông Hồ đã lộ rõ mục đích và chí hướng CS của mình khi đặt tên núi Các Mác, suối Lê-Nin cho các vùng đất quanh nơi ông trú ẩn, dịch Lịch sử Đảng CS Liên Xô. Thực chất, ông là một người CS thuần thành, trung kiên, được CSQT 3 đào tạo để thi hành nhiệm vụ nhuộm đỏ toàn cõi Đông Dương. Ông Hồ, khi đứng đọc cái gọi là “tuyên ngôn độc lập” của VN ngày 2-9-1945, đã GIẢ MẠO đóng vai một người yêu nước, một ông đồ khả kính, đứng ra lãnh đạo toàn dân giành lại độc lập. Ông đã LỪA được hàng triệu người dân Việt thời đó, kể cả những vị đang giữ các chức vụ lớn trong chính phủ Trần Trọng Kim (như ông Hoàng Xuân Hãn chẳng hạn), vua Bảo Đại, v.v… và cả thế giới. Qua hành động lường gạt này, ông HCM đã giành được thế chính thống cho ĐCSVN, lôi kéo được rất nhiều người Việt tài năng và yêu nước đi theo ông, để qua vài loạt thanh trừng và “huấn nhục” đẫm máu, đã tạo ra một ĐCSVN ngày nay.
Triết gia Pháp Jean-Francois REVEL, trong bài Unesco và Hồ Chí Minh, đã viết như sau, mà tôi vô cùng tâm đắc: “Dựa vào lòng ước mơ tự do để nô lệ hóa dân chúng, đó là phương pháp của Hồ Chí Minh, được sao chép một cách rất trung thành theo phương pháp gian ác của Lênin. Nó đã tàn phá những nước khác như Cambodge, Ethiopie, Mozambique, Algérie, Cuba, Angola. Ðàng sau cuộc chiến tranh giải phóng, cuộc chiến đấu cho bình quyền, mà các đoàn quân kháng chiến tin là thật, được che giấu một âm mưu của các người lãnh đạo để chống lại tự do và nhân quyền.” (Jean-Francois REVEL)
Ngoài ra, ông Hồ còn thực hành một số sách lược mà những nhà lãnh đạo thời phong kiến Trung Hoa đã thực hiện. Thí dụ như sách lược “sát nhất nhân, vạn nhân cụ” (giết một người để cho vạn người sợ hãi) mà ông đã sử dụng khi ban lệnh xử tử hình Đại tá Trần Dụ Châu (mà tội lỗi thực ra không đáng phải bị tử hình) hay vụ lén lút im lặng để cho đội cải cách ruộng đất giết bà Nguyễn Thị Năm, một người Việt yêu nước và có công nuôi dưỡng các nhà lãnh đạo CS thời đó, sau đó lại đổ vấy cho các vị cố vấn TQ. Hai vụ này, theo tôi, thực chất là tạo ra không khí sợ hãi và tuân phục tuyệt đối các chính sách “cách mạng” của “kụ” Hồ và Đảng “ta” thời đó, để theo đà này mà thi hành cuộc chiến chống Pháp cũng như cuộc CCRĐ long trời lở đất mà “kụ” Hồ đã đưa ra, như là bước đầu sắt máu trên con đường tiến vào chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS và xây dựng Thiên đường CS trên cõi trần này.
“Có điều tôi vẫn thắc mắc nếu dân tộc Đức vô can thì tại sao họ (cũng giống Nhật) lại bị những hiệp ước hậu chiến khống chế nhiều thứ, trong đó có việc phát triển quân đội? Lực lượng đồng minh hơn nửa thế kỷ nay hình như vẫn trú đóng tại đấy, cố gắng làm nhẹ vấn đề bằng những thỏa thuận đãi bôi hoa mỹ?(Trương Thái Du)
Thưa ông Trương Thái Du,
Trên tinh thần trao đổi và học hỏi, tôi xin cố gắng giải đáp (một phần nào) điều thắc mắc của ông với vốn kiến thức ít ỏi của mình về Lịch sử của Thế giới như thế này:
1. Trước hết, chúng ta hãy xác định rõ ràng là, việc những nước đồng minh đưa ra “những hiệp ước hậu chiến khống chế nhiều thứ, trong đó có việc phát triển quân đội đối với nước Đức (CHLB Đức), không phải là hành động “trách” nhân dân Đức (với lý do là vì nhân dân Đức đã “đẻ” ra Adolf Hitler). Mà đó là những biện pháp mang tính chất “trừng phạt và ngăn ngừa” (chủ yếu về mặt quân sự) của phe Đồng minh đối với phe Phát-xít(phe bại trận và là “kẻ đầu têu” của cuộc chiến tranh) sau Đại chiến Thế giới II, với mục đích chính là ngăn chặn một thảm họa chiến tranh mới (Chiến tranh thế giới thứ III) có thể sẽ xảy ra đối với nhân loại.
2. Nếu xét trên khía cạnh “tầm ảnh hưởng”, thì việc tôi so sánh ông HCM với nhân vật Adolf Hitler, có thể nói là chưa “cân xứng” cho lắm. Bởi vì, dù sao ảnh hưởng của ông HCM chỉ mới ở “tầm quốc gia”. Và đây chính là cái “không may” cho dân tộc VN, đồng thời cũng là cái “may” cho ông Hồ và cái ĐCSVN của ông ta. Ý tôi muốn nói là, tại VN, ông Hồ cùng ĐCSVN, với những chiêu bài này nọ (ông TTD có thể liên hệ với bài mới nhất trên talawas về đề tài này để hiểu rõ thêm), cứ việc thoải mái “tác oai tác quái” trên đầu nhân dân VN mà không sợ thế giới “dòm ngó”, còn nhân dân VN thì cứ phải “cam chịu” mãi cái “thân phận hẩm hiu” của mình.
@Trích lời bác Trương Đức: “Tôi xin lấy ví dụ là, khi nghiên cứu về chủ nghĩa phát-xít Đức, người ta đã “chĩa mũi dùi”(nghiên cứu, tìm hiểu, nhận thức, đánh giá…) vào cá nhân Hitler, chứ không ai “trách” nhân dân Đức cả. Bởi vì, nhân dân Đức có thể đã “đẻ” ra Adolf Hitler đấy, nhưng họ không có trách nhiệm gì về việc cá nhân Hitler là một tên trùm phát-xít cả”.
Vâng, xin thỉnh giáo ý kiến của bác. Có điều tôi vẫn thắc mắc nếu dân tộc Đức vô can thì tại sao họ (cũng giống Nhật) lại bị những hiệp ước hậu chiến khống chế nhiều thứ, trong đó có việc phát triển quân đội? Lực lượng đồng minh hơn nửa thế kỷ nay hình như vẫn trú đóng tại đấy, cố gắng làm nhẹ vấn đề bằng những thỏa thuận đãi bôi hoa mỹ?
Thưa hai bác Phùng Tường Vân và Trương Đức,
Thưa ông Thanh Nguyễn,
Tôi rất cảm động khi nhận được sự quan tâm của quý vị. Tôi sẽ cố gắng suy nghĩ và hồi đáp để khỏi phụ … lời khen của bác Trương! Tuy nhiên, trong phạm vi cho phép, tôi sẽ đầu tư thêm thời gian cho ý kiến của mình để bớt đi ít nhiều lầm lỗi thô thiển do nóng vội.
Sự thực thì đúng là có những việc ta „nói không lại“ mà cũng có lúc ta „nói không cùng“.
Tôi rất vui khi thấy ông Thanh Nguyễn viết đã dễ đọc hơn; Cám ơn ông thật nhiều.
Xin cố gắng sớm tái ngộ.
Trân trọng.
Vỏ Và Ruột
…“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” là nội dung duy nhất người ta nhớ trong bản Tuyên ngôn độc lập – 1945, ngoài ra không gây ấn tượng gì khác.” (Thanh Nguyễn)
Rất đúng !
Nói gì đến “ấn tượng”, nó còn mách qué nữa là khác, nó tố cáo một bản chất mị dân bẩm sinh và chuyên nghiệp, nó là tiếng kêu của con bìm bịp dóng dả mê hoặc dân tộc ta đã trên nửa thế kỷ rồi: Giữa một không khí trang nghiêm đến thiêng liêng như vậy, hãnh diện nói với cả nhân loại rằng một quốc gia độc lập vừa khai sinh sau bao đêm dài tăm tối nô lệ, người ta chờ đợi một tiếng nói trang nghiêm có thể rung rung vì xúc động nhưng nhất định không phải là cái câu làm ra vẻ giản dị, gần gụi…nhưng quyết là không đúng chỗ, đúng lúc ấy. “Đồng bào nghe có rõ không” thực tế là đã có những người khác lo, những người đó ngoài các chuyên viên kỹ thuật còn có Nguyễn Hữu Đang (Trưởng ban Tổ Chức), Trần Huy Liệu (Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền), Trần Duy Hưng (Thị Trưởng Hà Nội)…Phải nói rạch ròi ra như thế để thấy rõ cái câu nói mà xưa nay bao kẻ vẫn xúm vào ca ngợi vẽ vời này nọ chẳng qua cũng chỉ là một trò show ngôn từ mị dân chẳng đáng nên nhắc lại, lại càng chẳng đáng dùng để đánh bóng lãnh tụ ở cái chỗ không thể nào đánh bóng được ấy !
“Chĩa mũi dùi vào cá nhân HCM, thiết nghĩ vô ích và lầm lạc… Nhân dân nào thì lãnh tụ đó, nhân dân đẻ ra lãnh tụ. Có trách thì hãy trách nhân dân, hay nói rộng hơn là văn hóa Á Đông mà VN đã ngụp lặn trong ấy hàng ngàn năm nay.”(Trương Thái Du)
@Hai bác Tôn Văn và Thanh Nguyễn thân mến,
Thực ra tôi đã viết vài PH ở phần (2) của bài chủ này. Tuy thấy chỉ có hai bác đang tranh luận ở đây, nhưng tôi cũng xin được góp vài lời với các bác:
1. Ý thứ nhất tôi xin nói là: tác giả Nguyễn Hoàng Văn đã hoàn thành một công việc đầy ý nghĩa là đã “mổ xẻ” cái “bộ óc” của ông Hồ Chí Minh ra một cách rất chi li cặn kẽ, có nghĩa là trong thời gian còn sống, ông Hồ đã suy nghĩ như thế nào, đã dùng những thủ đoạn chính trị gì, đã áp dụng những chính sách ngu dân như thế nào, để tạo ra được một “thế cầm quyền” vững chắc cho ĐCSVN từ bấy cho đến nay, thì bác NHV đã “chỉ rõ” cho chúng ta thấy. Hay nói một cách khác, là tác giả NHV đã mở ra cho những độc giả như tôi một cái nhìn tổng thể và khá chính xác về cái gọi là “chế độ thực dân” của cả ngoại xâm là thực dân Pháp và của nội xâm là ĐCSVN.
2. Ý thứ hai tôi muốn nói là: talawas là một diễn đàn học thuật mà ở đây, ai ai cũng có thể phát biểu ý kiến, miễn là người đó phải nghiêm túc và đứng đắn, và chủ yếu là nói “có lý”. Qua một thời gian dài, tôi thấy là talawas đã đăng tải tất cả những ý kiến “có lý” lên diễn đàn để cho chúng ta “rộng đường tranh luận”. Đây là một đặc điểm quí giá rất đáng trân trọng của talawas mà hiếm thấy ở những diễn đàn (blogs) học thuật khác. Và cũng do cái đặc điểm này mà những ý kiến của những người như ông TTD đã được đăng tải.
3. Và bây giờ, tôi xin có vài lời về cái ý kiến tôi trích trên đây của ông TTD: Việc “Chĩa mũi dùi vào cá nhân HCM”, theo tôi, không vô ích và không lầm lạc. Bởi vì, “Những lỗi lầm lớn chỉ do những con người “lớn” gây ra”!(Châm ngôn Hungary). Khi chúng ta “chĩa mũi dùi vào” con người “lớn” là cá nhân ông HCM, tức là chúng ta làm cái công việc tìm hiểu(nhận thức) về “những lỗi lầm lớn”(có rất nhiều trong lịch sử) do ông ấy(HCM) gây ra. Công việc này đã đạt được những kết quả nhất định và không lầm lạc, điều này không ai có thể phủ nhận được. Tôi xin lấy ví dụ là, khi nghiên cứu về chủ nghĩa phát-xít Đức, người ta đã “chĩa mũi dùi”(nghiên cứu, tìm hiểu, nhận thức, đánh giá…) vào cá nhân Hitler, chứ không ai “trách” nhân dân Đức cả. Bởi vì, nhân dân Đức có thể đã “đẻ” ra Adolf Hitler đấy, nhưng họ không có trách nhiệm gì về việc cá nhân Hitler là một tên trùm phát-xít cả. Việc này cũng giống như việc nhân dân Nga cũng không có lỗi gì về việc Xtalin đã gây ra bao tội ác cho chính dân tộc của mình cả.
4. Để minh họa những ý trên của tôi, tôi xin trích dẫn ra đây mấy câu thơ nhà văn Phạm Thị Hoài dịch từ Bertolt Brecht,
Sao chính phủ không cách chức nhân dân
Và bầu một nhân dân khác
Có phải tiện hơn không?
@Ông Tôn Văn:
1. Ông đã thừa nhận có mâu thuẫn trong lập luận, vậy là rất tốt. Bây giờ để giải quyết rốt ráo vấn đề này, tôi đặt câu hỏi:
– Nguyên nhân nào đã làm nên mâu thuẫn trong lập luận?
Trả lời:
+ Không biết cách lập luận.
+ Chọn tiền đề, dẫn chứng, chọn giả định, ví dụ… sai.
+ Không hiểu vấn đề khi tranh luận.
+ Cách nhìn sai.
+ Sơ khởi của hướng tranh luận sai ngay từ đầu.
+ Lập luận loạn xà ngầu, dân giang hồ mạng gọi là “múa”.
…
+ Còn nhiều (+) sai khác nữa.
Những cái (+) liệt kê ở trên nằm trong lãnh vực nhận thức phải không, thưa ông Tôn Văn?
Vì vậy, nhận thức mâu thuẫn là cách nói tương đối không nặng nề so với cái kết luận: nhận thức sai lầm.
2. Nêu ra cái sai rồi yêu cầu sửa đổi, và tìm/chỉ ra nguyên nhân của sự sai lầm để tránh hoặc không bị lập lại sai lầm. Vế thứ hai quan trọng và cần thiết hơn nhiều.
VD: Hồ Chí Minh và các học trò đảng viên ĐCSVN đã tạo ra nhiều sai lầm trong vấn đề điều hành đất nước. Sửa đổi bằng cách “xin lỗi, hoặc lấy khăn chấm lệ trước thiên hạ ” hoặc tuyên bố dẹp bỏ, không áp dụng, không copy những chính sách sai lầm của cộng sản từ Lê-nin, Mao.
Cái nào tốt hơn, thưa ông Tôn Văn?
3. Điều quý giá là tôi nhận ra ở đây, ít ra là cả tôi và ông đều quan tâm đến những vấn đề của Đất nước. (Tôn Văn)
Tôi xin kiếu cái “điều quý giá nhận ra” này. Ai cho mình quan trọng thì tự phong cho mình là quan trọng. “Bác yêu tôi thế, bằng mười hại tôi”. Tôi chỉ lên mạng diễn đàn, đọc bài, viết phản hồi. Hoàn toàn không có ý định kiếm chiếu để ngồi, hay tìm hội, lập đoàn, không tìm người cùng nhau xoa lưng hay í ới gọi nhau ném đá.
ĐẠI XÁ; ĐẠI XÁ!
Kính thưa quý vị,
Tội nghiệp thân tôi: Nghĩ được quả „Đì-Đọp“ thì nay được trời … lại quả!
Có mỗi một phần này mà để quý vị phải nghe „ …… nói đi nói lại ….“ thì cũng cảm thấy „ …; … xấu mặt“ ít nhiều!
Thôi thì: Lỗi tại tôi; Lỗi tại tôi!
Đại xá! Đại xá!
Thân mến.
@Tôn Văn:
Học theo một phương ngôn, có thể viết:
Nội dung phản hồi không quan trọng bằng hình thức phản hồi.
Tôi cũng có suy nghĩ thêm 1-2 ý nhưng xin để được suy nghĩ tiếp (Trích)
Nội dung không quan trọng vậy thì có cần phải suy nghĩ tiếp không hay là chỉ cần thưa quý vị là đủ???
“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” là nội dung duy nhất người ta nhớ trong bản Tuyên ngôn độc lập – 1945, ngoài ra không gây ấn tượng gì khác. Hồ Chí Minh quả thật là người có tài năng thưa gửi!
KHÁC BIỆT CÁCH NHÌN
Thưa ông Thanh Nguyễn,
Xin được trao đổi cùng ông một điểu tôi coi là quan trọng: CÁCH/ĐIỂM NHÌN
Không có cái gọi là
Xin từ từ giải quyết từng phần một:
– Thứ nhất là không thể có “nhận thức mâu thuẫn” mà chỉ có „mâu thuẫn trong lập luận“.
– Thứ hai là không có „bài viết CA NGỢI CÁ NHÂN tài năng Hồ Chí Minh http://www.talawas.org/?p=20686“ bởi vì người viết đó đã nói rõ là „nhận thức“, nghĩa là tìm cách lý giải, phân tích. Nhưng điều lý thú ở đây là: Tại sao bài viết đó được/bị coi là „CA NGỢI CÁ NHÂN tài năng Hồ Chí Minh“? – Áy là do nó bị nhấn trong môi trường nhị nguyên chỉ có thể đứng về một phía KHEN hoặc CHÊ; Không có chỗ đứng cho những nhận thức trung dung, khách quan, toàn cục.
Ông Thanh Nguyễn à,
Khi nào ta cùng trở lại điểm xuất phát như thế, ta sẽ nhìn thấy ít mâu thuẫn và bức xúc hơn. Điều quý giá là tôi nhận ra ở đây, ít ra là cả tôi và ông đều quan tâm đến những vấn đề của Đất nước.
Thân mến.
Thưa ông Thanh Nguyễn,
Đọc phản hồi thứ 2 thì tôi thấy đã có thể trao đổi tiếp cùng ông; Đó thực sự là niềm vui của tôi. Tôi hy vọng ông hiểu được lý do vì bài viết nào cũng hàm ẩn những ý „ngôn ngoại“ và người viết nào cũng có cái đích muốn nhắm tới.
Học theo một phương ngôn, có thể viết:
Nội dung phản hồi không quan trọng bằng hình thức phản hồi.
Tôi cũng có suy nghĩ thêm 1-2 ý nhưng xin để được suy nghĩ tiếp
Thân mến.
[PS.: Khi viết „Phản hồi cũng có độc giả“ thì không cần „và không thưa quý vị“ nữa.]
Trân trọng,
Tôn Văn
@Ông Tôn Văn và không thưa quý vị,
Bài chủ thì có độc giả, và phản hồi cũng có độc giả. Đó là lý do không chỉ nói khơi khơi cho được ý mình.
Xét thấy, những trích dẫn, bôi đậm, in đen trong phản hồi của ông Tôn Văn trong bài này, mà tôi dựa lên đó để phân tích, lập lại… không nhằm chĩa mũi dùi, mà góp phần chỉ ra nhận thức mâu thuẫn trong lập luận giữa bài viết CA NGỢI CÁ NHÂN tài năng Hồ Chí Minh http://www.talawas.org/?p=20686 và những phản hồi CHỐNG ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ của ông Tôn Văn, người phát hiện, phát kiến, phát minh, phát triển lý thuyết CƠ-LINH.
Xin mượn đoạn cuối trong phản biện (tôi cho là) đúng đắn của ông Tôn Văn để khẳng định lại ý kiến rằng: Phản biện không phải là chĩa mũi dùi mà góp phần động viên hành động; Cũng là sự đánh dấu và đóng góp cho sự lớn lên của tư duy cộng đồng mạng.
Thưa quý vị,
Tôi vừa đọc phản hồi của bạn Thanh Nguyễn và cũng có soạn được mấy câu; Nhưng nghĩ lại thì muốn thay đổi bằng những dòng sau:
Tôi quan niệm đọc một tác giả cần theo dõi đủ; ít ra là một bài hoàn chỉnh. Phần viết của tác giả Nguyễn Hoàng Văn gồm hai phần và khi đọc qua thì tôi thấy tác giả viết mạch lạc, dẫn tài liệu đủ và rõ. Chưa xét nội dung cũng thấy đó là cách làm việc nghiêm chỉnh.
Trong đoạn cuối của phần hai tôi thấy tác giả đề cập đến “hệ thống và tính chất của nó” (tôi đặt các chữ riêng ra; không phải trích dẫn) là điểm có thể được trao đổi tiếp. Tôi cũng đồng ý với một-hai ý kiến cho rằng “chĩa mũi dùi vào cá nhân là vô ích và lầm lạc”. Lý cớ cho việc đó là còn bị vướng mắc bởi định kiến (Vorurteil) nên còn bị cảm tính chi phối mà bỏ qua cái toàn cục là cái, theo cảm nhận của tôi, tác giả cũng có ý hướng tới.
Đối với những định kiến, tôi đã hơn một lần tỏ ý rằng mình cũng hiểu được…
Nhận thấy còn sự khác nhau về lối nhìn, tôi xin ngừng tham gia đề tài này.
Trân trọng,
Tôn Văn
@Tôn Văn:
Chống lại độc tài-toàn trị là chống lại ý thức hệ cộng sản và Nhận thức Hồ Chí Minh http://www.talawas.org/?p=20686 đấy ạ!
Sự lớn lên của tư duy cộng đồng chính là biết hành động chống lại sự độc quyền yêu nước của Đảng CSVN và phản kháng trước sự thống lĩnh tuyệt đối của cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh đầy “tài-năng-do-tự-nâng-nhờ-bốc”.
Do tính ỳ của tổ chức và tư duy, đảng Cộng sản Việt Nam đã biến thành lực lượng cai trị theo cung cách toàn trị và do đó đánh mất ý nghĩa và hình ảnh về một đảng cộng sản từng sát cánh cùng Nhân dân phấn đấu cho Độc lập, Tự do của Dân tộc. (Trích)
Có thể nói cái tính ỳ của tổ chức và tư duy, là SÂN và SI, còn cái cung cách toàn trị, là cái THAM của Đảng CSVN được không ông Văn nhể?
Học theo cái cung cách tỉ mỉ phân tích của ông Trương Đức để nói “đúng” những điều “cần thiết”.
Bản Tổng kết Đúng lúc và Cần thiết
Tôi thấy đây là bài luận văn đầy công phu tổng hợp, suy ngẫm và biên soạn. Chia sẻ của tôi là: Tư tưởng Cộng sản chủ nghĩa, dù được tự mệnh danh là „đỉnh cao trí tuệ“, vẫn chỉ là tiếp nối trong mạch toàn trị. Những người cộng sản Việt Nam, trong thời kỳ đầu đã sử dụng tốt công cụ này để tổ chức và tạo lực lượng; Kết hợp được với lòng yêu nước của Dân tộc Việt Nam, những người cộng sản đã thành công trong công cuộc lèo lái cuộc kháng chiến giải thực của Việt Nam. Thực tế là nhiều người đến với đảng Cộng sản Việt Nam với tâm tình yêu nước. Sau chiến tranh, đất nước về một mối, lịch sử sang trang. – Điều kiện đó tất yếu đòi hỏi sự biến đổi / biến chuyển bản chất và vai trò của tổ chức chính trị là đảng Cộng sản Việt Nam. Do tính ỳ của tổ chức và tư duy, đảng Cộng sản Việt Nam đã biến thành lực lượng cai trị theo cung cách toàn trị và do đó đánh mất ý nghĩa và hình ảnh về một đảng cộng sản từng sát cánh cùng Nhân dân phấn đấu cho Độc lập, Tự do của Dân tộc. Như vậy, cuộc đấu tranh cho tiến bộ ngày nay là cuộc đấu tranh của lý trí Nhân dân chống lại Độc tài, Toàn trị.
Bài viết như một tổng kết cần thiết, hợp thời điểm góp phần động viên hành động; Cũng là sự đánh dấu và đóng góp cho sự lớn lên của tư duy cộng đồng.