talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Thị Hoàng Bắc – Đến rồi đi

02/06/2010 | 12:00 chiều | 38 Comments

Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Category: Tổng hợp
Thẻ: >

Ba mươi tháng Tư Đen, tôi đi Hà Nội.

Ấy ấy, các bác chớ có mà nhanh nhẩu phản hồi đoảng là tớ đội mũ ngược bán nước cũ (miền Nam) lươn lẹo cầu vinh với nước mới (miền Bắc), thế ra vẫn là hai nước Việt sao, nhá, chẳng qua là nhà cháu có tí công tác tình cờ rơi vào hai tuần cuối tháng Tư và đầu tháng Năm năm nay ấy thôi…

Thế là cờ đỏ rợp trời Hà Nội, thế là tivi hát hùng ca giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước, nhưng bây giờ nghe không còn sợ giật mình như trước chẳng qua vì… vào thành ra cửa tây, xe ngựa chạy như bay…, nghe hát giải phóng không còn thấy sợ như ngày ấy khi chính quyền ta di tản hết rồi, thành phố lặng yên vắng ngắt, mọi người mọi nhà nằm yên thin thít nín thở như chết, ngoài đường không một bóng xe, bỗng thình lình từ cái loa nào đó vang lên tiếng hát… xác nhận thành phố đã có chủ mới!

Nhưng không sao, mấy loại đài đó là đài dớ dẩn, bấm bấm vài cái sang đài khác chập chờn thì cũng hip hop, hoà nhạc jazz, liên hoan chân dài có Jennifer Phạm nói tiếng Anh như gió, Mr. Đàm mùi mẫn nhạc sến sợ lên trời, lên trên trời… hai đứa hai nơi, nhưng em chỉ muốn làm người trần gian, Ngô Thanh Vân bay lượn Bước nhảy Hoàn vũ, và còn khối gì phim truyện đắc ý để xem. Tôi đi đâu cũng ba chân bốn cẳng về phòng xem tivi để luyện tiếng Việt cho đúng giọng Hà Nội.

Chả bù đêm hôm trước, ra khỏi sân bay Nội Bài, đang phấn khởi đắc ý, lần này mình đi Hà Nội chẳng khác gì Nhất Linh Đi Tây thuở ấy, chỉ không có được cái sướng theo bác Linh là được tha hồ đọc rạng ngày lên bãi hái chè oang oang ngoài phố mà chẳng làm Tây giật mình, mình thì ngược lại, được cái thú tha hồ nói giọng Bắc giả cầy với các cháu lái xe taxi:

“Cháu ơi, cầu này là cầu gì thế cháu?”

“Ủa, nghe cô lói giọng Hà Lội mà cô không phải là người Hà Lội à?”

Buôn dưa lê với cháu nái xe một hồi thì biết cháu quê ở Quảng Linh, trước nái xe tải, bây giờ thì chuyển qua nái taxi, ít tiền hơn nhưng đỡ mệt hơn, hai tư tuổi mà đã vợ hai con v.v… Sau hai tuần ở Hà Nội, Hạ Long, Ninh Bình, gặp gỡ, tán chuyện tầm phào với người này người kia thì thấy họ tỉnh bơ bờ dậu cho rằng Quảng Linh là Quảng Linh chứ làm gì có tỉnh nào tên là Quảng Ninh, Hạ Long thì tuy có cái bảng to đùng ra đấy nhưng vài người ngoan cường vẫn bảo là Hạ Nong.

Đi city tour thì tất nhiên phải có đi thăm Lăng Bác, vào thăm lăng bác âm u, các chị bộ đội dở mu ra chào, trời nắng, tôi không phải bộ đội nhưng chưa kịp dở nón nên bị anh cảnh vệ dữ dằn lừ mắt phất tay ra hiệu. Tôi thấy Bác nằm nghiêm trang, hồn hậu, đèn mờ nên mặt như mặt sáp, sau này vào xem ông Mao ở Trung Quốc cũng thấy không biết đâu là thật đâu là giả, nhưng nói chung, Bác Hồ mình đẹp trai hơn Bác Mao, theo tôi. Khu nhà ở của Bác nguy nga bát ngát, người tour guide nói tiếng Anh giới thiệu đây là nhà cũ của French Ambassador, một tên Tây trong đoàn xì xào, dạo đó Việt Nam là thuộc địa của Pháp thì làm sao có đại sứ?

Cụ già xứ Nghệ sống thanh đạm và có vẻ lặng lẽ, tủ sách nhỏ, vài quyển sách cũ đã tróc gáy, sờn bìa, thậm chí mất cả bìa, giấy ố vàng rất giống mấy quyển sách của ông già tôi khi ông về hưu; vườn hoa, ao cá, nhà sàn, khu vườn mênh mông, nếu hồi ký sách vở của vài nhân vật thân cận Bác nói đúng thì những năm cuối đời không được các đồng chí cho tham gia việc nước, suốt ngày cứ ra vào vỗ tay nói chuyện với cá không biết nói chỉ biết đớp mồi, ông cụ sống cô tịch lặng lẽ mà lại không được la đà tiêu dao thoải mái rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp, gót sen theo đủng đỉnh một đôi dì, vừa hé ra một dì Xuân gì đấy đã bị Bộ Chính trị tàn sát ngay, tôi thấy tội nghiệp Bác, sống thế có khác gì Bác đang bị cầm tù… Tuổi già của mọi người, dù là của một người thông minh kiệt xuất như ông cũng không hơn gì bọn dân ngu như tôi, rồi mình sẽ có chuyện để tự an ủi nếu lỡ có buồn khi về hưu bị ngồi một mình…

Một người phụ nữ bán hàng rong

Văn Miếu

Hà Nội ba mươi sáu phố phường không lớn, không trẻ trung, nhà cao cửa rộng hiện đại như Sài Gòn nhưng rất giống Rome, Bắc Kinh, Paris ở vẻ cổ kính đan xen với hiện đại. Chùa Trấn Bắc, trấn bắc hành cung cảnh dãi dầu, Ô Cầu Giấy Henri Rivière bị Cờ Đen giết, người anh hùng áo vải nửa đêm trừ tịch định ngày xuất chinh kéo một mạch quân ra Bắc rượt Tôn sĩ Nghị chạy te, bỏ mặc lính hắn nghẽn cầu chết chôn thành Gò Đống Đa, Quốc Tử Giám, một thời sĩ tử ưu tú khăn xếp áo the trang nghiêm đến nghe giọng giảng bài sang sảng của các bậc danh nho. Nói về cái giọng danh nho sang sảng một thời của Hà Nội chắc phải nhắc đến bác Bô-xít Nguyễn Huệ Chi thôi. Bác gầy, tầm thước, tôi đã gặp mấy lần ở Mỹ, gặp lại bác vẫn vậy, hồn nhiên, thư sinh, và hùng hồn sang sảng, nói hồn nhiên vì khi nghe chúng tôi đến, bác Chi chơi nguyên một bộ pyjama, một ống quần xăng lên, một ống bỏ xuống, ra đến tận đầu ngõ đứng chờ (nhà của bác Chi và bác Dương Tường đều là những căn nhà đẹp và đều ở trong ngõ,) vào nhà, sẵn gặp một đám khách đang sẵn sàng hóng chuyện, bác sang sảng hùng hồn kể một lèo chuyện bị công an lôi lên làm việc vì cái website bauxite, nhưng lại được công an tặng rượu quý sau đó; đến khi chúng tôi đề nghị chụp ảnh trong nhà thì bác đi thay một bộ đồ áo sơ mi và quần tây mới toanh cáo cạnh, còn nguyên cả giấy nhãn hiệu vướng ở cổ lòng thòng. Tôi nghe bác gọi vợ bằng tên: “này Hương (?), vào chụp ảnh đi!” tôi nghe không rõ lắm tên bác gái, nhưng cách xưng hô của một cặp vợ chồng lớn tuổi đã từng là mối tình sinh viên nghe vẫn nhẹ nhàng trong sáng và… hấp dẫn như của một cặp tình nhân trẻ. Ra đến cửa tôi được Nguyễn Thị Minh Hà ở Nhà xuất bản Phụ Nữ cho biết thêm thông tin, bác gái là Nguyễn Kim Hưng cũng là một chuyên gia Hán-Nôm của Hà Nội.

Hai gian nhà là thư viện tư gia Hán-Nôm của Nguyễn Huệ Chi thì khỏi nói, mai sau dầu có bao giờ mong sẽ được bảo quản tốt hơn tủ sách của thầy Vương Hồng Sển hiện nay ở miền Nam.

Nói về bảo quản di tích ngàn năm Thăng Long thì chỉ có Lăng Bác là vào hạng nhất, nhưng xác của Bác thì nghe đâu tháng 10 này lại phải đem đi Nga để bảo quản lại. Ở khu triển lãm các dạng nhà cổ, nhà sàn dân tộc thì nhân viên tỉnh bơ nấu ăn thật ngay trong bếp thiết kế giả, vài người lăn kềnh ra soải tay soải chân nằm ngủ tự nhiên trên sạp tre, mặc kệ du khách tò mò xem xét ngắm nghía, cứ ngỡ họ làm mẫu minh hoạ người Việt cổ, nhưng ngó lại không phải vì họ đang ăn mặc… giống như tôi, ở Quốc Tử Giám, tôi thấy các cánh cửa gỗ bị long ốc ra, những con ốc cũng bằng gỗ của một thời văng đâu mất tiêu, cánh cửa bị dẹp qua bên xếp xó bụi bám để dành chỗ bày hàng bán các món rùa giả, bia tiến sĩ bằng plastic… cho khách du lịch. Cũng ở đó, không ai quắc mắt tôi phải dở nón ra khi vào nơi trang nghiêm, nên cha mẹ các em nhỏ tha hồ dạy con (làm cái phép) đến sờ đầu, cỡi cổ rùa đá để chụp ảnh (sau này bất chiến tự nhiên thành, học lai rai cũng có tiến sĩ hay phó tiến sĩ?) Nhiều bia tiến sĩ đã mờ chữ đi một nửa, có tấm mòn gần hết, trong khi sách của cụ Hồ có long gáy hay mất bìa cũng vẫn được an toàn nằm kín trong tủ khoá chẳng làm sao mà đụng đến được!

Tôi đến Hà Nội cũng hơi… trật đường rầy. Xem thời tiết trước ở internet thì thấy rất nóng, chỉ toàn mang áo quần ngắn tay ngắn chân, ai ngờ đến nơi lại rét nàng Bân thế là tha hồ run cầm cập. Nhưng sau đó ghé chơi thăm công ty của Nguyễn Thuỵ Kha và Trần Thị Trường được mời ăn bánh trôi thân em vừa trắng lại vừa tròn mà Trần Thị Trường nói là nhân dịp tết Hàn thực là tết ăn đồ lạnh, tại trời nóng quá phải ăn đồ lạnh cho mát hay tại để nhớ ông Khuất Nguyên? Tôi đem ý này hỏi một cháu nái xe khác, cháu nói, là tết thì ăn tết thế thôi, chả biết ông nào với bà nào, và gọi điện nhắc vợ ngay “em ơi, hôm nay tết hàn thực đấy nhé!” Ở miền Nam tôi chưa hề ăn tết này nên thấy người Hà Nội rất cổ truyền. Cũng phải thôi, sống giữa một miền núi non đan xen quá khứ và hiện tại gần gũi chen lẫn gắn bó như thế, con người hồn nhiên sống với lịch sử và Hà Nội tương tự với Huế, có thể bảo thủ một chút, nhưng phong cách bảo vệ cổ truyền hơn hẳn những miền khác của đất nước, trong một ý nghĩa tích cực.

Ba má tôi từ miền Trung vào Nam lập nghiệp đã lâu, sinh đẻ anh chị em chúng tôi ở Sài Gòn, chúng tôi đi học ở Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang, lớn lên tôi lại có việc làm và gia đình ở Nha Trang, những di tích lịch sử của tôi cũ lắm là Lăng Ông Lê văn Duyệt, sau đó là mấy cái tháp Chàm, tôi đi qua đi lại chỉ thấy hơi mặc cảm chút xíu là mình chiếm nước người ta lại còn diệt chủng họ nữa thì chẳng có gì đáng tự hào, Lăng Ông thì tôi buồn vì cách xử sự tàn ác với nhân tài của một ông vua xứ Huế của mẹ tôi.

Nhưng đến Hà Nội thì tôi thấy cái gì là cội nguồn, cái gì là lịch sử, và cái gì là các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải ra công giữ nước. Khi lên biên giới đến xem Hữu Nghị Quan thấy cột mốc biên giới quả có bị lùi lại thật, quả các đồng chí công an Trung Quốc có dương oai diệu võ thật, người nói câu nói trên dù có là ai đi nữa cũng không thể bị/được gọi bằng những từ xỏ xiên như già hồ, cáo hồ, giặc hồ, con hoang của Hồ Sĩ Tạo… như trưa nay khi về lại Mỹ, đi ăn trưa với vài người bạn tôi nhặt được trong mấy tờ báo tiếng Việt địa phương ở đây sử dụng, cũng vẫn cái luận đề sát cộng, diệt cộng năm mươi năm trước sặc mùi máu, mà máu của ai đây mới được chứ, máu đã đổ thành sông thành biển, tám mươi tám triệu người trong nước không ai đọc, không ai viết, không ai suy nghĩ, không ai chia sẻ những gì như ghetto người Việt ở đây viết dai, nói dài, đọc dở. Chúng ta đang tự đóng cửa rút cầu, tự cô lập, tự xa lạ mình với tổ quốc, đất nước gốc, với đồng bào ta để làm gì vậy?

Tôi không ngạc nhiên khi nghe nói đến vô số lực lượng đối lập võ mồm mà các bậc thân hào nhân sĩ người Việt nước ngoài lớn tiếng kêu gọi, ở nước ngoài quý ông bà anh chị muốn nói gì thì nói, công an có sờ gáy bắt bớ đụng đến cọng lông chân nào của anh chị đâu, nói cho vui, cho nổi bật, để xả stress, để tự sướng thì dễ, nhưng nói và được lắng nghe thì khó lắm, quý ông Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hữu Liêm, Đỗ Kh., Nguyễn-Khoa Thái Anh… lâu lâu cũng vì mấy cái vụ này mà bị phản hồi lăng mạ tơi bời. Trong nước nghe các anh chị Nguyễn Huệ Chi, Đà Linh, Trần Thị Trường kể chuyện chạm trần mà không vượt ngưỡng, chuyện công an văn hoá làm việc mới là ghê. Lần tổ chức ra mắt quyển Thơ đến từ đâu đã phải làm như đánh du kích không bằng, và banderole giới thiệu đã phải thay đi đổi lại mấy lần để… thoát. Tuy nhiên, so với cái lần đã lâu rồi, thuở nhà thơ Đỗ Kh. cầm bản thảo tập hợp những truyện ngắn trong và ngoài nước do nhóm Hợp Lưu Nhật Tiến, Khánh Trường chủ trương đưa về cho nhà văn Hoàng Lại Giang in và đã không thành, Đỗ Kh. thì lại bị công an theo sát nút, coi như Nguyễn Đức Tùng và số phận Thơ đến từ đâu lần này gặp may mắn hơn, để may ra Trần Thị Truờng lấy lại vốn chút chút vì đã chơi ngông tung tiền ra xuất bản. Ở Việt Nam, chưa có nhà xuất bản tư nhân, muốn in sách báo phải hợp đồng với nhà xuất bản của nhà nước, và trường hợp Thơ đến từ đâu là hợp đồng của công ty Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Thị Truòng ký với nhà xuất bản Lao Động. Nhưng đạt được hợp đồng hay chịu ký hợp đồng in sách tư nhân lại là một chuyện khá gay go, bây giờ tôi mới hiểu tại sao ông Đặng Tiến bảo phải đánh giá cao nhà xuất bản Lao Động trong trường hợp này.

Tác giả (trái) cùng dịch giả Đoàn Tử Huyến, ba người bạn Mỹ và nhà văn Đà Linh tại Nhà sách Đông-Tây

Nhưng tiệm sách tư nhân thì khá lớn và khang trang mà lại có phong thái ấm cúng, sang trọng và tất nhiên có cá tính riêng tây hơn những hiệu sách Tràng Thi hay Fahasa của nhà nước. Tôi tình cờ có dịp đến dự buổi ra mắt sách của nhà văn trẻ Linh Lê ở hiệu sách Đông Tây của dịch giả Đoàn Tử Huyến, thấy đông đảo độc giả đến dự, mua sách, ký sách, trao đổi, chuyện trò rôm rả mà thèm. Vì là nơi hội tụ nhân sĩ Bắc nên đã được gặp và nghe các bài nói chuyện và giới thiệu về sách vở quan trọng của Phạm Xuân Nguyên, Lê Anh Hoài, gặp mặt Đà Linh, Đoàn Tử Huyến, Trần Thị Trường và diễn viên Xuân Tóc Đỏ một thời và bây giờ anh đang là đạo diễn một số phim tài liệu và phim truyền hình…

Tháng Năm, Hà Nội lại nóng như điên. Tôi ra Hồ Gươm ngồi hóng mát một mình, liễu rũ la đà, nước đậm rong rêu, chờ mãi chả thấy hậu duệ rùa nào của cụ-rùa-ngậm-gươm năm xưa xuất hiện, trai thanh gái tú Hà Nội bây giờ tây hơn Tây cặp kè khoác vai ôm ấp thoải mái nơi ghế đá, một bác gái ngồi cạnh, áo cánh trắng, quần đen ống rộng, và ngắn như thời bao cấp thiếu vải, tay phe phẩy cái quạt giấy màu tím, tôi buôn dưa lê với bác đỡ buồn.

Tôi quên rồi, nguời Việt mình hay hỏi tuổi người khác thẳng tưng, bác hỏi tôi:

“Năm nay bác bao tuổi rồi?”

Tôi giật mình nhưng lanh miệng phịa:

“Tôi tuổi Dần.”

Bác gái lẩm nhẩm tính, mới biết bác khoảng sáu mươi, trẻ tuổi hơn tôi. Trời ạ, mà tôi lại quần jean áo sơ mi ngắn tay sọc kẻ. Thấy một cái quạt đan bằng lát rất đẹp tôi mua chơi nhưng rồi chỉ vứt ở khách sạn không dám phe phẩy mang theo đi ngoài đường sợ thấy mình giống ông địa, bác gái nói, bác nói giọng Bắc lơ lớ giọng Nam nhỉ, tôi bảo vâng, tôi ở trong Nam ra chơi, bác bảo giời nóng thế này hiệu tôi bán chăn đệm ga nên cũng ế ẩm lắm nên mới ra đây ngồi chơi một chốc; một chị bán quà rong mời chúng tôi mua quả dứa, hồng xiêmna mà ăn cho mát; chị khác đi buôn đồ đồng nát ghé lại góp chuyện thì lại khuyên tôi nên ăn thử quả mã tử mát hơn. Nếu tôi phiên dịch các câu chuyện này ra tiếng Nam thì phải nói thế này: trời nóng như zầy, tiệm bán mền gối khăn giường của tui ai mà mua, mời hai cô mua trái thơm, lồng mứctrái mảng cầu, còn chị bán ve chai thì khuyên nên ăn củ năng cho mát người hơn.

Và thế nghĩa rằng thì là… tôi đang hiểu và biết nói được đến… hai thứ tiếng Việt! Ba mẹ tôi là người Trung, tất nhiên tôi sẽ dễ dàng hạ sang tone nặng trịch, rứa là tui nọi được tợi ba thự tiệng Việt rồi đó nghẹ. Thời buổi toàn cầu hoá, khuynh hướng nổi bật hiện nay là mỗi người nên tự trang bị cho mình ít nhất là hai sinh ngữ, bilingual, cho nó văn minh văn hoá, tôi thấy yên chí lớn, vì với khả năng nghe và nói tiếng Việt vừa rồi, tôi đã là multilingual rồi còn gì.

Khoẻ re, khoẻ re… như con bò kéo xe, người lần đầu đến rồi đi từ Hà Hà, Nội Nội!

Virginia, tháng 5/ 2010

(Ảnh trong bài của tác giả)

© 2010 Nguyễn Thị Hoàng Bắc

© 2010 talawas

Bình luận

38 Comments (bài “Nguyễn Thị Hoàng Bắc – Đến rồi đi”)

  1. Giác Văn viết:

    Bà H.B nói: “Chúng ta đang tự đóng cửa rút cầu, tự cô lập, tự xa lạ mình với tổ quốc, đất nước gốc, với đồng bào ta để làm gì vậy?”

    Lại “chúng ta”, bà đâu có ở trong đám nầy đâu mà nói “chúng ta”. Còn luận điệu đánh đồng cộng sản với tổ quốc, cộng sản là đất nước, đảng viên cộng sản là đồng bào, thì không có gì mới lắm. Té ra thì cũng chỉ là một cái tape được đem phát ra ở một cái loa khác.

  2. Hoàng Trường Sa viết:

    “Thương nữ bất tri vong quốc hận …” (Louis)
    “Ông Louis lục ở đâu
    Phản Hồi bằng một câu hay thế này !”
    (Phùng Tường Vân)

    Nhân hai bạn Louis và Phùng Tường Vân nhắc đến cụm từ “Thương nữ bất tri vong quốc hận”, kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây của tác giả Tuyết Lan:

    Thương nữ bất tri vong quốc hận (Tuyết Lan)

  3. 1mitee viết:

    Tôi cùng ở vùng Virginia với Bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc và có thể nói hầu như chưa bao giờ thấy Bà có mặt trong những sinh hoạt của Cộng Đồng Việt Nam; do đó tôi không ngạc nhiên về những phát biểu của Bà đối với những người đồng hương trong vùng.

    Có lẽ Bà cảm thấy “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” với những văn nghệ sĩ Miền Bắc trong nước như đạo diễn Trần Văn Thủy, khoảng 2004-2005, hay những tên tuổi Bà vừa khoe đã trở nên thân tình trong bài viết này nên Bà chẳng còn muốn dính dáng gì đến cái cộng đồng chống Cộng quá khích ở trong vùng?

    Ông Nguyễn Huệ Chi cùng với Ông Hoàng Ngọc Hiến đã được hợp đồng với Trung Tâm William Joiner ở Boston để viết giùm căn cước Người Việt tỵ nạn đã mấy năm rồi những sao không thấy xuất bản. Nếu ai có tin tức gì về công trình nghiên cứu này xin cho biết.

    Cũng xin nói thêm kể từ khi Bà Hoàng Bắc trả lời phỏng vấn của Ông Trần Văn Thủy trong “Nếu Đi Hết Biển” thì cộng đồng đã nhận ra chân tướng của Bà và cũng không muốn dây dưa gì.

    Tôi chỉ hơi ngạc nhiên khi biết Bà là “giáo viên lưu dung” sau 1975 như tôi. Là giáo viên thì chắc Bà cũng đã tốt nghiệp trường sư phạm, lẽ nào Bà không nhớ những người lính VNCH đã chiến đấu để bà yên lành làm cô giáo trước 1975.

    Trong cộng đồng Người Việt tỵ nạn ở vùng Virginia, Washington, DC và Maryland này phải nói những người tích cực hoạt động và kiên trì chống Cộng nhất là các anh chị cựu tù nhân ở Việt Nam sang Mỹ theo chương trình Humanitarian Operation (HO) thời cuối 1980 và 1990. Họ phần đông là những người lính đã trải qua nhiều năm tháng tù đày trong cái gọi là trại “cải tạo”, mất mát cá nhân và gia đình không kể xiết thì họ có chống Cộng cũng không có gì đáng ngạc nhiên; sao Bà lại xỏ xiên với họ quá thế.

    Thật ra thì những người như Bà có “đến rồi đi” hay không thì cộng đồng này cũng chẳng ai rỗi hơi mà phê bình hay nhắc nhở gì đâu. Bà làm ra vẻ quan trọng thế để chứng tỏ cho những người bạn Hà Nội của Bà nghĩ là Bà đã can đảm bỏ mặc dư luận để đưa vài người bạn Mỹ về giao lưu với giới tinh hoa văn học Hà Nội đấy chắc?

    Nếu tôi là một người Hà Nội thì tôi sẽ tự hỏi, “Bà văn/thi sĩ này sống trong Miền Nam cả mấy chục năm mà sao chẳng thấy có chút tình nghĩa gì cả? Vậy thì những phát biểu về tình cảm thân thương với Hà Nội lịch sử không biết có thật không đây.”

    Thú thật văn phong của Bà giúp tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa đãi bôi của “lip service.”

  4. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Về đây quên đất nước còn đau thương
    Về đây giấu màu áo ngày lưu vong
    Về đây ngắm Thăng Long thắm cờ hồng
    Ôi lãng du quay về… thiên đường

  5. Trương Đức viết:

    “Xin đừng quay lưng lại những khổ đau của dân miền Nam VN.”(Tri Ngộ)

    Nhớ hồi đầu năm nay, khi talawas bị tin tặc “làm khổ làm sở”, tôi thường hay vào tienve.org để đọc. Thế là vô tình, đọc được một lá thư của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc gửi tienve.org nhân buổi ra mắt cuốn sách “Thơ đến từ đâu?” ở Hà Nội. Trong lá thư ấy ( http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=9732 ) có đoạn: “Tiếng nói dù nhẹ như gió, thoảng qua rồi bay mất, cũng là tiếng của ngọn gió từ tấm lòng tôi, thổi trên QUÊ HƯƠNG TÔI.”(Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Bây giờ lại được đọc bài viết này của nữ nhà văn NTHB, tôi có mấy cảm nghĩ như thế này, xin chia sẻ với các bác, coi như là một sự trao đổi chân tình trên tinh thần “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một phải thương nhau cùng”(:)!),

    1. Có thể nói NTHB là một nữ nhà văn có phong cách viết mang thoang thoáng nét hài hước “trêu đời” giống như nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương chẳng hạn, dĩ nhiên là không sâu sắc bằng. Chị viết lại những cảm xúc có được sau lần đầu tiên đến “Hà Hà Nội Nội” của mình với một con mắt yêu đời, không “bận bịu quá khứ”, không có “hận thù trách móc” với cảnh vật con người HN, chỉ có hiện tại và hiện tại, bởi vì, tôi nghĩ, tất cả hiện tại đất nước con người VN, đối với chị, là “QUÊ HƯƠNG TÔI”. Đây có thể gọi là “văn cách lạc quan” chăng?

    2. Tôi tin rằng nhà văn NTHB không “quay lưng lại những khổ đau của dân miền Nam VN”. Chẳng qua, chị không muốn “khơi dậy” những nỗi đau ấy mà làm gì. Và điều này đã làm một số người trong chúng ta không được “vừa lòng” cho lắm. Nhưng “văn là người” mà các bác, nữ nhà văn NTHB không thể nói khác lòng mình đi được! Một trong những điều bà muốn nhắn nhủ qua bài viết này, theo tôi (rất “lạc quan yêu đời”), đó là cuộc sống đã “đến rồi” đấy và đang “đi” tiếp đó, và bà cũng vậy thôi, “đến rồi đi”!

  6. Phùng Tường Vân viết:

    Bề trong không dễ đâu người…Thăng Long
    (Phỏng NĐT)

    “Này con học lấy làm lòng”
    Muốn “chảnh” về đất Thăng Long chụp hình .
    Nhưng đừng chụp với nhà binh
    không hợp “diễn tiến hòa bình” hôm nay .
    Chọn Mỹ, văn sĩ…vài tay
    Chú thêm vài chữ chọc cay đồng bào .
    “Nghìn năm” tay vỗ rào rào !

  7. Louis viết:

    Kính bác Phùng Tường Vân,

    Một người thâm Nho ( Hán tự ) như bác thì hẳn bác biết tất tần tật tôi đã “chôm” câu được dùng làm phản hồi ở trên là ở đâu rồi, chẳng qua bác chỉ muốn biểu đồng tình với tôi thôi; về điều này, xin đa tạ.

    Người ta nói các ngài thi sĩ ( bà Hoàng Bắc cũng là 1 thi sĩ )”tức cảnh sinh tình”, kẻ ít học như tôi lại với tính “xỏ xiên” khi đọc bài viết của nhà văn, nữ thi sĩ xong thì câu thơ của Đỗ Mục trong bài Bạc Tần Hoài cứ ám ảnh mãi, cuối cùng đành phải “chôm” và dùng cho phản hồi của mình, vì chỉ với 7 chữ thôi, Đỗ tiên sinh đã giúp kẻ hậu học nói được những gì muốn nói.Nghĩ đến cảnh thi sĩ neo thuyền bên bến Tần Hoài vào lúc đêm trăng, nghe cô đào hát rồi “tức cảnh” mà có bài thơ thì…tuyệt cú mèo phải không bác?

    Nơi tôi ở giờ này là hơn 6 giờ sáng rồi, có nghĩa là tôi sắp phải đi cày, ở những nơi khác độc giả của Talawas có thể đã bắt đầu nghỉ cuối tuần rồi…Tôi xin gửi đến bác,quý độc giả của Talawas bài Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục với các bản dịch của Trần Trọng San, Mộng Bình Sơn, Trần Trọng Kim mà tôi vừa “chôm” ( lại chôm) ở http://www.nhanmonquan.net để bác và quý độc giả giải khuây cuối tuần. Kính,

    Bạc Tần Hoài

    Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
    Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia
    Thương nữ bất tri vong quốc hận
    Cách giang do xướng Hậu đình hoa .

    Ðỗ Mục

    Dịch nghĩa :
    Thuyền đậu sông Tần Hoài

    Khói bao trùm mặt nước lạnh , trăng bao trùm bãi cát . Ban đêm đậu thuyền ở sông Tần Hoài , gần quán rượu . Cô gái buôn không biết nổi hận mất nước , vẫn còn hát khúc Hậu đình hoa ở bên kia sông .

    Thuyền đậu sông Tần Hoài

    Khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát;
    Thuyền đậu Tần Hoài, cạnh tửu gia.
    Cô gái không hay buồn nước mất,
    Bên sông còn hát Hậu Đình Hoa .

    bản dịch Trần Trọng San

    Mây mặt nước , nguyệt đầu ghềnh
    Bạc Tần vui chuốc chén quỳnh đêm thanh .
    Gái “đêm “ quen sóng khuynh thành ,
    Bên sông hát khúc hậu đình hoa chơi !

    Bản dịch Mộng Bình Sơn

    Khói lồng nước bóng trăng lồng cát
    Bến Tần Hoài thuyền sát tửu gia
    Gái ca đâu nghĩ nước nhà
    Cách sông vẫn hát khúc ca Hậu đình

    Trần Trọng Kim dịch

    Nước lồng khói tỏa cát trăng pha
    Thuyền đỗ sông Hoài cạnh tửu gia
    Con hát biết chi hờn mất nước
    Cách sông còn hát Hậu đình hoa

    Khương Hữu Dụng dịch

    _ Tần Hoài: tên con sông từ tỉnh Giang Tô chảy lên phía Bắc vào sông Trường Giang.
    _ Hậu Đình Hoa: tên khúc hát làm trong buổi tiệc của vua Trần Hậu Chủ và Trương Quý Phi (thời Nam Bắc triều ).

  8. Trần Văn Tích viết:

    Bà Nguyễn thị Hoàng Bắc từng được đạo diễn Trần Văn Thủy, tác giả “Nếu đi hết biển”, xem là bạn. Về Việt Nam bà đi thăm các bạn của bà, có vị coi như cố tri vì từng cùng bà tham gia chương trình của tổ chức WJC nhằm cấp lại căn cước, vẽ lại diện mạo cho người tỵ nạn Việt Nam. Bà kể về những chuyến đi thăm đó bên cạnh những chuyện về cung cách phát âm của người Hà Lội. Coi như bà kể chuyện riêng, chuyện cũ. Đọc chuyện riêng, chuyện cũ có hấp dẫn hay không thì tùy cái “gu” của từng người.
    Nhưng khi bà nhắc đến “những từ xỏ xiên” thì tôi lại nhớ đến ông dân biểu Quốc hội CHLB Đức Jürgen Rüttgers, thủ hiến đương nhiệm tiểu bang tôi trú ngụ. Khi nhà văn Stefan Heym gốc Đông Đức với tư cách niên trưởng quốc hội đọc diễn văn khai mạc quốc hội thống nhất Đức
    xong mà hội trường lặng ngắt như tờ thì báo chí hỏi sao không vỗ tay. Dân biểu Rüttgers bốp chát trả lời : “Vor einem Kommunisten haben wir keinen Respekt!”(Trước một người cộng sản chúng tôi không có chút tôn kính nào hết!). Cái ông Rüttgers này lớn lên trong chế độ dân chủ Tây Đức. Dẫu vậy ổng cũng bất bình vì chế độ cộng sản. Tuy nhiên người vượt biên Đông Đức chỉ bị bắn chết, xác được chôn cất đàng hoàng; họ không hề bị hải tặc hãm hiếp, không hề bị mất xác ngoài biển. Bia của họ được bảo trì, không bị đập phá. Nếu họ bị bắt thì họ ngồi tù để rồi ngày nay được trả lại danh dự và được bồi thường vật chất. Vân vân. Trong khi đó bà Nguyễn thị Hoàng Bắc từng vượt biển và bà dường như chưa được hưởng những điều các nạn nhân da trắng đồng cảnh ngộ với bà từng và đang được hưởng. Ấy vậy mà ông Rüttgers lại nói một câu để đời và câu này tuy là bằng tiếng Đức nhưng tôi lại hiểu một cách rất dễ dàng; trong khi mấy chữ “những từ xỏ xiên” của bà Hoàng Bắc thì tôi nghĩ hoài nghĩ mãi ngẫm đi ngẫm lại mà vẫn không hiểu. Tuy rằng bà Hoàng Bắc nói tiếng Việt chứ không nói tiếng Đức. Ngộ thiệt. Hay thật. Dị quá tề.

  9. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Bề ngoài thơn thớt nói cười
    Bề trong khô héo như Người… Thăng Long?

  10. Phùng Tường Vân viết:

    @Louis
    (nói lúc 4:13 sáng)

    Ông Louis lục ở đâu
    Phản Hồi bằng một câu hay thế này !

  11. Hoà Nguyễn viết:

    Nhà văn và nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng Bắc từng được nói tới hai lần trên talawas. Đó là theo khả năng đọc rất hạn chế của tôi, chỉ thấy qua các bài phỏng vấn của ông Trần Văn Thủy và ông Nguyễn Đức Tùng. Nhưng dường như là lần đầu tiên nhà văn tự nói ở đây về mình, qua chuyện kể về những gì đã thấy và nghe, chỉ mới tháng trước thôi, khi nhà văn có vẻ lần đầu tiên về Hà Nội.

    Tôi đoán thế vì khi thăm nhiều nơi, gặp nhiều người ở Hà Nội, nhà văn HB như cảm nhận cái gì cũng mới lạ, và niềm vui thấy rõ trong ảnh chụp, trong lời văn nghe thoáng tiếng cười, qua những chi tiết nhỏ như rong rêu ở Hồ Gươm hay lớn như lăng Bác ở Ba Đình. Hẳn một phần cũng do bản tính riêng, như ông Trần Văn Thủy thốt lên ở đầu bài phỏng vấn năm 2002: “Chị vui tính thật” (“Nếu Đi Hết Biển”, Thời Văn, 2004). Ông Nguyễn Đức Tùng khi đọc “Nghinh hôn” nói: “Thưa chị, đọc bài thơ này, tôi có ấn tượng chị là người hài hước” (“Thơ đến từ đâu”, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8014&rb=0101). Là độc giả bình thường, tôi lại ấn tượng hơn với hai câu thơ sau đây trong bài “Qua mùa đông dọn lò sưởi”, đoán thuộc loại thơ tình (cảm) và ước được đọc cả bài thơ:

    Nhóm chi nữa đóm lửa tàn
    Dẫu trăm ngàn quạt tro than nguội rồi

    Tôi nghĩ “Đến rồi đi” là bài viết hay của một nhà văn nhiều người đã biết tên tuổi, và phải là nhà văn nữ mới có cái nhìn sắc sảo và cách viết nhiều duyên như thế. Khi đọc tôi cảm nhận được sức vui sống tràn đầy đến mức quyến rũ, và mê hoặc nữa. Bản thân tôi cũng từng đến Hà Nội rồi đi, nên dễ hân thưởng bài viết này.

    Nhưng trong câu viết mở đầu, dù với giọng đùa vui, tác giả như thủ thế, nếu không nghĩ là chế giễu: “Ấy ấy, các bác chớ có mà nhanh nhẩu phản hồi đoảng là tớ đội mũ ngược bán nước cũ”. Vì vậy, tôi tìm đọc lại để biết thêm để tránh nghĩ lầm.

    Nhà văn HB không thích gì chế độ mới sau 1975 vì chỉ là “giáo viên lưu dụng”, vượt biên lần đầu thất bại, vào tù, mất việc phải về cuốc đất trồng khoai nuôi thân và nuôi con, sau cùng đem bốn con thơ vượt biên, qua được Hongkong. Như thế đương nhiên được coi thuộc về những người “tỵ nạn CS” vì đã thật sự là “thuyền nhân”. Trong hai bài phỏng vấn, nhà văn kể lại nhiều chuyện đắng cay, cả đau thương, bản thân phải chịu đựng và chứng kiến ở người khác tại Nha Trang sau Giải Phóng, và nếu đọc kỹ tôi tin có thể thấy ấn tượng không vui thời xưa để lại dấu vết trong bài ký sự này. Nhưng trong bài phỏng vấn của Trần Văn Thuỷ, nhà văn HB cho thấy rất không thiện cảm với Cộng đồng người Việt ở Mỹ, có tiếng là chống Cộng. Nhà văn mô tả CĐNV ở Mỹ, Pháp, Úc theo cách nhìn của nhà văn Milan Kundera về các nhóm di dân Tiệp sau biến cố Mùa Xuân Praha năm 1968: ra tuyên cáo này nọ, lên án bọn CS trong nước và tay sai CS ngoài nước… Chuyện chống Trần Trường ở Nam Cali, qua lời nhà văn kể lại với TVT: “biểu tình mấy chục ngàn người để chống một tên tâm trí bất thường không đủ tiền và đủ sức để kinh doanh nghiêm chỉnh nên treo nổi treo hình bác Hồ và cờ Việt Cộng, lâu lâu lại còn biểu tình lẹt đẹt hay tự thiêu, ủi xe tăng vào sứ quán Việt Cộng. Đối với những vụ này tôi chia sẻ với suy nghĩ của nhân vật Sabina trong tiểu thuyết của Kundera: “Cái yếu tính cốt lõi để trở thành người Tiệp tan biến vào hư không mất rối”.(“Nếu Đi Hết Biển”, TVT, trang 88)

    Có lẽ không cần biết những người Tiệp di dân về sau thế nào, có ai về nước và làm được gì không, nhưng người đọc hiểu qua câu viết về người Tiệp, nhà văn Hoàng Bắc muốn nói “Cái yếu tính cốt lõi để trở thành người Việt tan biến vào hư không mất rồi”. Kết luận như thế có công bằng không, đối với người Tiệp di dân và ngưòi Việt tỵ nạn? Cả có công bằng với Trần Trường không, khi gần đây anh được báo chí phỏng vấn ở Hà Nội như một doanh nhân về nước làm ăn khá thành công. Kundera có văn tài nhiều người khâm phục, và theo tôi biết số độc giả ở TQ và VN rất đông, có lẽ vì tâm tình có chỗ gần gũi, nên lời nói của Kundera đáng nể, đáng trích dẫn để làm tăng giá trị nhận định. Nhưng năm ngoái, tôi đọc trên RFI thấy Kundera bị tố trước kia từng làm việc cho mật vụ CS và đã khiến vài người bị bắt. Không biết vụ này đã sáng tỏ chưa, chỉ muốn nhắc lại là ai cũng nhìn thấy và suy nghĩ trong điều kiện chủ quan riêng, người ngoài khó biết được. Tôi đọc ít nên chưa thấy nhà văn HB viết gì về chế độ miền Nam trước kia, ở vài mặt tốt tương đối. Về gia cảnh thì theo nhà văn kể có khó khăn hơn số đông người miền Nam khác cùng thế hệ, nhưng tôi không nhắc lại. Dù vậy chẳng lẽ hơn 30 năm sống dưới chế độ VNCH, cuộc sống và con người trong đó không để lại cho nhà văn đôi chút ấn tượng tốt đáng nói hay sao.

    NHà văn HB viết: “quý ông Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hữu Liêm, Đỗ Kh., Nguyễn-Khoa Thái Anh… lâu lâu cũng vì mấy cái vụ này bị phản hồi lăng mạ tơi bời”. Tôi nghĩ giáo sư Lê Xuân Khoa không có nhiều điểm gần gũi với ba người kia, và dùng từ “lăng mạ” cho cả nhóm gồm cả GS là không công bằng. Riêng các ông Liêm, Thái Anh, Kh., viết họ bị lăng mạ mà không nói họ từng nhục mạ người khác trước là có cái nhìn “không hợp công đạo”.

  12. Louis viết:

    ” Thương nữ bất tri vong quốc hận….”

  13. Tri Ngộ viết:

    Văn của chị Hoàng Bắc lúc nào đọc cũng thấy nhẹ nhàng tươi mát.

    Chị Hoàng Bắc ơi, mặc dù những người ở địa phương chị làm chị bực mình về những bài ‘sát Cộng’ mà chị coi là dở, họ cũng đã là nạn nhân của người cầm quyền phương Bắc và họ không quên được những mất mát và khổ đau do người CSVN gây ra. Chị nên thông cảm họ thay vì chỉ trích họ. Và chị cũng đừng quên là cái sung sướng hạnh phúc chị hiện nay đang có cũng nhờ vào thế giới tự do này và chị cũng đã một lần là thuyền nhân.

    Xin đừng quay lưng lại những khổ đau của dân miền Nam VN.

  14. Matsu viết:

    Cũng đã trên năm mươi năm mà vẫn như là
    ‘…đem bục công an đặt giữa trái tim người
    Bắt tình cảm
    ngược
    “vào thăm lăng bác âm u, các chị bộ đội dở mu ra chào, trời nắng, tôi không phải bộ đội nhưng chưa kịp dở nón nên bị anh cảnh vệ dữ dằn lừ mắt phất tay ra hiệu”
    xuôi
    “ở Quốc Tử Giám,…, không ai quắc mắt tôi phải dở nón ra khi vào nơi trang nghiêm,”
    Theo luật lệ đi đường nhà nước’
    Trời nóng như điên, tiếc là tác giả không ghé bơi “Trên bể bơi Ba Đình”, vừa mát vừa là chỗ tốt để buôn dưa lê. Chắc sẽ được nghe nhiều tấm gương ấn tượng về học tập đạo đức và tư tưởng HCM. Hổng chừng nhờ vậy mà lần sau nhớ ‘ngược xuôi’ như các chị bộ đội để khỏi bị lừ mắt phất tay.

  15. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Ta về ta tắm ao ta
    Dù trong dù đục ao nhà đã quen…

    Tuy thế, nếu phải đi “tua” về thăm cố quốc và hòa hợp với 80 triệu đồng hương ở quốc nội thì chuyện rửa mắt với lăng Bác sẽ dễ dàng hơn là việc tắm trong ao sen hay ao súng, có đúng không ạ?

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>