talawas blog

Chuyên mục:

Lý Hữu Phước – Về quê ăn Tết (1)

05/06/2010 | 12:00 chiều | 4 Comments

Tác giả: Lý Hữu Phước

Category: Đời sống, Tạp văn
Thẻ:

Lời giới thiệu

Cách đây khoảng một tuần, tình cờ tôi khám phá ra website taberd.org, và tìm ra dấu của một người bạn xưa học chung từ lớp 10 tới lớp 12.

Tôi đã khóc thương cho Phước, khi nghe tin nó đi bộ đội, đánh nhau với Khờ Me Đỏ và ăn B40 chết tan xác. Năm đó, chúng tôi dưới 20 tuổi. Thực ra nó đậu vào Đại học Kiến trúc, rồi trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, rồi đào ngũ, vượt biên, và đã từ lâu có một cuộc sống thành đạt, bình an.

Bài du ký “Về quê ăn tết” Phước viết từ 2006, mà tôi mới được đọc hôm qua, đọc và sung sướng. Sung sướng vì nhiều lẽ:

Biết nhau từ thưở mới lớn như những con gà lộc ngộc, lòng còn đơn sơ, tưởng đã chết, lại nghe tin còn sống, rồi mất dấu 30 năm, và tâm hồn lại hiện ra phong phú, nhân hậu, nhạy cảm trên những dòng chữ, những trang giấy.

Tôi đã đọc nhiều trang du ký của Đỗ Kh., Phan Nhiên Hạo, Trịnh Hảo Tâm…, những khách giang hồ này đi, cảm nhận, tìm hiểu và có kiến thức vững chắc, sâu rộng về những nơi thăm thú. Phước cũng thế, nhưng cái khác ở đây là Việt Nam, lần này khách tìm hiểu khá cặn kẽ về quê cha, đất tổ, những địa danh, nơi chốn, sự tích Việt Nam… nên cũng là tìm tòi đấy nhưng có những rung động của kỷ niệm, có lòng ái ngại xót xa, vì những địa danh như Bà Điểm là chốn có “mộ Ông nội… mộ Bà nội, cô Ba và anh Hai”, Thuận Kiều là nơi mà âm ba của “bài cải lương xưa buồn não nuột Lá trầu xanh” còn vọng trong lòng…

Đọc Phước, đọc những chú thích công phu, hấp dẫn và thấy bài viết không phải là một cuộc diễu binh kiến thức mà là sự tìm hiểu của một người yêu về một người yêu, ngưòi yêu đó tên là Sài Gòn, là Ba Chúc, là Thuận Kiều, là Tân Châu, Tri Tôn, Long Xuyên, Hà Tiên, Châu Đốc… Vì tình yêu vượt qua ý niệm thời gian nên 2006 sẽ còn là mãi mãi.

Mỗi bờ tre, góc phố, vạn nẻo đường,

Hương yêu dấu, vẫn thầm vương thắm thiết.

(Nguyễn Chí Thiện)

Lê Anh Dũng

______________________

 

Viết cho Ba Má đọc về chuyến đi chơi của tụi con

 

 

Thứ Hai 16-01-2006 (17 tháng Chạp)

Đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, lòng tôi ngổn ngang nhiều ý nghĩ, đường Sài Gòn đông đúc sáng rực ánh đèn vào những ngày cận Tết thanh bình mà phi đạo còn vết tích của những hangars quân sự bằng bê-tông cũ, tàn dư của những năm tháng chiến tranh cực kỳ sôi động năm nào. Đã gần ba mươi năm nay, hôm nay bốn anh em chúng tôi mới có dịp cùng rủ nhau về Việt Nam để ăn Tết cổ truyền tại quê hương. Bước vào phòng tiếp tân, lòng rộn rã niềm vui khi nhìn vào hàng biểu ngữ lớn: “Chào mừng bà con Việt kiều về quê ăn Tết Xuân Bính Tuất 2006”.

Quê hương không từ bỏ ai, chỉ có người từ bỏ quê hương…, tôi nhớ lại câu nói nầy càng thổn thức tình hoài hương. Ngày ra đi cúi đầu lặng lẽ trong sự bí mật đầy gian nguy, bây giờ làm Việt kiều được nhà nước năm nay phong bốn chữ vàng “khúc ruột ngàn dặm” từ rất xa về quê nhà ăn Tết. Tôi tận hưởng và hình dung ra được cái đại phúc hỷ trong cảnh người xưa “vinh qui bái tổ”. Gặp lại bà con mừng vui và mấy đứa cháu hớn hở được về Việt Nam lần đầu trong cảnh nhà hàng[1] nhộn nhịp với những món ăn thuần túy miền Nam – thật là Xuân sắp đến rồi…

Thứ Ba 17-01-2006 (18 tháng Chạp)

Ngày đầu tiên, sáng sớm thức dậy ăn cơm tấm điểm tâm và tranh thủ ghé qua đường Nguyễn Huệ để mua sách và dạo phố. Tôi mua được một chồng sách trong đó có cuốn bản đồ đường bộ dầy để du ngoạn mấy tỉnh miền Nam vài ngày tới. Viếng chùa Vạn Hạnh và lại mua sách, tại đây tôi gặp một điêu khắc gia, một đệ tử trung thành của thiền sư Thích Nhất Hạnh từ lâu, về già chỉ chuyên về nắn tượng Phật. Qua câu chuyện về nghệ thuật và thế cuộc hợp ý nhau, ông gởi thiệp mời tôi đi xem triển lãm nghệ thuật của ông[2] và chỉ cho tôi đi xem lại những ông đồ già “hoa tay thảo những nét, như phượng múa rồng bay”[3]. Rời chùa tôi ưng ý vì mua được sách và hài lòng với tấm biển có hai câu thơ:

Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp,

Quê nhà một góc, nhớ mênh mông.

 

Buổi chiều cả nhà vào Chợ Lớn để ăn tiệc mở màn cho chuyến du Xuân. Chợ Lớn ngày trước có tứ đại tửu lầu – Á Đông, Ái Huê, Đại La Thiên và Đồng Khánh – đó là lý do anh em tôi chọn Ái Huê Đại Tửu Lầu để nhớ lại hương xưa. Buổi tiệc được cô manager Việt kiều gốc Hoa từ Mỹ về phục vụ chăm sóc (lại còn bớt 10% lúc trả tiền), chắc là duyên hội ngộ của đồng hương cũ Chợ Lớn? Món ăn Tàu Chợ Lớn (Hongkong, Singapore sao bằng?), rượu champagne và rượu đỏ từ xa mang về tạo thành ấn tượng khó quên. Ăn đồ Tàu, uống rượu Tây và lãnh lương dollar – tôi cho đó là nề nếp phong lưu mới của xã hội cao cấp (high society) trong thời buổi kinh tế thị trường!

 

Hôm nay Chợ Lớn hồi sinh, Chợ Lớn như nàng (Việt) Kiều đã trải bao cuộc gian truân của những ngày mới đổi chủ, qua mấy bận đổi tiền, rồi sang mấy lần đánh tư sản và rồi bài Hoa. Nhớ lại một chiến dịch vệ sinh hồi đó “nhà sạch nhà, phố sạch phố” mà người Chợ Lớn kinh hoàng gọi “nhà sập nhà, phố sập phố”. Thôi qua hết rồi những năm thương đau[4], những nguời muôn năm cũ[5] của Chợ Lớn chắc còn ai nhưng Chợ Lớn vẫn vui tươi, vẫn với cao lương mỹ vị như ngày nào

Năm nay cao lầu mở,

Đại yến tiệc tưng bừng.

Người Chợ Lớn năm cũ,

Cùng nhau cạn ly này!

(LHP)

Thứ Tư 18-01-2006 (19 tháng Chạp)

Sáng nay chúng tôi đi ăn sáng để chuẩn bị ra phi trường đón máy bay đi Siem Reap để du lịch xứ Angkor. Bánh cuốn chả quế bình dân trong hẻm Sư Vạn Hạnh, hương vị thơm ngon như ngày nào bên đường Trần Quốc Toản. Nhìn lên vách trong tiệm, tôi thấy hai câu thơ do một người viết tặng:

“Cứ ngỡ đến chơi xơi một dĩa,

Ai dè ăn mãi đến hôm nay.”

Có lẽ đây là một marketing ploy cò mồi của chủ quán, nhưng dù sao nó cũng chứng tỏ hồn thơ của người Sài Gòn lai láng, tràn lan qua từng ngang cùng ngõ hẻm… và tới tận tiệm bánh cuốn trong xóm. Là người cũ đất này, tôi tự nói với mình: Hơn ba trăm năm văn hóa Gia Định thành là đây!

Máy bay đáp xuống phi trường Siem Reap, từ đó chúng tôi về khách sạn Le Meridien Angkor mất khoảng 15 phút. Phòng khách sạn có truyền hình đủ đài các nước, nhưng đặc biệt là có chương trình tiếng Việt. Đây là lần đầu tiên tôi xem được đài Việt Nam trong khách sạn ở nước ngoài. Ít ra Việt Nam cũng là một cường quốc (hay là đế quốc?) đối với nước Miên. Siem Reap là thành phố thứ tư của Cambodia – sau Phnom Penh, Battambang và Kompong Cham. Cái tên Siem Reap có nghĩa là Xiêm Diệt[6], thật là một danh xưng trớ trêu và mỉa mai cho một thành phố gần với biên giới Thái Lan. Nếu nước Việt Nam luôn luôn dè dặt về người láng giềng lớn ở phương Bắc (Trung Quốc), thì nước Cao Miên hằng bị hai nước lớn ở phương Bắc (Thái Lan) và phương Nam & Đông (Việt Nam) quấy nhiễu. Cũng may là người Miên không đặt tên một thành phố gọi là Việt Diệt, cho dù trong quá khứ nước ta có nhiều ân oán với nước Miên. Siem Reap là thành phố êm đềm, đơn giản và hiền lành (nhưng có điều khó kiếm đồ ăn). Mới đến đây, tôi cảm tình đặc biệt với người dân Miên và thành phố này.

Thứ Năm 19-01-2006 (20 tháng Chạp)

 

Đường vào Angkor Thom

 

Buổi sáng nay chúng tôi có một bữa ăn thịnh soạn trong khách sạn, tôi thử được nhiều món Miên gồm cả cháo với khô, hủ tiếu Nam Vang (thứ thiệt trên đất Miên!)…  Khoảng chín giờ xe tới và cuộc hành trình khám phá Angkor bắt đầu… Xe chạy tới trước cổng phía Nam của Angkor Thom thì dừng  lại và chúng tôi đi bộ vào thành. Trên con đường nhỏ qua hào vào thành, bên trái có 54 tượng đầu thần thiện (gods) và bên trái có 54 tượng thần ác (demons).

Angkor Thom (Đế Thích, thom: lớn, vĩ đại) là một cố đô, trung tâm tôn giáo và hành chính của một đế quốc Khmer rộng lớn và hùng mạnh khi xưa. Thành lập từ cuối thứ kỷ 12, Angkor Thom thời đó có dân số độ một triệu người, lớn hơn bất cứ thành phố nào ở Âu Châu[7]. Thành phố được bao bọc bằng tường thành và có năm cổng: Nam, Bắc, Tây và hai cổng ở phía Đông. Trong thành có những đền lớn như Bayon, Baphuon, Phimeanakas (Cung điện Hoàng Gia), Terrace of the Lepper King (Sân Vua Cùi), Terrace of the Elephants (Sân Voi).

Trong các kiến trúc tại Angkor có rất nhiều phù điêu và tượng liên quan đến thần thoại Ấn Độ và Ấn Độ giáo. Xem những công trình nghệ thuật này sẽ hiểu và thấy quyến rũ hơn nếu ta có những khái niệm về văn hóa Ấn-Miên. Cái tên Angkor lấy từ chữ nagara (“holy city”) của tiếng Phạn (Sanskrit) mà người Miên đọc thành ongkor hay là nokor [AAIT].

Bayon

Cấu kết kiến trúc của Bayon (Kim Tháp, Golden Tower, xây khoảng năm 1200) rất đặc biệt và độc đáo. Tại đây, có trên 200 tượng mặt người khắc trên bốn cạnh của các đỉnh chóp trên 54 tháp tạo thành những hình tượng đầy nghệ thuật oai nghiêm. Nhìn vào những khuôn mặt bằng đá này với những vòng môi cong lên và đôi mí khép lại của cặp mắt nhìn xuống, tuy không một lời thoát ra mà người nhìn cứ muốn đoán ra nhiều ý nghĩa huyền bí thánh thiện sâu xa… Những khuôn mặt này có sức lôi cuốn mãnh liệt đối với du khách và tiêu biểu cho nụ cười Angkor (the smile of Angkor)[8].

Ta Prohm

Ta Prohm (cuối thứ kỷ 12 – đầu thế kỷ 13) đẹp nhất là vào buổi sáng, khi sương mù còn bao phủ giữa những cây cổ thụ mọc trên những đền thờ vỡ nát, tạo thành một không khí huyền bí và những niềm nối tiếc của một thời vàng son diễm tuyệt của văn hóa dân Khmer… Hiện nay chính phủ Ấn Độ đài thọ chương trình trùng tu đền Ta Prohm (2004-2014).

Baphuon (Đồng Tháp, 1060) từ ngoài nhìn vào như là một ngôi đền trên núi. Thật ra đền thờ là một tháp bằng đá vĩ đại năm tầng. Từ phía tây của đền, ta có thể nhìn và đoán ra được một tượng dở dang, hình Phật nằm, bằng đá khổng lồ từ thế kỷ thứ 16. Bộ Ngoại giao Pháp, qua Trường Viễn đông Bác cổ (L’École Française d’Extrême-Orient) đang có công trình sửa chữa và tu bổ lại đền Baphuon.

Ta Keo (cuối thế kỷ thứ 10 đầu thế kỷ 11) là đền thờ núi, được cất toàn bộ bằng sa thạch (sandstone) là là đền để thờ vua Jayavarman V. Ta Keo là biểu tượng của năm đỉnh núi trên núi Meru. Ở trong đền, người ta tìm được chữ khắc Hema-sringgagiri có nghĩa là Núi với các đỉnh bằng vàng (the Mountain with Golden Peaks).

Đường vào Angkor Wat

Angkor Wat (Đế Thiên, wat: đền thờ, chùa, 1113-1150) là đền thờ lớn nhất trong các công trình kiến trúc Angkor, còn nguyên vẹn và là kỳ quan thế giới. Đền Angkor Wat còn giữ được nét uy nghi tráng lệ vì là nơi chùa chánh của đạo Phật từ thế kỷ thứ 16. Sự hoàn hảo và hài hòa từ kiến trúc vĩ đại bên ngoài đến các tượng và phù điêu trong điện, quả thật có một không hai. Đền Angkor Wat là biểu hiện cho nghệ thuật của dân tộc Khmer ở thời kỳ phát triển văn minh tột đỉnh. Mô hình kiến trúc của Angkor Wat là biểu tượng của vũ trụ quan trong Ấn Độ giáo: Hào chung quanh đền là đại dương bao bọc địa cầu, những hành lang quanh tầng thứ nhất của đền là những dãy núi chung quanh các đỉnh núi Meru. Năm ngọn tháp trên tầng thứ ba là năm đỉnh núi Meru. Đỉnh tháp cao nhất tại trung tâm đền có bước tam cấp rất cao (và nguy hiểm) là để cho người lên phải cúi đầu tôn vinh Đấng Vishnu và có cảm giác như là đang leo lên đỉnh Meru. Cổng chánh của Angkor Wat nằm về hướng Tây vì hướng này quay về thần Vishnu (Đấng Bảo hộ) – đó là lý do ta nên xem tiền diện của đền Angkor Wat vào lúc hoàng hôn, khi mặt trời lặn ngả bóng, làm cho cảnh càng uy nghi và hùng vĩ.

Đường đi vào cổng chánh hiện do chính phủ Nhật đài thọ về việc bảo trì còn Bộ Ngoại giao Đức có công trình hồi phục những kiệt tác phù điêu (bas reliefs) chung quanh hành lang (German Aspara Conservation project).

Banteay Kdei (cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ thứ 13). Cổng đền ở phía Đông có tháp bốn mặt như Bayon nhưng kém phần qui mô. Trong sân của đền, tôi thấy có bảng nói về công trình nghiên cứu và tu bổ đền của trường Đại học Sophia Nhật (Sophia University Angkor International Mission, Tokyo Japan).

Viết làm sao cho hết các kỳ quan của Angkor trong bài này! Có lẽ có dịp tôi sẽ trở lại đây với nhiều thời gian hơn.

Thứ Sáu 20-01-2006 (21 tháng Chạp)

Dọc theo đường song song với rạch chảy về Biển Hồ (Tonle Sap Lake – The Great Lake, tiếng Miên là Boeing Tonle Sap), hai bên đường người dân Miên sống trong những căn nhà lá lụp xụp tồi tàn. Biển Hồ nổi tiếng là nhiều cá, nhưng có lẽ chưa được khai thác một cách qui mô, nên đời sống người dân còn thấp. Tôi thấy buồn và tủi phận cho người dân Miên: nơi đây đất rộng người thưa, một đất nước đã có thời văn minh cao độ mà gần đây đã bị tàn phá vì chiến tranh và trở nên nghèo nàn và lạc hậu.

Từ Biển Hồ, sông Tonle Sap chảy về phía Nam và tới Nam Vang (Phnom Penh), tại đây hai sông Tonle Sap và Mekong[9] nhập lại tạo thành một hiện tượng lạ. Vào mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 10, nước mưa và nước từ tuyết tan trên phía Bắc chảy xuống, làm lưu lượng nước sông Mekong tăng. Sông Mekong không thể tải hết nước được thì sông Tonle Sap dẫn nước chảy ngược về Biển Hồ tạo thành hồ dự trữ nước với tôm cá từ sông Mekong sang. Đến mùa nước rút, nước chảy từ Biển Hồ ra sông Tonle Sap về phía Nam và Biển Hồ trở thành một ổ chứa đầy tôm cá. Vì vậy vùng này trù phú là mạch sống của dân Khmer từ xưa – đó là lý do thành phố Angkor được thành lập gần nơi đây. Vì mực nước thay đổi đột ngột tùy theo mùa, dân Khmer vùng này từ lâu đã biết trồng lúa sạ. Loại lúa sạ không cần phải cấy, chỉ cần gieo giống và tự nó sẽ mọc lớn theo mặt nước – mực nước càng lên cao thì lúa sẽ lớn cao theo bấy nhiêu. Vào mùa mưa nước sông Cửu Long bên Việt Nam dâng cao, vùng ven sông bị ngập lụt thường xuyên và nếu trồng lúa theo lối cổ truyền, lúa sẽ bị ngập nước không sống nổi. Người làm ruộng ở miệt Châu Đốc sau này mới biết trồng lúa sạ theo cách của người Miên.

(Còn 2 kì)

Ảnh trong bài của tác giả.

© 2010 Lý Hữu Phước

© 2010 talawas


[1] Quán ăn Ngon, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa

[2] Triển lãm tranh & thư pháp “Mừng Xuân hoan hỷ” từ ngày 25-01-2006 đến 13-02-2006 (nhằm 26 tháng Chạp đến 16 tháng Giêng năm Bính Tuất) tại Thiền viện Vạn Hạnh 750 Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Tp HCM

[3] Vũ Đình Liên

Ông đồ già

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già.

Bầy mực tàu giấy đỏ,

Bên phố đông người qua.

 

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài:

“Hoa tay thảo những nét,

Như phượng múa rồng bay”

 

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thấm;

Mực đọng trong nghiên sầu…

 

Ông đồ vẫn ngồi đây,

Qua đường không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy;

Ngoài trời mưa bụi bay.

 

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ,

Hồn ở đâu bây giờ?

(1936)

 

Tôi thích đọc bài thơ này vào độ Xuân về Tết đến, vì nó gợi bao niềm hoài cổ man mác của năm tháng giao thời giữa Hán học và Tây học. Sau Đại hội Đảng lần thứ IV (1976), đất nước đã thống nhứt và qua một cuộc đổi đời mới, năm 1977 Vũ Đình Liên cho phục hồi ông đồ, hijacked một hình ảnh ông đồ già bốn mươi mốt năm trước

Năm nay đào nở rộ

Mừng Hội Đảng Hội Dân

Bút ông đồ lại họa

Những nét chữ đẹp, thân

 

Nghiên bút xưa vẫn đợi

Từ ngàn năm bài thơ

Từ ngàn năm câu đối

Đảng sáng tác bây giờ

 

Nghệ sĩ với ông đồ

Tình nước non vô tận

Như Đảng với Bác Hồ

Hương đất trời cộng sản

 

Ông đồ “quốc doanh” hồ hởi phấn khởi, đầy lạc quan cách mạng một cách khuôn mẫu… kém tự nhiên hơn ông đồ già năm xưa.

[4] Trích từ bài ca “Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” của Xuân Hồng

[5] Xem chú thích 3

[6] Cambodia – Lonely Planet, p 114: “The name Siem Reap means ‘Siamese Defeated’, hardly the most tactful name for a major city near Thailand.”

[7] Thời cực thịnh của Angkor, bên Âu Châu chỉ có trường Đại học Oxford (Oxford University – 1167) và nhà thờ Notre-Dame de Paris (1163-1235).

[8] Tôi nhớ lại hồi trước 1975, góc đường Trần Quốc Toản và Lê Đại Hành có tiệm hủ tiếu Nam Vang Kim Tháp, có một bảng quảng cáo lớn vẽ hình tháp bốn mặt ở Bayon. Chắc là chủ tiệm người gốc Miên nên còn tha thiết với kiến trúc độc nhất của Angkor. Năm nay, tôi trở lại đường Lê Đại Hành (vẫn tên cũ) mà không tìm thấy tiệm hủ tiếu năm nào.

[9] Sông Mekong dài 4200 km là sông lớn nhất ở Á châu. Sông bắt đầu từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), là biên giới thiên nhiên giữa Miến Điện – Lào, chảy phần lớn biên giới giữa Lào – Thái Lan, qua Cambodia và cuối cùng là châu thổ đồng bằng sông Cửu Long trù phú. Bên Tây Tạng (Tibet) sông tên là Dza-chu; Ở Trung Quốc sông có tên Lancang Jiang 瀾 滄 江 – (turbulent river), Lan Thương Giang (Lan: sóng cả , sóng lớn; Thương: bể rộng) – và ở Thái Lan sông được gọi là Mae Nam Khong.

Bình luận

4 Comments (bài “Lý Hữu Phước – Về quê ăn Tết (1)”)

  1. Hai Van viết:

    Xin Ông Phước chú ý : Người Kampuchia rất khó chịu khi họ bị gọi là người “Miên”. Có thể là người ta liên tưởng tới chữ “man” mà người Tàu và Việt hay dùng để chỉ các dân tộc ít người, không theo nên “văn minh Hoa hạ”. Trong Tam Quốc Chi, Nhạc Phi…những tiểu thuyết Tàu đó tên Nam Man thường là gọi Thái Lan, Việt Nam, Lào…Về sau, đọc trại là “miên”(Cao man) !
    Trong thời đại văn minh hội nhập này, các dân tộc bình đẵng và tôn trọng nhau…có lẽ các ông nên gọi người Kampuchia theo tên gọi mà họ thích hơn là theo thói quen “trịch thượng” của mình ( Tôi nghĩ đó là do ảnh hưởng của Tàu) !

  2. Lý Hữu Phước viết:

    Cám ơn ông Phùng Tường Vân đã chỉ chổ sai sót này. LHP

  3. TamPhung viết:

    Người Chợ Lớn là ai ?

    Người CL là người Hoa . Vì nước mẹ Tàu của họ đang sai khiến giới cầm quyền Việt Nam cho nên Người Chợ Lớn lại được thao túng thị trường đất nước Việt Nam . Bây giờ thì Người Chợ Lớn không buồn nữa mà họ vui mừng hỉ hả là phải !

    Thêm 1 ghi chú nhỏ nữa: Sông Mekong phát khởi từ vùng cao nguyên Tây Tạng rồi mới chảy qua Vân Nam . Không phải phát nguồn từ Vân Nam như tác giả chú thích .

  4. Phùng Tường Vân viết:

    Xin được phép đính chính một lỗi nhỏ trong chú thích (3) của tác giả : Bài thơ (Tết, bất hủ) của Vũ Đình Liên là bài thơ Ông Đồ chớ không phải Ông Đồ Già; đây là một thi liệu quan trọng, thiển nghĩ không nên để lại những sai sót, dù nhỏ.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>