talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Thị Hoàng Bắc – Đến rồi đi

02/06/2010 | 12:00 chiều | 38 Comments

Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Category: Tổng hợp
Thẻ: >

Ba mươi tháng Tư Đen, tôi đi Hà Nội.

Ấy ấy, các bác chớ có mà nhanh nhẩu phản hồi đoảng là tớ đội mũ ngược bán nước cũ (miền Nam) lươn lẹo cầu vinh với nước mới (miền Bắc), thế ra vẫn là hai nước Việt sao, nhá, chẳng qua là nhà cháu có tí công tác tình cờ rơi vào hai tuần cuối tháng Tư và đầu tháng Năm năm nay ấy thôi…

Thế là cờ đỏ rợp trời Hà Nội, thế là tivi hát hùng ca giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước, nhưng bây giờ nghe không còn sợ giật mình như trước chẳng qua vì… vào thành ra cửa tây, xe ngựa chạy như bay…, nghe hát giải phóng không còn thấy sợ như ngày ấy khi chính quyền ta di tản hết rồi, thành phố lặng yên vắng ngắt, mọi người mọi nhà nằm yên thin thít nín thở như chết, ngoài đường không một bóng xe, bỗng thình lình từ cái loa nào đó vang lên tiếng hát… xác nhận thành phố đã có chủ mới!

Nhưng không sao, mấy loại đài đó là đài dớ dẩn, bấm bấm vài cái sang đài khác chập chờn thì cũng hip hop, hoà nhạc jazz, liên hoan chân dài có Jennifer Phạm nói tiếng Anh như gió, Mr. Đàm mùi mẫn nhạc sến sợ lên trời, lên trên trời… hai đứa hai nơi, nhưng em chỉ muốn làm người trần gian, Ngô Thanh Vân bay lượn Bước nhảy Hoàn vũ, và còn khối gì phim truyện đắc ý để xem. Tôi đi đâu cũng ba chân bốn cẳng về phòng xem tivi để luyện tiếng Việt cho đúng giọng Hà Nội.

Chả bù đêm hôm trước, ra khỏi sân bay Nội Bài, đang phấn khởi đắc ý, lần này mình đi Hà Nội chẳng khác gì Nhất Linh Đi Tây thuở ấy, chỉ không có được cái sướng theo bác Linh là được tha hồ đọc rạng ngày lên bãi hái chè oang oang ngoài phố mà chẳng làm Tây giật mình, mình thì ngược lại, được cái thú tha hồ nói giọng Bắc giả cầy với các cháu lái xe taxi:

“Cháu ơi, cầu này là cầu gì thế cháu?”

“Ủa, nghe cô lói giọng Hà Lội mà cô không phải là người Hà Lội à?”

Buôn dưa lê với cháu nái xe một hồi thì biết cháu quê ở Quảng Linh, trước nái xe tải, bây giờ thì chuyển qua nái taxi, ít tiền hơn nhưng đỡ mệt hơn, hai tư tuổi mà đã vợ hai con v.v… Sau hai tuần ở Hà Nội, Hạ Long, Ninh Bình, gặp gỡ, tán chuyện tầm phào với người này người kia thì thấy họ tỉnh bơ bờ dậu cho rằng Quảng Linh là Quảng Linh chứ làm gì có tỉnh nào tên là Quảng Ninh, Hạ Long thì tuy có cái bảng to đùng ra đấy nhưng vài người ngoan cường vẫn bảo là Hạ Nong.

Đi city tour thì tất nhiên phải có đi thăm Lăng Bác, vào thăm lăng bác âm u, các chị bộ đội dở mu ra chào, trời nắng, tôi không phải bộ đội nhưng chưa kịp dở nón nên bị anh cảnh vệ dữ dằn lừ mắt phất tay ra hiệu. Tôi thấy Bác nằm nghiêm trang, hồn hậu, đèn mờ nên mặt như mặt sáp, sau này vào xem ông Mao ở Trung Quốc cũng thấy không biết đâu là thật đâu là giả, nhưng nói chung, Bác Hồ mình đẹp trai hơn Bác Mao, theo tôi. Khu nhà ở của Bác nguy nga bát ngát, người tour guide nói tiếng Anh giới thiệu đây là nhà cũ của French Ambassador, một tên Tây trong đoàn xì xào, dạo đó Việt Nam là thuộc địa của Pháp thì làm sao có đại sứ?

Cụ già xứ Nghệ sống thanh đạm và có vẻ lặng lẽ, tủ sách nhỏ, vài quyển sách cũ đã tróc gáy, sờn bìa, thậm chí mất cả bìa, giấy ố vàng rất giống mấy quyển sách của ông già tôi khi ông về hưu; vườn hoa, ao cá, nhà sàn, khu vườn mênh mông, nếu hồi ký sách vở của vài nhân vật thân cận Bác nói đúng thì những năm cuối đời không được các đồng chí cho tham gia việc nước, suốt ngày cứ ra vào vỗ tay nói chuyện với cá không biết nói chỉ biết đớp mồi, ông cụ sống cô tịch lặng lẽ mà lại không được la đà tiêu dao thoải mái rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp, gót sen theo đủng đỉnh một đôi dì, vừa hé ra một dì Xuân gì đấy đã bị Bộ Chính trị tàn sát ngay, tôi thấy tội nghiệp Bác, sống thế có khác gì Bác đang bị cầm tù… Tuổi già của mọi người, dù là của một người thông minh kiệt xuất như ông cũng không hơn gì bọn dân ngu như tôi, rồi mình sẽ có chuyện để tự an ủi nếu lỡ có buồn khi về hưu bị ngồi một mình…

Một người phụ nữ bán hàng rong

Văn Miếu

Hà Nội ba mươi sáu phố phường không lớn, không trẻ trung, nhà cao cửa rộng hiện đại như Sài Gòn nhưng rất giống Rome, Bắc Kinh, Paris ở vẻ cổ kính đan xen với hiện đại. Chùa Trấn Bắc, trấn bắc hành cung cảnh dãi dầu, Ô Cầu Giấy Henri Rivière bị Cờ Đen giết, người anh hùng áo vải nửa đêm trừ tịch định ngày xuất chinh kéo một mạch quân ra Bắc rượt Tôn sĩ Nghị chạy te, bỏ mặc lính hắn nghẽn cầu chết chôn thành Gò Đống Đa, Quốc Tử Giám, một thời sĩ tử ưu tú khăn xếp áo the trang nghiêm đến nghe giọng giảng bài sang sảng của các bậc danh nho. Nói về cái giọng danh nho sang sảng một thời của Hà Nội chắc phải nhắc đến bác Bô-xít Nguyễn Huệ Chi thôi. Bác gầy, tầm thước, tôi đã gặp mấy lần ở Mỹ, gặp lại bác vẫn vậy, hồn nhiên, thư sinh, và hùng hồn sang sảng, nói hồn nhiên vì khi nghe chúng tôi đến, bác Chi chơi nguyên một bộ pyjama, một ống quần xăng lên, một ống bỏ xuống, ra đến tận đầu ngõ đứng chờ (nhà của bác Chi và bác Dương Tường đều là những căn nhà đẹp và đều ở trong ngõ,) vào nhà, sẵn gặp một đám khách đang sẵn sàng hóng chuyện, bác sang sảng hùng hồn kể một lèo chuyện bị công an lôi lên làm việc vì cái website bauxite, nhưng lại được công an tặng rượu quý sau đó; đến khi chúng tôi đề nghị chụp ảnh trong nhà thì bác đi thay một bộ đồ áo sơ mi và quần tây mới toanh cáo cạnh, còn nguyên cả giấy nhãn hiệu vướng ở cổ lòng thòng. Tôi nghe bác gọi vợ bằng tên: “này Hương (?), vào chụp ảnh đi!” tôi nghe không rõ lắm tên bác gái, nhưng cách xưng hô của một cặp vợ chồng lớn tuổi đã từng là mối tình sinh viên nghe vẫn nhẹ nhàng trong sáng và… hấp dẫn như của một cặp tình nhân trẻ. Ra đến cửa tôi được Nguyễn Thị Minh Hà ở Nhà xuất bản Phụ Nữ cho biết thêm thông tin, bác gái là Nguyễn Kim Hưng cũng là một chuyên gia Hán-Nôm của Hà Nội.

Hai gian nhà là thư viện tư gia Hán-Nôm của Nguyễn Huệ Chi thì khỏi nói, mai sau dầu có bao giờ mong sẽ được bảo quản tốt hơn tủ sách của thầy Vương Hồng Sển hiện nay ở miền Nam.

Nói về bảo quản di tích ngàn năm Thăng Long thì chỉ có Lăng Bác là vào hạng nhất, nhưng xác của Bác thì nghe đâu tháng 10 này lại phải đem đi Nga để bảo quản lại. Ở khu triển lãm các dạng nhà cổ, nhà sàn dân tộc thì nhân viên tỉnh bơ nấu ăn thật ngay trong bếp thiết kế giả, vài người lăn kềnh ra soải tay soải chân nằm ngủ tự nhiên trên sạp tre, mặc kệ du khách tò mò xem xét ngắm nghía, cứ ngỡ họ làm mẫu minh hoạ người Việt cổ, nhưng ngó lại không phải vì họ đang ăn mặc… giống như tôi, ở Quốc Tử Giám, tôi thấy các cánh cửa gỗ bị long ốc ra, những con ốc cũng bằng gỗ của một thời văng đâu mất tiêu, cánh cửa bị dẹp qua bên xếp xó bụi bám để dành chỗ bày hàng bán các món rùa giả, bia tiến sĩ bằng plastic… cho khách du lịch. Cũng ở đó, không ai quắc mắt tôi phải dở nón ra khi vào nơi trang nghiêm, nên cha mẹ các em nhỏ tha hồ dạy con (làm cái phép) đến sờ đầu, cỡi cổ rùa đá để chụp ảnh (sau này bất chiến tự nhiên thành, học lai rai cũng có tiến sĩ hay phó tiến sĩ?) Nhiều bia tiến sĩ đã mờ chữ đi một nửa, có tấm mòn gần hết, trong khi sách của cụ Hồ có long gáy hay mất bìa cũng vẫn được an toàn nằm kín trong tủ khoá chẳng làm sao mà đụng đến được!

Tôi đến Hà Nội cũng hơi… trật đường rầy. Xem thời tiết trước ở internet thì thấy rất nóng, chỉ toàn mang áo quần ngắn tay ngắn chân, ai ngờ đến nơi lại rét nàng Bân thế là tha hồ run cầm cập. Nhưng sau đó ghé chơi thăm công ty của Nguyễn Thuỵ Kha và Trần Thị Trường được mời ăn bánh trôi thân em vừa trắng lại vừa tròn mà Trần Thị Trường nói là nhân dịp tết Hàn thực là tết ăn đồ lạnh, tại trời nóng quá phải ăn đồ lạnh cho mát hay tại để nhớ ông Khuất Nguyên? Tôi đem ý này hỏi một cháu nái xe khác, cháu nói, là tết thì ăn tết thế thôi, chả biết ông nào với bà nào, và gọi điện nhắc vợ ngay “em ơi, hôm nay tết hàn thực đấy nhé!” Ở miền Nam tôi chưa hề ăn tết này nên thấy người Hà Nội rất cổ truyền. Cũng phải thôi, sống giữa một miền núi non đan xen quá khứ và hiện tại gần gũi chen lẫn gắn bó như thế, con người hồn nhiên sống với lịch sử và Hà Nội tương tự với Huế, có thể bảo thủ một chút, nhưng phong cách bảo vệ cổ truyền hơn hẳn những miền khác của đất nước, trong một ý nghĩa tích cực.

Ba má tôi từ miền Trung vào Nam lập nghiệp đã lâu, sinh đẻ anh chị em chúng tôi ở Sài Gòn, chúng tôi đi học ở Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang, lớn lên tôi lại có việc làm và gia đình ở Nha Trang, những di tích lịch sử của tôi cũ lắm là Lăng Ông Lê văn Duyệt, sau đó là mấy cái tháp Chàm, tôi đi qua đi lại chỉ thấy hơi mặc cảm chút xíu là mình chiếm nước người ta lại còn diệt chủng họ nữa thì chẳng có gì đáng tự hào, Lăng Ông thì tôi buồn vì cách xử sự tàn ác với nhân tài của một ông vua xứ Huế của mẹ tôi.

Nhưng đến Hà Nội thì tôi thấy cái gì là cội nguồn, cái gì là lịch sử, và cái gì là các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải ra công giữ nước. Khi lên biên giới đến xem Hữu Nghị Quan thấy cột mốc biên giới quả có bị lùi lại thật, quả các đồng chí công an Trung Quốc có dương oai diệu võ thật, người nói câu nói trên dù có là ai đi nữa cũng không thể bị/được gọi bằng những từ xỏ xiên như già hồ, cáo hồ, giặc hồ, con hoang của Hồ Sĩ Tạo… như trưa nay khi về lại Mỹ, đi ăn trưa với vài người bạn tôi nhặt được trong mấy tờ báo tiếng Việt địa phương ở đây sử dụng, cũng vẫn cái luận đề sát cộng, diệt cộng năm mươi năm trước sặc mùi máu, mà máu của ai đây mới được chứ, máu đã đổ thành sông thành biển, tám mươi tám triệu người trong nước không ai đọc, không ai viết, không ai suy nghĩ, không ai chia sẻ những gì như ghetto người Việt ở đây viết dai, nói dài, đọc dở. Chúng ta đang tự đóng cửa rút cầu, tự cô lập, tự xa lạ mình với tổ quốc, đất nước gốc, với đồng bào ta để làm gì vậy?

Tôi không ngạc nhiên khi nghe nói đến vô số lực lượng đối lập võ mồm mà các bậc thân hào nhân sĩ người Việt nước ngoài lớn tiếng kêu gọi, ở nước ngoài quý ông bà anh chị muốn nói gì thì nói, công an có sờ gáy bắt bớ đụng đến cọng lông chân nào của anh chị đâu, nói cho vui, cho nổi bật, để xả stress, để tự sướng thì dễ, nhưng nói và được lắng nghe thì khó lắm, quý ông Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hữu Liêm, Đỗ Kh., Nguyễn-Khoa Thái Anh… lâu lâu cũng vì mấy cái vụ này mà bị phản hồi lăng mạ tơi bời. Trong nước nghe các anh chị Nguyễn Huệ Chi, Đà Linh, Trần Thị Trường kể chuyện chạm trần mà không vượt ngưỡng, chuyện công an văn hoá làm việc mới là ghê. Lần tổ chức ra mắt quyển Thơ đến từ đâu đã phải làm như đánh du kích không bằng, và banderole giới thiệu đã phải thay đi đổi lại mấy lần để… thoát. Tuy nhiên, so với cái lần đã lâu rồi, thuở nhà thơ Đỗ Kh. cầm bản thảo tập hợp những truyện ngắn trong và ngoài nước do nhóm Hợp Lưu Nhật Tiến, Khánh Trường chủ trương đưa về cho nhà văn Hoàng Lại Giang in và đã không thành, Đỗ Kh. thì lại bị công an theo sát nút, coi như Nguyễn Đức Tùng và số phận Thơ đến từ đâu lần này gặp may mắn hơn, để may ra Trần Thị Truờng lấy lại vốn chút chút vì đã chơi ngông tung tiền ra xuất bản. Ở Việt Nam, chưa có nhà xuất bản tư nhân, muốn in sách báo phải hợp đồng với nhà xuất bản của nhà nước, và trường hợp Thơ đến từ đâu là hợp đồng của công ty Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Thị Truòng ký với nhà xuất bản Lao Động. Nhưng đạt được hợp đồng hay chịu ký hợp đồng in sách tư nhân lại là một chuyện khá gay go, bây giờ tôi mới hiểu tại sao ông Đặng Tiến bảo phải đánh giá cao nhà xuất bản Lao Động trong trường hợp này.

Tác giả (trái) cùng dịch giả Đoàn Tử Huyến, ba người bạn Mỹ và nhà văn Đà Linh tại Nhà sách Đông-Tây

Nhưng tiệm sách tư nhân thì khá lớn và khang trang mà lại có phong thái ấm cúng, sang trọng và tất nhiên có cá tính riêng tây hơn những hiệu sách Tràng Thi hay Fahasa của nhà nước. Tôi tình cờ có dịp đến dự buổi ra mắt sách của nhà văn trẻ Linh Lê ở hiệu sách Đông Tây của dịch giả Đoàn Tử Huyến, thấy đông đảo độc giả đến dự, mua sách, ký sách, trao đổi, chuyện trò rôm rả mà thèm. Vì là nơi hội tụ nhân sĩ Bắc nên đã được gặp và nghe các bài nói chuyện và giới thiệu về sách vở quan trọng của Phạm Xuân Nguyên, Lê Anh Hoài, gặp mặt Đà Linh, Đoàn Tử Huyến, Trần Thị Trường và diễn viên Xuân Tóc Đỏ một thời và bây giờ anh đang là đạo diễn một số phim tài liệu và phim truyền hình…

Tháng Năm, Hà Nội lại nóng như điên. Tôi ra Hồ Gươm ngồi hóng mát một mình, liễu rũ la đà, nước đậm rong rêu, chờ mãi chả thấy hậu duệ rùa nào của cụ-rùa-ngậm-gươm năm xưa xuất hiện, trai thanh gái tú Hà Nội bây giờ tây hơn Tây cặp kè khoác vai ôm ấp thoải mái nơi ghế đá, một bác gái ngồi cạnh, áo cánh trắng, quần đen ống rộng, và ngắn như thời bao cấp thiếu vải, tay phe phẩy cái quạt giấy màu tím, tôi buôn dưa lê với bác đỡ buồn.

Tôi quên rồi, nguời Việt mình hay hỏi tuổi người khác thẳng tưng, bác hỏi tôi:

“Năm nay bác bao tuổi rồi?”

Tôi giật mình nhưng lanh miệng phịa:

“Tôi tuổi Dần.”

Bác gái lẩm nhẩm tính, mới biết bác khoảng sáu mươi, trẻ tuổi hơn tôi. Trời ạ, mà tôi lại quần jean áo sơ mi ngắn tay sọc kẻ. Thấy một cái quạt đan bằng lát rất đẹp tôi mua chơi nhưng rồi chỉ vứt ở khách sạn không dám phe phẩy mang theo đi ngoài đường sợ thấy mình giống ông địa, bác gái nói, bác nói giọng Bắc lơ lớ giọng Nam nhỉ, tôi bảo vâng, tôi ở trong Nam ra chơi, bác bảo giời nóng thế này hiệu tôi bán chăn đệm ga nên cũng ế ẩm lắm nên mới ra đây ngồi chơi một chốc; một chị bán quà rong mời chúng tôi mua quả dứa, hồng xiêmna mà ăn cho mát; chị khác đi buôn đồ đồng nát ghé lại góp chuyện thì lại khuyên tôi nên ăn thử quả mã tử mát hơn. Nếu tôi phiên dịch các câu chuyện này ra tiếng Nam thì phải nói thế này: trời nóng như zầy, tiệm bán mền gối khăn giường của tui ai mà mua, mời hai cô mua trái thơm, lồng mứctrái mảng cầu, còn chị bán ve chai thì khuyên nên ăn củ năng cho mát người hơn.

Và thế nghĩa rằng thì là… tôi đang hiểu và biết nói được đến… hai thứ tiếng Việt! Ba mẹ tôi là người Trung, tất nhiên tôi sẽ dễ dàng hạ sang tone nặng trịch, rứa là tui nọi được tợi ba thự tiệng Việt rồi đó nghẹ. Thời buổi toàn cầu hoá, khuynh hướng nổi bật hiện nay là mỗi người nên tự trang bị cho mình ít nhất là hai sinh ngữ, bilingual, cho nó văn minh văn hoá, tôi thấy yên chí lớn, vì với khả năng nghe và nói tiếng Việt vừa rồi, tôi đã là multilingual rồi còn gì.

Khoẻ re, khoẻ re… như con bò kéo xe, người lần đầu đến rồi đi từ Hà Hà, Nội Nội!

Virginia, tháng 5/ 2010

(Ảnh trong bài của tác giả)

© 2010 Nguyễn Thị Hoàng Bắc

© 2010 talawas

Bình luận

38 Comments (bài “Nguyễn Thị Hoàng Bắc – Đến rồi đi”)

  1. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Bạn Hoàng Trường Sa thân mến ơi,

    Hi hi.
    Xin đa tạ.
    Và xin đáp lễ tác giả bài lục bát rất “xịn”
    mấy ca từ rất “xỉn” này.
    Hu hu.

    Về đây xem phố Phái và hoa sen
    Về đây ngắm cờ đỏ và răng đen
    Về thăm nhé, cho vơi bớt muộn phiền
    Ôi lãng du hãy về… tiêu tiền!

    Về đây nghe gái gú gọi vô hang
    Về đây nếm lạc thú và truy hoan
    Về đây có bia ôm với thịt người
    Ôi lãng du hãy về… vui cười!

    Không thấy nghèo ngoài hiên mưa?
    Và đâu trẻ thơ vui cùng mùa?
    Một mùa xuân cũ, mắt êm nắng… vàng xưa!

  2. Trần Văn Tích viết:

    Kính thưa ông Lê Quốc Trinh,
    Tham gia vào chương trình của William Joiner Center nhằm cấp lại căn cước và/hoặc vẽ lại diện mạo cho người tỵ nạn Việt Nam có hai vị từ trong nước sang Hoa Kỳ mấy tháng là ông Hoàng Ngọc Hiến và ông Nguyễn Huệ Chi. Tôi chỉ biết đến hai nhân vật này qua thư từ, báo chí, sách mạng (sách mạng = sách + internet). Cho nên tôi không rõ ông Huệ Chi WJC và ông Huệ Chi bôxít có phải là một hay không nhưng theo suy đoán chủ quan thì có đến 95% chắc là một.
    Nhân đây xin được thưa thêm cùng ông là trên talawas bộ cũ, tôi cũng đã có dịp trực tiếp trao đổi về văn học cổ với ông Nguyễn Huệ Chi và đã có hân hạnh được ông Nguyễn trực tiếp ngỏ lời cám ơn.
    Tôi xin cám ơn sự lưu tâm của ông và hy vọng bài “Đọc, viết và hỏi theo chỉ đạo” sẽ không làm phí thì giờ quí báu của ông.
    Trân trọng, quí mến,
    Trần Văn Tích

  3. noileo viết:

    “Chúng ta đang tự đóng cửa rút cầu, tự cô lập, tự xa lạ mình với tổ quốc, đất nước gốc, với đồng bào ta để làm gì vậy?” ( Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bài chủ)

    Mong bà, là người viết văn, hãy hiểu rõ, người ta chỉ xa lánh cộng sản, chứ không xa lánh tổ quốc đồng bào, vì những hành vi cộng sản này:

    “Ở Việt Nam, chưa có nhà xuất bản tư nhân, muốn in sách báo phải hợp đồng với nhà xuất bản của nhà nước, và trường hợp Thơ đến từ đâu là hợp đồng của công ty Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Thị Truòng ký với nhà xuất bản Lao Động. Nhưng đạt được hợp đồng hay chịu ký hợp đồng in sách tư nhân lại là một chuyện khá gay go…” (Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bài chủ)

  4. Hoàng Trường Sa viết:

    Nhân tiện, kính mời bác Tích và quý vị đọc thêm bài dưới đây của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi:

    Ngẫm nghĩ về ba tư cách văn hóa của tôi trong những ngày làm việc ở William Joiner Center (Nguyễn Huệ Chi)

  5. Hoàng Trường Sa viết:

    Bác Trần Văn Tích thân mến,

    Trước hết xin cám ơn bác Trần Văn Tích về cái link liên hệ tới vụ WJC, và nhất là bài viết Đọc, viết và hỏi theo chỉ đạo của bác Tích.

    Tôi rất tâm đắc với đoạn sau đây của bác Tích khi bác phê bình công trình của hai vị Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi trong dự án “phác họa diện mạo người Việt hải ngoại” gây tranh cãi do WJC bảo trợ:
    “Tôi hy vọng rằng không phải tất cả những người nhận tài trợ từ Rockefeller Foundation qua trung gian Kevin Bowen đều hành động như một vài người thuộc nhúm “bạn“ của Trần Văn Thủy và tôi mong rằng họ sẽ viết về người tỵ nạn chúng ta, về nền văn chương lưu vong một cách công bình liêm chính.
    Vì cho dù là ở hải ngoại hay ở quốc nội, cái lối đọc, lối viết, lối hỏi theo chỉ đạo cá nhân hay theo chỉ huy độc đảng, chung qui cũng chỉ là dạng thức lợi dụng văn học một cách bất lương hạ cấp.
    Đường lối văn hoá văn học cộng sản dựa trên cơ sở bất di dịch nhà nước nắm quyền thao túng, bắt ép các nhà sáng tác phải gia nhập những tổ chức hiệp hội chuyên nghiệp ngoại vi thuộc biên chế, theo một quan điểm cực quyền. Chiến lược đàn áp dựa một mặt vào biện pháp kiểm duyệt; mặt khác, lên án dữ dội mọi dạng thức văn hoá văn học khác, bị coi là không phù hợp, thậm chí phản động. Cho nên nhà nước cộng sản thường xuyên thiêu hủy sách báo và đả phá những nền văn học khác chính kiến qua hình thức triển lãm (ví dụ “triển lãm tội ác Mỹ ngụy“ trong khuôn viên Trường Đại học Y Dược cũ ở đường Trần Quí Cáp, Sài gòn). Vì thế các văn nghệ sĩ không chấp nhận cộng sản chỉ còn đường di tản tỵ nạn, giống như dưới chế độ quốc xã, nước Đức đã trở thành một hoang mạc về văn hoá sau giai đoạn phát triển sôi động của Cộng hoà Weimar trong khi ở Việt nam, nền văn hoá văn học của toàn thể quốc gia mang hình chữ S chỉ còn là một bãi cỏ khô cằn mọc rặt một thứ cỏ cú, sau thời kỳ sáng tác đa dạng rực rỡ dưới chính thể Việt nam Cộng hoà.
    Văn hoá cộng sản mặt khác luôn luôn đẩy mạnh những hình thức và phổ biến những sản phẩm văn hoá đặc thù để rộng rãi phục vụ tuyên truyền. Được chú trọng hơn cả là các phương tiện truyền thông nhưng ngành điện ảnh cũng là con cưng của cộng sản (chế độ phát xít cũng hành động tương tự, đến nỗi một nghệ sĩ tài năng như Fritz Lang tuy là người Do thái, vẫn được Goebbels cố giữ lại ở Đức). Điện ảnh được trợ cấp hậu hĩnh và có vai trò chủ yếu là tuyên truyền. Các quan niệm về văn hoá của chủ nghĩa cộng sản đưa đến khủng hoảng trong sáng tác và các giá trị nhân văn thì hoàn toàn suy tàn, thậm chí bị triệt tiêu; mặc dầu cộng sản ngụy tạo một cách xảo trá một thứ chủ nghĩa nhân bản bằng huyền thoại giả dối và lừa đảo đểu cáng (ví dụ “con người là vốn quí“, hoặc “đảng trước sau như một luôn luôn đối xử nhân đạo với ngụy quân ngụy quyền qua chế độ học tập cải tạo“ v.v..). Những quan niệm này dựa trên những tiêu chuẩn về tư tưởng và mỹ học theo thị hiếu của một tầng lớp cán bộ lãnh đạo văn hoá tàn bạo về bản chất, lưu manh về tư cách và cuồng mộng về tin tưởng mà Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh v.v..là những đại biểu. Cho nên trong các chế độ phát xít, quốc xã, cộng sản, văn hoá văn học có mang dáng dấp đa dạng đi nữa thì dù đi theo hệ tư tưởng nào, khuynh hướng cực quyền độc tôn vẫn dẫn tới những kết quả giống nhau : bộ máy kiểm duyệt và xu hướng khoa trương.
    Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi, Trần Văn Thủy đã sống trong cái môi trường vừa được mô tả; cho nên họ đương nhiên bộc lộ phản xạ mang tính tập nhiễm xã hội; như Phong Lê, cán bộ nghiên cứu “văn học trên lập trường và phương pháp luận mác-xít“ đã mô tả : “Tôi không có gì để khác họ (…) Nói cách khác, chúng tôi cùng một đồng phục, cùng đi trên một đại lộ, cùng một hướng phấn đấu (…) cho đạt một cái chuẩn chung của nghề nghiệp trước các yêu cầu, vừa là của công chúng, vừa là của các cấp lãnh đạo“”
    (Trần Văn Tích)

    Cá nhân tôi từng theo dõi vụ WJC và có nhận định giống như bác Tích, nghĩa là tôi KHÔNG TIN những vị được đào tạo từ miền Bắc có đủ dũng cảm,tư cách và sự công bằng, sòng phẳng để hoàn toàn khách quan trong việc tìm hiểu và đánh giá Cộng đồng người Việt hải ngoại (trong đó có tôi). Việc phác họa “diện mạo của người Việt hải ngoại” mà không do chính người Việt hải ngoại thực hành, nhưng lại do hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi từ cái nước CHXHCN VN thực hiện, theo tôi, chỉ là một công việc hoàn toàn vô bổ, thiếu sót, thiên vị và mang nặng tính tuyên truyền hơn là một công trình học thuật, văn hóa đích thực. Tôi phản đối mạnh mẽ công việc này và tách biệt rành rọt giữa một Nguyễn Huệ Chi trong phong trào Bauxite Vietnam (mà tôi ủng hộ) và một Nguyễn Huệ Chi trong dự án WJC này (mà tôi phản đối kịch liệt).

  6. Hoàng Trường Sa viết:

    ĐẾN RỒI ĐI

    Đến rồi sao lại vội đi
    Sao không ở lại nơi ni vậy hè?
    Nơi ni có đủ bạn bè
    Đầy tình đồng chí, thắm tình quê hương
    Về chi xứ Mỹ tha phương
    Nơi đầy “phản động” có ai thương mình
    Chi bằng ở lại Ba Đình
    Ngày ngày ngắm Bác, khen thầm đẹp trai.

  7. Hoàng Trường Sa viết:

    Bạn Nguyễn Đăng Thường thân mến,

    Bạn Nguyễn Đăng Thường sửa lời bài hát “Trở về Mái Nhà Xưa” (do Phạm Duy “chuyển ngữ” nhạc phẩm “Come Back to Sorrento”, của Ernesto Di Curtis) trong phản hồi này hay quá và hợp tình hợp cảnh quá. Tôi xin cúi đầu bội phục! Xin được chia sẻ với tâm tư của bạn. Cám ơn bạn rất nhiều.

    Thân ái.

  8. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Về đây khi mái tóc còn đen đen
    Về đây có nhà mát và hoa sen
    Về đây nhé, viếng thăm, với chụp hình
    Ôi lãng du nay về… Ba Đình!

    Về đây yêu Đảng, Bác, và Quê Hương
    Về đây xóa thù cũ ngày tha phương
    Về đây ngắm Thăng Long thắm Cờ Hồng
    Ôi lãng du quay về… Thiên Đường!

  9. Hoà Nguyễn viết:

    Xin nói thêm vế chuyện từ với tiếng.
    Ông Phùng Tường Vân viết :

    “Này con học lấy làm lòng”
    Muốn “chảnh” về đất Thăng Long chụp hình

    Với tôi, chữ “chảnh ” ở trên dùng quá hay, và dù hiểu lơ mơ về từ ngữ này, còn mới với người ngoài nước, tôi nghĩ là dùng rất “đắc địa” ở đây. Thơ hay rất cần những từ khó thay thế được, và dùng đúng chỗ.

    Thật ra, tôi đọc thấy “chảnh” chỉ từ vài năm trước ở một diễn đàn khác, và cho tới bây giờ vẫn chưa có dịp nghe ai nói. Mặc dù là tiếng mới hoàn toàn đối với tôi, nhưng vì ngôn ngữ Việt đã thấm sâu vào tim óc, tôi nắm ngay được ý nghĩa, ngay khi vừa đọc, hay ít ra cũng hiểu nghĩa được hơn 50%. Xin thêm, người dùng từ này lần đó là một cô lớn lên ở Huế phê bình một người khác có lối viết mà lúc đó tôi nghĩ và nếu cần nói ra thì cho là hơi kênh kiệu. Trong bài “Đến rồi đi” tôi đọc thấy có nhiều nét “chảnh” lắm (không phải ở tấm ảnh), nhưng khó nói ở chỗ nào, vì thật ra “chảnh” còn có nghĩa không rõ với tôi. Nên xin nói qua vài chuyện khác.

    Bà Hoàng Bắc cười cợt về cách phát âm của người khác hơi…quá nhiều . Không biết bao nhiêu lần cách nói “l” thành “n” được nhắc tới. Đó có phải là điều làm “tức cười” hoài không, nhưng cũng không nên cho là dấu chỉ của sự thua kém, hay ít học, quê mùa, khi tiếng nói được nghe và học “từ khi mới ra đời” (theo Phạm Duy) tại những vùng mà bà mẹ lớn lên và mọi người chung quanh đều nói như thế. Nhưng nhắc đi nhắc lại hoài phát âm không chuẩn dễ bị hiểu là chế nhạo, nếu không gây ấn tượng (sai lạc) ngày nay người Hà Nội đều nóí “ngọng” như thế. Tôi cũng từng viết trong một góp ý cách phát âm “ă” của người vùng Quảng Nam để dẫn chứng gì đó, nhưng vẫn sợ bị cho là (có đầu óc) phân biệt vùng, nên viết thêm một lời rào nhỏ tiếp theo. Nhưng bà HB cười cợt về cách người khác nói tiếng Việt mổi khi có dịp, trong khi ở Mỹ ai củng biết phát âm tiếng Anh ở nhiều vùng cũng khác nhau. Trong các bài phỏng vấn, nhà văn HB thường nhại tiếng Nam , khi nói “ziếc zăng”, “nhà thơ nhà zăng”, như là cách nói duyên dáng, có chút làm điệu. Ngay trong bài này cũng thấy cách nhại quen thuộc đó: ” trời nóng như zầy”. Nhưng tôi lại thấy có chút gì “pha tiếng” trong kiểu nhại tiếng trên, vì người miến Nam không phát âm “zăng” hay “zầy” bao giờ. Trong bài viết này, mấy lần bà HB cho mình nói “giọng Bắc giả cầy ” hay ghi lại lời khen “nghe cô lói giọng Hà Lội mà cô không phải là người Hà Lội à”, tôi nghĩ như bà HB hơi muốn khoe mình nói được giọng Bắc (qua cái tên HB), và còn nói rất gần giọng Hà Nội thanh lịch. Trong khi qua hai bài phỏng vấn đã dẫn, tôi nhớ bà HB nói bố bà quê ở Quảng Bình (?), ra Hà Nội học ngành hỏa xa, nhưng sống trong Nam và Trung từ trước 1945, và mẹ bà gốc Huế (hay có thể là Quảng Trị ?), còn bà sinh ở Sài Gòn (hay Đà Lạt), và lớn lên ở Nha Trang, vậy tại sao khi ra Hà Nội lần đầu cần phải nói cái giọng Bắc (giả cầy) như thế, để được hiểu lầm là giọng Hà Nội chính tông, thờí trước 1954. Tôi là người miền Nam, nhưng ngày xưa có học các thầy dạy như Lê Xuân Khoa, Phạm Việt Tuyền, Thanh Lãng, Nguyễn Đình Hòa…, tuy tôi không hề tìm đọc tiểu sử các giáo sư đó, nhưng tôi nghĩ chỉ hai ông LXK và NĐH là nói giọng Hà Nội, còn hai vị kia dù nóí giọng Bắc “rặc ròng”, nhưng chắc chắn không phải giọng HN.

    Bà HB cùng thích đưa tên nhiều người quen biết vào trong bài viết ngắn, dù có liên quan gì với câu chuyện đang nói tới hay không, chỉ xin kể ba người ngoài này, như Nhật Tiến, Khánh Trường, Đặng Tiến, vẻ như coi là “đồng nghiệp”, hay bạn văn, nhưng tôi thấy lạ, khi gọi là thầy mà viết tên thầy sai trong câu ” tủ sách của thầy Vương Hồng Sển”.

    Xin bàn chút chuyện dịch thơ Đường mà tôi cũng thích đọc. Tôi nghĩ câu đầu bài thơ “Bạc Tần Hoài” của Đỗ Mục rất khó dịch:
    Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa

    Chữ thật cô đọng và hình ảnh đẹp quá, khó dịch ra cho đủ ý mà hay (lại phài có âm điệu, giữ vận cho các câu sau). Cũng nhân đây, về thơ Hán dịch ra Việt, tôi nghĩ có lẽ ông Nguyễn Huệ Chi nằm trong số những người dịch thơ hay nhất, tuy dường như ông không được biết là nhà thơ mà là học giả, chuyên nghiên cứu văn học cổ (và bây giờ lại nghiên cứu cả bô-xít rất mới !).

  10. Lê Quốc Trinh viết:

    Nguyễn Huệ Chi và văn học hải ngoại

    Cám ơn ông Trần Văn Tích đã cho tôi biết một sự kiện liên hệ tới ông Nguyễn Huệ Chi và Văn Học hải ngoại. Có phải ông Tích muốn nhắc đến tên người sáng lập ra Trang Mạng BauxiteVietNam mà tôi cũng đã đóng góp nhiều bài phản biện KHKT từ hơn năm nay.

    Một người ngồi ở thủ đô Hà Nội dày công nghiên cứu về văn học hải ngoại ..không hiểu ông Huệ Chi có bao giờ bước chân qua đến Pháp, Canada hay Mỹ để đi vào thực tế chưa ? Nếu không thì công trình của ông hãy còn mang tính lý thuyết khá nhiều. Tôi sẽ vào website do ông Tích trích dẫn để tìm đọc tài liệu quý báu này.

    Cám ơn ông,

  11. Phùng Tường Vân viết:

    “… xin được chia sẻ cùng tác giả (mới lần đầu “đến rồi đi” tiếp):
    Gánh sầu để xuống ai ơi,
    Còn non, còn nước, còn người mai sau.

    (Tôn Văn)

    Gánh sầu, ai muốn nặng vai
    Chỉ e đất nước : đường sai nặng nề
    Tỉnh ra đã hết đường về
    Nhắc nhau ra khỏi cơn mê, lạc loài !

  12. Trần Văn Tích viết:

    Kính thưa Ông/Bà 1mitee,
    Hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi đã tổng kết công trình “nghiên cứu” của mình về văn học Việt Nam hải ngoại và gửi cho ông Nguyễn Bá Chung, Residency Program Director của William Joiner Center. Phần do ông Hoàng Ngọc Hiến phụ trách đã được đưa lên internet với đầu đề “Đọc văn học Việt Nam hải ngoại”. Phần do ông Nguyễn Huệ Chi chấp bút được gọi là “Dự án tìm hiểu các công trình nghiên cứu văn hoá và văn học cổ điển Việt nam của cộng đồng người Việt hải ngoại”.
    Không muốn làm phiền ban chủ trương và độc giả talawas, tôi chỉ xin nêu ra một chi tiết : con số các công trình nghiên cứu văn hoá và văn học cổ điển Việt nam của cộng đồng người Việt hải ngoại được ông Nguyễn Huệ Chi sử dụng để viết công trình của mình là bốn mươi mốt (41) tác phẩm mà trong số bốn mươi mốt tác phẩm này thì đã có đến mười sáu cuốn của Thích Nhất Hạnh!
    Nếu ông muốn bước đầu tìm hiểu thêm về những trước tác của hai ông Nguyễn và Hoàng, xin mời ông vào http//:www.nguoiviethaingoai.org/mucluc.html xem bài “Đọc, viết và hỏi theo chỉ đạo” của tôi nhằm phê bình hai công trình của hai nhà nghiên cứu do chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo. Nhưng xin mạn phép thưa trước cùng Ông/Bà là dẫu tôi không dùng “những từ xỏ xiên”
    nhưng tôi cũng chẳng thể dành cho nhị vị Hoàng-Nguyễn những từ cao đẹp. Mong Ông/Bà hiểu cho như vậy.

  13. Tôn Văn viết:

    Chia sẻ, chia sẻ.

    Dẫu chưa ưng với đôi chữ phương ngữ không chính xác; Vẫn xin được chia sẻ cùng tác giả (mới lần đầu “đến rồi đi” tiếp):

    Gánh sầu để xuống ai ơi,
    Còn non, còn nước, còn người mai sau.

  14. Tri Ngộ viết:

    “Tôi tin rằng nhà văn NTHB không “quay lưng lại những khổ đau của dân miền Nam VN” (Trương Đức)
    Cám ơn ông Trương Đức đã khẳng định về việc này.
    Thật ra khi tôi viết lên vài dòng đó, tôi không có ý gì lên án hay chỉ trích nhà văn NTHB mà tôi chỉ đưa ra một cảm nhận dựa trên bài văn sĩ NTHB viết. Mà nếu văn thật sự là người thì tôi chịu thua. Tôi hoàn toàn tôn trọng và trân trọng cái nhìn cũng như cảm nhận của văn sĩ NTHB.
    Tôi chỉ thấy buồn là có rất nhiều người VN có tài (như văn sĩ NTHB hay nhạc sĩ Phạm Duy) đã trở nên quá “dễ dãi và lạc quan” với cái mình gọi là “quê hương” trong khi nhà cầm quyền hiện tại cũng như đa số đảng viên ĐCSVN vẫn tiếp tục ăn mừng chiến thắng 1975 và trong thâm tâm họ, tôi không nghĩ là họ thán phục hay nể nang gì những người như ông Phạm Duy hay các văn nghệ sĩ “lạc quan”. Sở dĩ họ (nhà cầm quyền) cho mình được thảnh thơi là vị họ đang cần mình, và họ lợi dụng được mình đến đâu thì họ sẽ tiếp tục.
    Cái vết thương sau 1975 vẫn còn đang rỉ máu và chưa lành. ĐCSVN hoàn toàn làm sai và họ phải xin lỗi nhân dân miền Nam. Việc họ làm rất là ác, đã làm đổ ra không biết bao nhiêu là máu và nước mắt cho người dân miền Nam.
    Riêng phần ông Huệ Chi thì tôi rất thán phục những việc ông làm. Giữ được một trang web bauxite VN hiện tại với những bài viết đưa lên những bất công tại VN hiện nay cũng như những việc lãnh đạo hay quản lý bất tài của nhà cầm quyền VN trong hoàn cảnh hiện tại là một điều đáng quý vô cùng.

  15. Thanh Nguyễn viết:

    @Chị Hoàng Bắc:

    Tại sao đến rồi mà chị không ở lại luôn? Bên đó có báo Nhân Dân tha hồ mà đọc! Chị đi về làm chi để rồi gặp mấy ông già chống Cộng? Rồi gặp phải báo chí ngôn ngữ sặc mùi máu không hợp gu?

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>