Phong Uyên – Không thể định nghĩa được Phật giáo
28/05/2010 | 12:51 chiều | 15 Comments
Category: Tôn giáo
Thẻ: kinh Vệ đà > tư tưởng Phật giáo
Bài “Muốn hiểu đúng đạo Phật…” nhận được số phản hồi kỷ lục gần 100 bài. Nhưng trong số đó chỉ chừng 1/10 là thực sự phản hồi bài viết, hay nói đúng hơn, là phê phán tác giả. Có lẽ độc nhất chỉ có phản hồi của ông Lê Quốc Trinh đặt những câu hỏi chính xác về những điểm trong bài mà theo ông, chỉ là những “phân tích có tính chủ quan”, những “luận điệu mù mờ” muốn “đánh đồng đạo Phật với Thiên Chúa giáo”. Ông Lê Quốc Trinh yêu cầu tác giả phải “đưa ra một định nghĩa rõ ràng về chữ Phật”. Ông Kim Sinh cũng cùng một ý là tác giả “phải định nghĩa Phật giáo là gì… là duy tâm hay duy vật, là thờ thần hay vô thần… trước khi luận nó”. Ông Lê Quốc Trinh còn thêm là “vấn đề nguồn gốc đạo Phật từ đâu ra thiết nghĩ không quan trọng… “
Tôi không mong gì hơn là trả lời các phản hồi, nhưng phải đợi sau khi khoá sổ. Tôi xin bắt đầu từ bài phản hồi của ông Lê Quốc Trinh:
Trước hết tôi xin nói với ông Lê Quốc Trinh và một số người khác là óc duy lí bắt buộc muốn hiểu bất cứ vấn đề nào cũng phải tìm nguồn gốc của nó. Mọi niềm tin, mọi tư tưởng, mọi đạo giáo cũng đều có nguồn gốc chứ tôi chưa đủ duy tâm để tin là nó từ trời rơi xuống, được Chúa mặc khải. Các trường Đại học lớn Âu Mỹ đều có khoa lịch sử các đạo giáo.[1]
Ông Lê Quốc Trinh cho rằng tôi có những “luận điệu” mù mờ. Tôi mong ông đọc lại từng chữ một, từ đầu đề của bài tới dấu chấm hết, để thấy trong bài tôi không có lập luận gì cả. Tôi chỉ tham khảo những công trình khảo cứu của các học giả danh tiếng quốc tế để kể lại là nguồn gốc những khái niệm trong triết học và những ý niệm có vẻ khác nhau trong các đạo giáo đều thoát thai từ những ý niệm (concepts) của kinh Vệ đà mà tôi cho là kết quả sự trưởng thành của tri thức con người từ 5000 năm cho tới 1500 năm tr.CN. Những ý niệm đó trở thành những giáo điều cứng nhắc khi xã hội con người bắt đầu tiến triển để tạo ra các tổ chức tinh thần gọi là các đạo giáo. Những cuộc thánh chiến giữa các đạo, hay đúng hơn là giữa các tôn phái trong cùng một đạo như giữa Công giáo, Chính thống và Phản thệ trong đạo Kitô hay giữa Sunnites và Chiites trong đạo Hồi, đều có nguyên do là cách hiểu khác nhau (phần nhiều theo ý của những người nắm chức quyền chính trị cũng như tôn giáo đương thời) về những giáo điều trong đạo. Đạo Phật, nhìn dưới khía cạnh lịch sử, chỉ là một tôn phái của đạo Bà La Môn, cũng không tránh được số phận đó khi bị đạo Bà La Môn “Đổi mới” đuổi ra khỏi Ấn Độ. Với thời gian và tùy hoàn cảnh địa lý-chính, đạo Phật cũng như những đạo khác, bị phân hoá thành nhiều tôn phái, thậm chí còn mất tính cách đạo nguyên thủy khi truyền qua Trung Quốc phải lần lần hoà lẫn với 2 tôn giáo bản địa là Khổng giáo và Lão giáo để trở thành đặc Tàu.
Ông Trinh đặt cho tôi câu hỏi vì lí do gì Đức Phật rời bỏ cung cấm thoát li ra đi thì không những tôi mà tất cả mọi người, kể cả đức Phật, đố ai trả lời được, và chỉ có trời biết. Nhưng chắc chắn là nếu Đức Phật còn ở trong cung cấm thì dù thông suốt kinh sử Vệ đà và thực hành du già (chứ không phải thiền định chỉ được Tàu phát minh 1000 năm sau) cũng sẽ “con vua thì lại làm vua”, chứ sẽ không đi khất thực, không quét lá đa. Sẽ vẫn là Tất Đạt Đa, không thể là “Người Tỉnh thức” (Bụt) để giác ngộ được và sẽ không có đạo Phật.
Không có lẽ ở thời Internet mà ông Trinh còn cho là tôi bịa ra sự kiện đạo Phật, cũng như đạo Bà La môn đều có nguồn gốc từ Ấn giáo Vệ Đà để lấy một thí dụ không ăn nhập đâu vào đâu mà lại sai bét về thuyết tiến hoá của Darwin “cho thủy tổ loài người là con khỉ, muốn tìm hiểu loài người thì đi vào rừng tìm hiểu con cháu họ Tôn”. Không ai so sánh một sự kiện lịch sử với một giả thuyết.
Tôi xin nhắc lại với ông Lê Quốc Trinh là mục đích bài viết của tôi không phải là để lao mình vào những cuộc tranh luận liên miên về nghĩa (Tàu) của những ý niệm tiểu ngã, Đại Ngã, luân hồi, tái sinh, Niết bàn, Hư vô, Phạm thiên… mà để nói là những ý niệm đó đều có nguồn gốc trong kinh Vệ đà và Solowiev, nhà triết học và thần học Nga cuối thế kỷ thứ XIX là người đầu tiên đã đưa ra luận chứng là trong Ki Tô giáo cũng có những ý niệm tương đồng. Solowiev đã chứng tỏ mọi đạo đều có những ý niệm giống nhau bắt nguồn từ sự trưởng thành của tư tưởng con người kết hợp với lòng tin vào một đấng thiêng liêng. Từ đó có thể suy luận là kinh Vệ đà, chứ không phải Thánh kinh như người Tây phương thường nghĩ, là bản chữ viết đầu tiên của loài người giảng về đấng thiêng liêng. Tôi cũng xin nhắc lại là các nhà nhân chủng học đều đưa ra nhận định là cách đây 50 ngàn năm, người sơ cổ Sapiens đã cảm nhận có hiện hữu một đấng thiêng liêng khi biết chôn người chết. Đạo cổ nhất chỉ mới ra đời cách đây 5000 năm nên không thể nói là các đạo giáo đã sáng chế ra ông trời để mê hoặc dân chúng. Như tôi đã viết, sự tin tưởng có một đấng thiêng liêng nằm trong tầng sâu nhất của tâm thức con người.
Con số 84000 pháp môn tôi đưa ra là lấy trong cuốn Living Buddha, living Christ của thày Thích Nhất Hạnh. Thày nói là theo kinh sách. Kinh sách nào các vị có dịp cứ hỏi thẳng thày Thích Nhất Hạnh. Khi tôi đưa ra con số này là có ý muốn nói theo đạo nào hay không theo đạo nào cũng được. Có cả chục ngàn cánh cửa mình muốn đi tới Trời (theo nghĩa lương tri, phật tính trong mỗi con người là một cánh cửa). Cứ tự động mở cửa mà đi. Không hiểu sao ông Lê Quốc Trinh lại cho tôi (một người không theo đạo nào) là cuồng tín. Người cuồng tín là người cho đạo mình là độc nhất, những đạo khác đều là tà đạo cần phải diệt trừ.
Ông Hoàng Nguyên cho là tôi “hiểu rất ít, có khi hiểu sai Phật giáo mà lại thích viết về Phật giáo”. Đó là quyền phê phán của ông. Nhưng ông đọc bài tôi viết quá vội vàng nên lẫn lộn lung tung: Tôi nói phần lớn những tôn phái đại thừa của Tàu đều mai một chỉ trừ tôn phái Thiền mà sư tổ là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Thiền Trung Quốc được người Nhật đem về biến thành Zen phổ biến trên thế giới cho đến ngày nay. Thiền Tàu ở lục địa cũng không sống được với cộng sản đã biến mất. Mấy lần tôi qua Tàu, thấy các chùa chiền vắng tanh chỉ dành cho du khách và Thiếu lâm Tự, tục truyền là có từ đời Bồ Đề Đạt Ma cuối thế kỷ thứ V, đã biến thành nơi “Thiếu Lâm mãi võ” dành cho các phim Kung Fu. Tôi cũng không biết ông nghĩ thế nào mà cho là tôi “tung hoả mù nhằm gây hận thù chia rẽ các tôn giáo”. Gây hận thù chia rẽ là cố ý đưa ra những cái khác biệt giữa các tôn giáo, giữa các tư tưởng, chứ chỉ tìm những điểm giống nhau vì mọi tôn giáo, mọi tư tưởng đều phát sinh từ một nguồn gốc, cũng như mọi con người đều cùng một ông tổ, đều cùng một chủng tộc, đều là đồng bào cả nên cần phải sống hoà hảo với nhau, thì tại sao lại nói là gây hận thù? Ông Sức mạnh mềm còn đi xa hơn nữa, đổ cho tôi là có ẩn ý chính trị muốn “Liên tôn diệt cộng” (Tàu?), chia rẽ Bắc (kinh) Tông với (Việt) Nam Tông. Có lẽ là vì tôi nói Giáo hoàng Jean Paul II mở cửa nhà thờ cho Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ Phật.
Tôi thưa với Hoà Nguyễn, khi tôi nói đạo nào cũng là đạo Thiên chúa với nghĩa rộng là không có đạo nào phủ nhận sự hiện hữu của Trời, nhất là các đạo có nguồn gốc Vệ đà giáo, cho mọi hiện hữu mọi ý tưởng đều từ Brahman ra cả. Trời Brahman là Trời vô ngã đồng thể với tạo vật. Thiên chúa ở đây chỉ có nghĩa nôm na là Trời (le Ciel) theo cách hiểu của người dân quê Việt Nam. Những người Thiên chúa giáo thủ cựu phương Tây không bao giờ chấp nhận một ông Trời không có nghĩa Thượng đế (Dieu) như vậy, và đó là theo đạo Phiếm thần. Năm 1600, thầy tu Giordiano Bruno bị lên giàn hoả vì có ý nghĩ đó. Triết gia Spinoza thế kỷ thứ XVII bị coi là theo tà thuyết bị khai trừ khỏi cộng đồng Do thái cũng vì coi Trời và thiên nhiên là một. Bởi vậy, tôi không biết ông hiểu làm sao mà cho “nhiều người Thiên chúa giáo Phương Tây” cũng nghĩ như vậy và coi “các thánh nhân Đông phương cũng là những vị tiền hô”. Xin ông chỉ cho tôi “tiền hô” dịch làm sao ra tiếng Tây phương? không có lẽ “tiền hô” là các Tiên chi (Prophètes) được Trời sai xuống trần làm nhiệm vụ Trời sai, như các prophètes của Do thái giáo hay đấng Tiên chi Mohamed của Hồi giáo? Tôi cũng thấy cần nói cho ông rõ là Jean Baptiste, anh họ Giêsu, là một người Do thái thánh thiện, đã rửa tội cho Giêsu (Khi sinh tiền Giêsu chỉ xưng mình là con Người, tất nhiên là phải mang tội tổ tiên, chứ không phải con Trời như các ông vua Tàu). Jean Baptiste bị vua Hérode chặt đầu, lấy đầu thưởng Salomé nhảy đẹp vì ông là người chính trực đã dám lên tiếng khiển trách Hérode làm chuyện loạn luân lấy Hérodiade chị dâu, mẹ Salomé. Ông còn sai lầm hơn nữa là dám cả quyết “khi tới Trung Hoa các vị thừa sai khi thấy Khổng Tử nói về thiên mệnh đã tưởng là gặp một ông Giăng khác và tặng cho Khổng Tử một cái tên Latin rất trọng vọng là Confucius.” Tôi bắt buộc phải nói với ông là các triết nhân thời Khai sáng trước Cách mạng Pháp, đặc biệt là Voltaire, đã lấy Khổng Tử làm gương mẫu và lấy quan niệm của Khổng Tử về Trời để bài bác những giáo điều về Trời của Giáo hội Công giáo. Trời của Khổng Tử là Trời của Voltaire, kẻ thù của Giáo hội Công giáo, thì làm sao các vị thừa sai lại có thể coi Khổng Tử là một vị “tiền hô” như ông tưởng tượng? Thời đó mọi tên đều được phiên âm tiếng Latin như những danh từ khoa học bây giờ. Sao ông lại có thể nghĩ là phiên âm ra tiếng Latin là có ý muốn Kitô hoá? Thiên mệnh, theo quan niệm quân chủ của Khổng Tử là mệnh Trời (le mandat du Ciel), dành cho vua. Khi vua không làm đúng ý Trời (là ý dân) thì Trời lấy lại, gọi là cách mệnh. Quan niệm Trời của Khổng Tử đã gợi ý cho Cách mạng 1789 Pháp phá bỏ các Nhà thờ và “cắt mệnh”, chặt đầu Louis XVI.
Ông Lee can đọc bài tôi hấp tấp quá nên không thấy là ngay từ đầu bài tôi đã nói rõ là Ấn giáo Vệ đà là đạo cổ xưa nhất ra đời cách đây 5000 năm với tên là “Trật tự Vũ trụ Trường tồn”. Kế tiếp là đạo Bà La Môn và đạo Phật. Ấn độ giáo ra đời sau cùng khi đạo Bà La môn “đổi mới”. Sở dĩ Toà án Tối cao Ấn Độ phải định nghĩa Ấn độ giáo (Hindouisme) là vì muốn lấy Ấn độ giáo làm mẫu số chung cho những đạo cùng nguồn gốc Vệ Đà như đạo Phật, các giáo phái (sectes) đạo Bà La môn…, để những đạo này sống hoà hợp với nhau. Nên biết là cờ Ấn độ lấy vòng Pháp luân (La Roue de la Loi) của Phật làm biểu hiệu là do nhà báo thi sĩ Phật học người Anh Sir Edwin Arnold gợi ý. Cách đây 3500 năm, Ấn giáo Vệ đà chưa hẳn là 1 đạo mà chỉ là những giáo huấn dựa trên kinh Vệ đà. Gọi là Kinh chứ thực ra chỉ như là Ngũ kinh của Khổng Tử, gồm những áng văn chương thi phú, những luận đề triết học, những điều giáo huấn. Đức Phật bỏ Bà La môn giáo khi “giáo” trở thành “đạo” tôn thờ Brahma, Visnu và Shiva (những hiện thân của Brahman) với những giáo điều, những thứ bậc tôn ti chức sắc, những lễ nghi thờ phụng. Cách đây 2500 năm Đức Phật là người muốn trở lại tính cách thuần túy của Vệ đà giáo nguyên thủy mà Trời Brahman có nghĩa là Tuyệt đối, ở khắp mọi nơi, ở ngay trong mỗi con người nên không cần thờ, không cần lễ nghi, không có chức sắc, mọi người đều bình đẳng. Chính bản thân Phật cũng cầm bát đi xin ăn hàng ngày làm gương cho các môn đồ.
Tôi xin trả lời 2 ông Lê Quốc Trinh và Kim Sinh (HTT) về Định nghĩa Phật giáo:
Theo tôi, người ta chỉ có thể định nghĩa một từ ngữ, một khái niệm, chứ không ai định nghĩa một đạo giáo, một thực thể sống động bao gồm cả tỷ người. Phật giáo còn khó định nghĩa hơn vì bao gồm 3 thực thể (entités) khác nhau:
– Thực thể Đạo mà điển hình là đạo Phật Nguyên thủy ở các nước như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, những nước mà 95% người dân thực hành đạo gần như thời Đức Phật sinh tiền. Người dân và tăng lữ sống hoà đồng với nhau: Chùa chiền được toạ lập ở những nơi có đông người ở để mọi người dễ dàng đến thờ Phật, đồng thời nghe thuyết giảng và các nhà sư lo về phần tinh thần cho mỗi người dân và lo giáo dục con nít. Đổi lại, người dân lo phần cơm nước cho các nhà sư. Khi mỗi sáng sớm nhìn đoàn tăng lữ, từ các vị đại đức cho tới chú tiểu đi hàng dài khất thực và mọi người kính cẩn quỳ gối dâng đồ ăn, giàu cũng như nghèo, mới thấy đức tin của những người đó là mạnh và gợi lại hình ảnh Đức Phật cầm bát đi khất thực 2500 năm về trước. Những tăng lữ đó có thể là anh, là tôi, là ông vua cũng như là thằng ăn trộm. Ai cũng có thể cạo đầu vào chùa tu từ 3 ngày tới 3 tháng, tu lúc nào cũng được, bỏ tu lúc nào cũng được. Trong đời người có thể tu nhiều lần. Tu là một hình thức cấm phòng (retraite) của một số tín đồ Công giáo. Nhà chùa lúc nào cũng sẵn sàng mở cửa đón anh vô. Lẽ dĩ nhiên là đừng hỏi những người đó về tiểu ngã, duyên khởi, Niết bàn là gì vì sẽ không ai trả lời. Những người Phật tử chỉ tin một điều giản dị là phải tránh nghiệp báo để khỏi phải qua nhiều kiếp trong vòng luân hồi, mau trở về Nirvana hoà mình với Trời với Phật. Hóa thân (Réincarnation) của Platon và Luyện ngục (purgatoire) của KiTô giáo tương đồng với ý niệm luân hồi.
– Thực thể Triết học mà điển hình là các tôn phái đại thừa ra đời 500 năm sau đạo Phật Nguyên thủy. Đạo Phật đại thừa khi vào Trung Quốc bị “Khổng hoá” và “Lão hoá” mang nhiều tính cách triết học mất dần tính cách đạo giáo. Chùa chiền lại làm ở những nơi hẻo lánh. Người đi tu, xuất gia xa lánh dân chúng, khiến mỗi ngày một mất tín đồ. Các tôn phái chỉ tu với nhau tất nhiên là bị mai một. Triết lí nhà Phật hiện nay sở dĩ vẫn được biết đến, nhất là ở phương Tây, là nhờ các nhà sư Tây Tạng đi giảng thuyết và viết cả trăm cuốn sách mỗi năm. Tuyệt nhiên không có cuốn sách nào của Đại thừa, “Chán”, Tàu cả. Việt Nam dầu sao cũng có một số sách của thày Thích Nhất Hạnh được in dịch ở các nước ngoài.
– Thực thể Zen: Thiền Nhật bản trở thành một cái mốt cho người Phương Tây từ cách ăn uống cho tới cách sống, cách tu dưỡng tinh thần. Các thiền sư Nhật cũng viết rất nhiều sách và giảng thuyết trên truyền thanh, truyền hình, dành cho những người muốn hiểu Zen một cách sâu xa hơn. “Mốt Zen” đang bị Yoga Ấn độ thay thế. Mọi người Tây phương đua nhau đi tập Du già. Thậm chí Y khoa cũng bị Du già xâm nhập và đàn bà gần đến ngày sinh được An sinh Xã hội trả tiền cho đi tập phương pháp Yoga đẻ không đau.
Kết luận
Muốn định nghĩa Phật giáo phải làm như anh mù sờ voi: Sờ đúng vào phần đạo Phật Nguyên thủy thì định nghĩa Phật giáo là một đạo như những đạo khác. Sờ đúng vào phần triết học thì định nghĩa Phật giáo là một nền triết lý. Sờ đúng vào phần Thiền Zen thì định nghĩa đạo Phật là một lối sống, một lối tu thân, một cách giữ tinh thần thanh thản đỡ stress. Nhưng không thể sờ cùng một lúc ba phần được nên không thể định nghĩa được Phật giáo.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
[1] Ở Pháp, giáo sư các đạo giáo thuộc Đại học Sorbonne được nhiều người biết tiếng và luôn được giới truyền thông chiếu cố khi muốn hỏi về các đạo giáo là tiến sĩ Odon Vallet. Ông Vallet viết rất nhiều sách về các đạo giáo, đặc biệt là cuốn Giêsu và Phật in năm 1999. Ông đã bỏ hết gia tài 120 triệu euros cha ông (xuất thân chỉ là một người thợ) để lại, lập Tổ chức (Fondation) Odon Vallet, mỗi năm cấp 2000 học bổng cho học sinh, sinh viên ưu tú các nước nghèo. Ông đặc biệt yêu mến Việt Nam, cấp mỗi năm cả trăm học bổng cho những học sinh nghèo và hay qua Việt Nam lựa chọn những sinh viên ưu tú đem qua Pháp cho theo học những trường đại học danh tiếng nhất.
Bình luận
15 Comments (bài “Phong Uyên – Không thể định nghĩa được Phật giáo”)
Thưa ông Phong Uyên,
Tôi đã đọc kỹ bài viết của ông và tôi nhận thấy bàng bạc trong bài viết lần này cũng vấp phải những thiếu sót. Những phát biểu thiếu chính xác của ông thuộc những đề tài quá rộng lớn khiến rất khó để đưa ra phản biện đầy đủ. Tuy vậy, các bác trong diễn đàn này đã nỗ lực góp ý chân thành và bài phản biện của họ cũng gần như bao quát mọi luận điểm. Nơi đây, tôi chỉ tập trung góp ý với ông về phát biểu: “Đạo Phật đại thừa khi vào Trung Quốc bị “Khổng hoá” và “Lão hoá” mang nhiều tính cách triết học mất dần tính cách đạo giáo.”
Về niên đại du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc, cũng như không chỉ có đại thừa mà Tiểu thừa cũng được truyền bá vào thời kỳ đầu du nhập đã được bác dukkhakarma trình bày rõ ràng, nơi đây không cần lặp lại.
Một sự thật lịch sử là các nhà truyền đạo Phật giáo trong thời kỳ đầu, Hán (206 B.C- AD 220), du nhập vào Trung Quốc là họ gặp phải muôn vàn khó khăn từ viêc bất đồng ngôn ngữ đến một nền văn hoá lớn và xa lạ với văn hoá Phật giáo vốn mang đậm sắc thái văn hoá Ấn Độ mà họ mang vào. Đứng trước những khó khăn này, các nhà truyền đạo Phật giáo đã thay đổi hình thức sinh hoạt, cách thức ăn mặc. Trong trong công tác phiên dịch những kinh điển từ ngôn ngữ Ấn Độ và Trung Á sang Hán ngữ, họ đã cất công tìm kiếm những khái niệm và ngôn từ trong nền văn hoá và tôn giáo Trung Hoa như Khổng giáo va đặc biệt là Lão giáo để chuyển tải nhưng ý nghĩa trong kinh điển mà vẫn giữ nguyên tôn ý của Đức Phật. Thời điểm phiên dịch này gọi là “cổ dịch” và cho đến hai giai đoạn phiên dịch tiếp theo, “Cựu dịch (từ thời Kumarajìva đến Trung Hoa năm 401 AD đến thời Huyền Trang vể nước năm 645 AD) và “Tân dịch” (từ năm 645 AD trở về sau) thì công tác phiên dịch mới gặt hái những thành công rực rỡ.
Như vậy, trong thời kỳ đầu, các nhà truyền đạo Phật giáo đã thay đồi một vài hình thức sinh hoạt để thích ứng với môi trường mới cũng như vay mượn một số ngôn từ khái niệm để chuyền tải ý kinh nhưng vẫn không thay đổi ý nghĩa nguyên bản; nội dung sinh hoạt mang tinh thần từ bi, giải thoát, giới-định-tuệ,…vốn không có trong nền văn hoá, tôn giáo Trung Hoa vẫn được các Tăng sĩ thực thi.
Từ thời Tây Tấn (265-316) trở đi, Phật giáo đã thực sự bén rễ trong mảnh đất tâm linh của người Trung Hoa bằng sự phát triển mạnh mẽ được minh chứng bằng số lượng kinh điển dịch sang tiếng Hán, sự mở rộng chùa chiền, Tăng sĩ, lương tín đồ ngày càng đông và cho đến cho đến thời Đường (618-907), Phật giáo đã phát triển đến thời hoàng kim.
Từ triều Tống (910-1279) đến triều Thanh (1644-1912), Phật giáo mặc dù không phát triển rực rỡ như thời Đường nhưng vẫn duy trì hình thức sinh hoạt mang màu sắc của đạo mình, vẫn chiếm lĩnh một bộ phận đông đảo quần chúng, rồi dần dần suy tàn vào cuối triều Thanh.
Như vâỵ, xét về măt lịch sử, giáo lý và ảnh hưởng xã hội, các sử gia xưa nay chưa bao giờ xem đạo Phật bị “Lão hoá”, “Khổng hoá” hay “đặc Tàu” như phát biểu của ông Phong Uyên cho dù có những tông phái chỉ mới khai sinh trên mảnh đất Trung Hoa như Hoa Nghiêm tông hay Tịnh Độ tông, nhưng những tông phái này vẫn y cứ vào kinh đển Đại thừa vốn kết tập từ Ấn Độ.
Sự thật lịch sử lại trái ngược với phát biểu của ông Phong Uyên là đạo Phật đã ảnh hưởng đến Khổng giáo và Lão giáo nhiều hơn là những gì đạo Phật vay mượn từ hai tôn giáo bản địa vốn chỉ giới hạn ở một số ngôn từ.
Sự ảnh hưởng nặng nề của họ từ Phật giáo đã được nhiều sử gia phát hiện. Sau đây, tôi sẽ tóm tắt những phát hiện của hai học giả nổi tiếng, có đầy đủ thẩm quyền trong lĩnh vực này, giáo sư Kenneth K.S Ch’en với cuốn “Buddhism in China” và sử gia E. Zurcher với cuốn “The Buddhist conquest of China”.
1. Khổng giáo
Sau mấy thế kỷ đầu tìm cách thích nghi trong môi trường mới, đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ trong các thế kỷ tiếp theo vì đáp ứng được nhu cầu tâm linh của người Trung Hoa. Trước khi đạo Phật du nhập, người Trung Hoa chỉ sống theo những nguyên tắc khô cứng của Khổng giáo như trật tự, ổn định, hoà hợp giữa chính thể và xã hội, mọi thành viên trong xã hội phải thực thi theo địa vị xã hội mà họ đang có, thuyết “Chính danh”. Quả thật, những nguyên tắc này chỉ mang tính ổn định xã hội hơn là liệu pháp tâm linh. Quay sang Lão giáo, họ cũng không tìm kiếm được chỗ dựa tinh thần vì đạo Lão quá “vô vi”, thậm chí yếm thế. Khi bắt gặp Phật giáo, một tinh thần siêu phóng, một lối phát triển tâm linh nhưng không tách rời xã hội, họ đã tiếp thu va thực hành sâu rộng. Điều này đã khiến Khổng giáo chỉ còn cái xác khô cứng trên vũ đài chính trị hay chỉ là phương tiện thi cử để vào chốn quan trường.
Sự thắng thế vượt trội của Phật giáo đã khiến các nhà Nho thời bấy giờ phải canh tân học thuyết của họ bằng việc vay mượn giáo lý đạo Phật. Việc này xảy ra chủ yếu vào đời Tống, vì thế Khổng giáo đời Tống gọi là Tống Nho hay Khổng giáo Cách tân (Neo-Confucianism).
Việc đâu tiên là các học trò Khổng Tử đã giải thích lại các thuật ngữ của mình dưới ánh sáng Phật học. Chẳng han, Trương Tái đã mở rộng khái niêm “Nhân” không chỉ giới hạn trong loài người mà bao gồm những đời sống phổ quát, chúng sinh (cho gần giống thuyết từ bi cua đạo Phật). Một số nhà Nho vay mượn ngôn từ, khái niệm của Phật giáo trong tác phẩm của mình quá nhiều đến nỗi bị các đồng đạo phê phán là Phật tử trá hình, như trường hợp Vương Dương Minh.
Trong các bản luận của mình, hai anh hem Trình Di và Trình Hạo cũng đề cập đến chánh niệm, thiền định, tĩnh tâm. họ cũng nói về quả Thánh (như các địa vị Bồ-tát trong Phật giáo).
Những quan niêm về thế giới quan cuả Phật giáo cũng được họ vay mượn như thay vì nói tiểu kiếp, đại kiếp thì họ nói một chu kỳ thế giới kéo dài 129,600 năm. Những tư tương Hoa Nghiêm tông cũng được họ sao chép, như giáo lý “một là tất cả, tất cả chứa trong một”, v.v.
2. Lão giáo
Có thể nói sự Lão giáo chịu sự ảnh hưởng từ Phật giáo nặng nề hơn nhiều so với Khổng giáo. Nhiều lúc, các đạo sĩ “copy” nguyên xi mô hình Phật giáo.
Kenneth K.S Ch’en cho rằng chính Lão học đã trở thành Lão giáo khi có sự xuất hiện của đạo Phật và họ mượn mô thức của một tôn giáo từ đạo Phật thay vi chỉ tồn tại như một học thuyết trước đó .
Đầu tiên, họ học cách làm tranh, tượng từ đạo Phật. Những tranh tượng về các vị Thánh trong Lão giáo chỉ mới bắt đầu xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ 5, dưới triều Bắc Ngụy, với một vị Thánh chính giữ và các vị khác hầu hai bên, như tượng Tam Thánh hoặc Tam Tôn trong đạo Phật.
Các đạo sĩ còn “copy” nguyên bản những đoạn trong kinh Phật, rồi chế tác thành kinh cua họ. Đôi lúc, họ quên thay đổi danh từ Phật, chẳng hạn, trong Động Huyền Chơn Nhất Kinh, họ giữ nguyên xi: “…Đứng đầu trong các bậc Thánh và sự bất tử giác ngộ con đường của đức Phật…”,etc.
Sự vay mượn rõ ràng nhất có thể đươc nhận thấy từ truyện ký về Lão Tử vốn xuất hiện vào đời Tống. Theo Du Long Truyện, Lão Tử được sanh từ hông bên trái cua Thánh mẫu trong lúc bà đang vịn cành mai; khi sanh ra, Lão Tử đi chín bước, mỗi bước nở hoa sen,…Ngoài ra, họ cũng ngụy tạo thuyết “Lão tử hoá Hồ”. Theo đó, Lão Tử di về hướng Tây và hoá thân thành đức Thích Ca!
Mô thức tổ chức kinh điển cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Họ tổ chức kinh điển của Lão giáo gồm 3 tạng, mỗi tạng gồm 9 phần (trong khi Lão Tử chỉ để lại Đạo Đức kinh).
Ngoài ra, họ chũng sao chép nhưng giáo lý như Tam Thân, hay diễn đạt ý nghĩa Bồ-tát bằng danh từ “Thiên Tôn”, etc.
Rõ ràng, do mất đi vị thế trong xã hội, các Đạo sĩ đã tìm cách làm mới giáo lý của họ bằng cách vay mượn, đôi khi “copy” nguyên xi từ đạo Phật. Điều này chứng tỏ họ bị “Phật hoá” thay vì đạo Phật bị “Lão hoá” như phát biểu của ông Phong Uyên.
Thật ra, đa số người Việt chúng ta ai cũng bức xúc với nạn “Hán hoá” mà Trung cộng đang phát động để thực hiên mưu đồ bá quyền. Tuy nhiên, việc đánh giá đạo Phật tại Trung Quốc không nên để thành kiến “ghét nhau ghét cả tông ty họ hàng” hoặc nhìn thấy đạo Phật chỉ tồn tại như một hình thức tín ngưỡng, “mãi võ” trong xã hội hiện tại Trung Quốc mà không thấy sự đóng góp, ảnh hưởng to lớn trên mọi lĩnh vực, cũng như sự thích nghi một cách ngoạn mục mà vẫn giữ nguyên nội dung, cốt tủy của Phật giáo trong suốt chiều dài 2000 năm trên mảnh đất Trung Hoa.
(Tiếp theo)
6/ Ông Phong Uyên: “Mốt Zen” đang bị Yoga Ấn độ thay thế. Mọi người Tây phương đua nhau đi tập Du già”.
Theo tôi nghĩ Yoga được tập ở các nơi mà ông PU nói tới là loại Yoga gọi là Hatha Yoga, chú trọng luyện tập phần thể xác, nhiều hơn là tâm thần (mental), cũng có tác dụng như các cách luyện “khí công” dạy ở Trung Quốc và Việt Nam, tuy nhiều động tác không giống. Còn Zen của Nhật chú trọng về Thiền Định, gần với loại Raja Yoga của Ấn giáo chỉ được dạy bởi các đạo sư Ấn, và có lẽ vì khó tập hơn, với kết quả đến chậm, nên ít ngươì theo tu tập. Hơn nữa đối tượng hay mục đích của hai loại Yoga này khác nhau, và đáp ứng sở thích, mong cầu riêng của người theo tập. Giữa Yoga và Zen cũng vậy.
Cũng xin nói thêm, Yoga của Ấn Độ giáo (Tân Bà La môn) về sau có một nhánh gọi là Mật giáo (Tantra, tiếng Anh là Tantrism) xâm nhập vào Phật giáo ở Ấn Độ để cho ra Mật tông Phật giáo có nhiều nghi thức tác pháp khác lạ như đọc tụng thần chú, và quán Mandala là đồ hình phối trí các hình chư Phật kết hợp với các thần của Bà La môn. Vế mặt Thiền Định, Mật giáo chủ trương khai mở các luân xa (chakra) bằng cách dùng hơi thở và quán tưởng đưa luồng hoả xà (kundalini) đi lên. Phật giáo Mật tông ở Ấn sau đó được truyền qua Trung Quốc, Nhật (vẩn còn thịnh), và đã từng có ở Việt Nam (thịnh vào đời Lý và cuối đời Trần), nhưng phát triển mạnh và tồn tại lâu nhất ở Tây Tạng cho tới ngày nay. Nhưng về sau pha trộn với phái Sakta (Shaktism, Tinh lực phái) cũng của Ấn Độ giáo, có nhiêù hình thức tác pháp bị coi là đoạ lạc.
NHân đây, tôi không chăc lắm, nhưng đọc thấy Thiền của bà Thanh Hải có pha Mât tông, hay là Mật tông mà được gọi là Phật giáo. Thiền của ông Lương Sĩ Hằng (gọi là Phật pháp Vô vi, có trang mạng riêng) tuy có khi niệm Phật nhưng pháp Thiền giống với Đạo giáo. Pháp luân công dường như trộn lẫn Thiền Phật giáo và Đạo giáo. Nhưng tất cả bốn thứ Thiền kể trên không thấy ai cho là thuộc Thiền Phật giáo. Ở VN, thấy có nhiều sách dịch của đạo sư Osho, giảng vể Thiến Ấn giáo (tuy ông này rất thông hiểu đạo Phât, cả Thiền tông)
.
(Tiếp theo)
4/ Ông Phong Uyên viết :”khi truyền qua Trung Quốc phải lần lần hoà lẫn với 2 tôn giáo bản địa là Khổng giáo và Lão giáo để trở thành đặc Tàu”.
Ảnh hưởng qua lại giữa các tôn giáo bao giờ cũng có, giống như sự giao lưu trên thế giới giữa các dòng văn hóa khác biệt. Vấn đề là khi đón nhận tư tưởng, quan điểm mới, tất nhiên theo thời gian sẽ làm thay đổi về hình thức lẫn nội dung tôn giáo mình đang theo, nhưng có đánh mất bản sắc riêng của tôn giáo mình không. Với đạo Phật, giáo chủ không thay đổi, giáo lý về căn bản vẫn giữ nguyên: Đại Thừa chấp nhận toàn bộ giáo lý của Tiểu Thừa ( nhưng phần kinh điển riêng của Đại Thừa thì Tiểu Thừa không theo).
Khi truyền vào Trung Quốc, trong công trình dịch kinh, Phật giáo đã mượn nhiều từ ngữ của Lão giáo, trước khi tìm ra từ ngữ mới chính xác hơn (do đó kinh Phật thường được dịch nhiều lần). Vì lúc đó Lão giáo là đạo giáo duy nhất ở Trung Quốc có nhiều ý tưởng gần với đạo Phật, nên có sẵn ngôn từ diễn ý mà Phật giáo mượn dùng được, và những người phụ dịch kinh Phật đầu tiên thường cũng từng là đạo sĩ, hay quen thuộc với đạo Lão (đạo Lão lúc đầu rất có thiện cảm với đạo Phật, và nhiều đạo sĩ trở thành tăng sĩ). Khi Phật giáo phát triển cao ở Trung Quốc, Lão giáo và Khổng giáo vay mượn lại ý tưởng của đạo Phật, như Tống Nho chứa nhiều tư tưởng Phật giáo, vả đạo Lão có thể đã học pháp Thiền Định, hay đạo sĩ dần dần theo cách sống độc thân của tăng sĩ Phật giáo.
Cũng không nên tưởng lầm Phật giáo Đại Thừa là sản phẩm của “Tàu”, thật ra đã bắt nguồn ở Ấn Độ, với kinh điển Phạn ngữ được dịch ra Hán tự. Nhưng nhiều nhóm sư tăng dựa vào một vài bản kinh họ coi trọng nhất, và lấy làm giáo lý căn bản cho tông phái mới do họ sáng lập. Thí dụ ở tông Hoa Nghiêm, giáo lý căn bản dựa vào kinh Avatamsaka (kinh Hoa Nghiêm), và không phải là tông phái từng có ở Ấn. Tông Tịnh Độ cũng giống vậy. Riêng Thiền tông dựa vào hai kinh Kim Cương và Lăng già, nhưng có nhiều màu sắc Trung Quốc hơn.
5/ Ông Phong Uyên: “Thiền định chỉ được Tàu phát minh 1000 năm sau (Phật”
Đây là một sai lầm lớn khi nói về Phât giáo. Các kinh sách viết về cuộc đời của Thích Ca đều kể chuyện lúc mới xuất gia ngài tìm đến học pháp Tứ Thiền của ông Alara Kalama, sau đó đến học Tứ Định của Udraka Ramaputra. Khi tu tập thành công cả hai, nhưng thấy không đạt tới điều ngài mong muốn, Thích Ca bỏ đi và theo lối tu khổ hạnh. Sau đó, thấy pháp tu này không đưa đến trí tuệ giác ngộ, Thích Ca lại bỏ đi, nhận cúng dướng bát sữa của môt cô gái chăn bò để phục hồi sức khoẻ, và quyết định tu Thiền Định một mình ở môt góc rừng. Một chiều ngài đến ngối thiền dưới gốc cây pippala lúc sao Hôm bắt đầu mọc, và ngài chứng được lậu tận minh, dứt sạch phiền não, rõ hết đầu mối nghiệp duyên, tâm thể an tịch, sáng suốt, và thành đạo khi sao Mai vừa mọc. Thầy Nhât Hạnh viết lại đầy đủ câu chuyện này trong “Đường Xưa Mây Trắng” (từ trang 107).
Giới, Định và Tuệ (gọi là Tam học) là ba điều quan trọng bậc nhất của người tu học Phật, không thể thiếu điều nào dù ở tông phái nào. Trong Bát Chánh đạo, Định là phần Chánh Niệm và Chánh Định, và Tuệ là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy. Phật dạy Thiền Định trong các kinh của thời Phật giáo Nguyên Thủy như kinh Quán Niiệm Hơi Thở, kinh Tứ Niệm Xứ,…Về sau các bộ phái ở Ấn và các tông phái ở Trung Quốc phát triển thêm pháp Thiền định, và ở Bắc tông gọi nhiều loại thiền truyền thống có từ Thích Ca (hay từ Ấn Độ) là Thiền Như Lai, và thiền riêng của Thiền tông sau này là Thiền Tổ sư. Riêng Nam Tông ngày nay tuy phát triển thêm nhiều pháp Thiền khác (như thiền Minh Sát), nhưng còn giữ được loại Tứ Thiền, Tứ Định của thời Phật.
Chúng ta thấy Phật đã bắt đầu học Thiền Định từ hai vị đạo sĩ cho là của Bà la môn giáo. Thế nhưng, ngày nay không tìm thấy kinh điển nào của đạo Bà La môn có trước đạo Phật viết về pháp Thiền Định (The Buddhist texts are probably the earliest texts describing meditation techniques). Tôi viết điều này, và vài điều tiếp theo dựa vào trang Wikipedia tại:
http://en.wikipedia.org/wiki/Yoga
Thật ra, trong Upanishad (Áo Nghĩa thư, viết từ năm 800- 600 trước CN)) đã nói về Yoga nhưng chỉ một cách tổng quát, phải đến khi kinh Yoga-sutra do Pantajali soạn vào thế kỷ 2 trước CN mới gỉảng rõ hơn về các pháp Thiền (Dhyana), Định (Samadhi, còn dịch Tam muội), và các loại gọi là thần thông. Đến thể kỷ 7 (CN), và thế kỷ 10 có hai sách chú giải, với những giảng giải gần giống ý tưởng Phật giáo, như nóí về vô minh, ngã kiến, tham, sân và hữu ái, về các bậc của Samadhi, và các thành tựu khi tu tập Thiền; cũng bàn tới các trạng thái tâm gây trở ngại khi tập thiền (như tán loạn, thụy miên) rất giống sách Thiền Phật giáo. Tới đây thì loại Yoga của Ấn giáo không khác lắm với Thiền của Phật giáo, nhất là khi so sánh với Thiền Nam Tông, tuy chú giải nóí trên ra đời sau kinh Phật giảng về Thiền ( đoạn trên tôi tóm lược theo cuốn “Tìm hiểu sáu phái triết học Ấn Độ” của TT Thích Mãn Giác).
(Còn tiếp)
Bài viết của ông Phong Uyên đưa ra nhiểu khẳng định về đạo Phật, hay về chuyện khác, mà không dẫn chứng cứ hoặc với chứng cứ không đúng. Tôi chỉ nêu và góp ý vài điểm.
1/ Ông Phong Uyên cho người sơ cổ Sapiens “tin tưởng có một đấng thiêng liêng nằm trong tầng sâu nhất của tâm thức con người” .
Cứ cho chứng cứ khảo cổ khám phá người thời cổ tin có đấng thiêng liêng, nhưng dù vậy quan niệm có một đấng Tạo hoá sinh ra con người và vạn vật phải đến rất lâu sau đó, và có lẽ không thể cách nay hơn 4 ngàn năm. Lịch sử cho thấy người Ai Cập cổ thờ đa thần, họ theo nhất thần giáo một thời gian ngắn trong một hai đời vua, và sau đó trở lại đa thần. Từ đó chỉ có nhất thần giáo của Do Thái được lịch sử ghi nhận, nhưng không biết đây có phải là do tiếp nhận ở người Ai Cập (khi người Do Thái sống tại đó), hay theo truyền thuyết Do Thái là do Abraham mang theo từ vủng đất Mesopotamia. Nhưng có vẻ như Do Thái giáo nhất thần chỉ thực sự thành hình từ khi Moses lên núi Sinai, và đem về 10 điều răn khắc trên đá (khoảng năm 1200 trước CN). Cũng có lẽ nhất thần giáo chỉ thành hình khi có chế độ vua chúa, vì ông Trời thường được đồng hóa với vua, như người Trung Hoa gọi là Thượng Đế (vua ở trên trời), Jesus được gọi là Chúa (Lord), và kinh Thánh thường nói đến “nước trời” (The kingdom of God). Vì vậy khó tưởng tượng người cổ sơ, sống cách nay vài chục ngàn năm, đã có ý niệm về ông Trời tạo sinh con người, tuy ta tin được có thể họ có những “băn khoăn siêu hình” khi cảm thấy những huyền bí quanh quất ở trong thiên nhiên hay gần bên sự sống chết của con người (như Rig Veda cho thấy điều này). Nhưng đạo Phật tránh bàn về đấng Tạo hóa, vì thấy chỉ dẫn tới những tranh luận dài vô tận. Thật ra, có một quan điểm trong đạo Phật cho đó chỉ là vọng tưởng của con người, và dù đạo Phật không chấp nhận hay bác bỏ , nhưng cũng không nói như Nietzche “Thượng đế đã chết “. Nói chung, kinh điển Phật giáo đã bị hạ thấp vai trò của Brahma (Phạm Thiên)là vị thần cao nhất trong ba vị thần tối thượng được đạo Bà La môn sùng bái, và không tôn thờ Brahma, nên là bằng chứng cho thấy Phật giáo thoát ly khỏi ảnh hưởng của Bà La môn giáo, nếu không chủ trường chống lại.
2/ Ông Phong Uyên :” Đạo Phật, nhìn dưới khía cạnh lịch sử, chỉ là một tôn phái của đạo Bà La Môn, cũng không tránh được số phận đó khi bị đạo Bà La Môn “Đổi mới” đuổi ra khỏi Ấn Độ”.
Đó là theo quan điểm lịch sử của ai ? Tôi đọc thấy các học giả chia các tôn giáo lớn trên thế giới ba “nhóm” : (1) đạo thuộc “nhóm” Abramic (coi Abraham là tổ phụ) như đạo Do Thái, Thiên Chúa, và Hồi; (2) đạo theo Veda (Vedic) như Ấn giáo (Hinduism là tên gọi chỉ mới có gần đây, trước là Bà la môn); (3) đạo ở Ấn không theo Veda, như Kỳ Na giáo (Jainism), đạo Sikh ( Sikhism) và Phât giáo. Nhưng chỉ ba đạo Thiên Chúa, Hồi, và Phật được nhiều dân tộc tin theo, vượt ra khỏi giới hạn của đất nước đã phát sinh ra.
Đạo Phật có chung nguồn cội văn hoá với Ấn giáo, nhưng không chung quan điểm xã hội (chống chế dộ đảng cấp), không chung lịch sử thành hình, và không chung giáo nghĩa, tín điều, phương cách hành đạo. Chuyện đạo Phật về sau không phát triển ở Ấn Độ có nhiều lý do : (1) quân Hồi khi vào Ấn Độ phát huỷ nhiều chùa và giết hại nhiều tăng sĩ, bắt dân chúng phải cải gíáo, và người ta thấy các vùng đất trên bán đảo Ấn trước kia đạo Phật phát triền mạnh sau này phần lớn thuộc nưóc Pakistan Hồi giáo (ở các vùng không bị Hồi giáo chiếm thì thuộc vua theo Ấn giáo, nên đạo Phật cũng suy yếu dần); (2) đạo Phật có quan điểm quá mới đối với truyền thống, tâm thức tôn thờ thấn linh của người Ấn; (3) đạo Phật chủ trương quá tiến bộ về bình đẳng giai cấp ở Ấn, mà ngay tới ngày nay họ còn chưa dứt khoát bỏ chế độ đẳng cấp. Về sau, đạo Phật thành công ở các nước không chịu những tai ách hay trở ngại trên. Ngay vùng Tân Cương ngày xưa ở Trung quốc là vùng của đạo Phật, với nhiều di tích còn để lại, nhưng vì bị quân Hồi giáo chiếm mà nay đa số dân theo đạo Hồi. Chưa thầy có sử gia nào nói đạo Phật bị “đuổi ra khỏi Ấn Đô”,vì chỉ tăng sĩ mang kinh đi truyền giáo, không phải dân Ấn theo Phật giáo đã ra khỏi nước.
3/ Phong Uyên: “Hóa thân (Réincarnation) của Platon và Luyện ngục (purgatoire) của KiTô giáo tương đồng với ý niệm luân hồi.”
Tôi không có ý kiến vì không biết Platon và Luyện ngục nói gì. Nhưng các cuốn sử thế giới đều ghi chuyện vua Asoka đã gửi nhiều phái đoàn Phật giáo đến các vùng Cận Đông, Trung Á, Nam Á để tuyên hoá đạo Phật, và người Hy Lạp có dịp đến Ấn Độ đã biết tới đạo Phật, do đó coi như họ biết đến thuyết luân hồi. Thuyết này thật ra là di sản chung của văn hoá Ấn, không phải của riêng Phật giáo. Hoặc có thể ý tưởng “hóa thân” từng có ở nhiều dân tộc, thuộc vào niềm tin chung nào đó. Trang Tử sau khi nằm mộng tỉnh dậy cứ băn khoăn không biết mình đã hóa bướm hay bướm hoá ra mính. Cũng ở Trung Quốc, chuyện chồn tu (tiên) biến thành con gái đẹp, như Đắc Kỷ đời vua Trụ nhà Thương, hay trong nhiều truyện Liêu Trai, là thuộc niềm tin của Lão giáo hay dân gian .
(còn tiếp)
Vài hàng góp ý với bạn Phong Uyên,
Cám ơn nhiều bác đã lên tiếng phản hồi bạn Phong Uyên về bài viết mới đây “Không thể định nghĩa Phật Giáo”. Tôi biết trước sẽ có nhiều ý tưởng phản biện, để tránh trùng hợp tôi không muốn nhắc lại, chỉ muốn đưa ra đầy vài lập luận nhỏ để góp ý với bạn Phong Uyên:
1)- Bạn Phong Uyên khẳng định:”Không thể định nghĩa Phật Giáo”, có vẻ mâu thuẫn với những gì bạn viết trong bài trước (Talawas 07/05/2010), ví dụ bạn từng viết (quote):
1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo.
Vậy thì bạn Phong Uyên đã thâu thập kiến thức về Ấn giáo đến đâu rồi để hiểu được “Đạo Phật nguyên thuỷ”? Không lẽ bạn đã cố công sáng tác một bài thật dài, chứa nhiều giáo điều, tư tưởng, từ ngữ tràn đầy của kinh Vệ Đà (Ấn Giáo) mà bạn vẫn chưa thể nào hiểu được Đạo Phật ư? Đến giờ này lại thú nhận không thể định nghĩa Đạo Phật là gì? Mời bạn giải thích thêm về “kiến thức của bạn”.
2)- Để trả lời câu hỏi của tôi xoay quanh con số 84000 pháp môn cùng nguồn gốc của nó, trong bài trước “Talawas 07/05/2010) bạn đã từng khẳng định:
…”Theo kinh sách Vệ Đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật…”
Tuy nhiên trong bài viết này, bạn lại quay hướng 180 độ, quy trách nhiệm lên thầy Thích Nhất Hạnh về nguồn gốc con số 84000 pháp môn (quote):
… “Con số 84000 pháp môn tôi đưa ra là lấy trong cuốn Living Buddha, living Christ của thày Thích Nhất Hạnh. Thày nói là theo kinh sách. Kinh sách nào các vị có dịp cứ hỏi thẳng thày Thích Nhất Hạnh”.
Đến đây thì tôi có cảm tưởng bạn Phong Uyên hơi lúng túng, nói năng bất nhất, kinh sách không rõ ràng. Thế thì đề nghị bạn Phong Uyên nên bỏ thêm nhiều thời gian nữa, đóng cửa, rút cầu, tịnh tâm, nghiên cứu sách vở cho kỹ đi trước khi trở lại Talawas đàm đạo với các bác trong diễn đàn này, bạn đồng ý chứ?
3)- Về câu hỏi của tôi “Tại sao thái tử Tất Đạt Ta phải rời bỏ cung cấm lúc nửa đêm, lặng lẽ ra đi để tìm hiếu chân lý cuộc sống?”. Bạn Phong Uyên không trả lời được cũng không sao, bởi vì bạn có hiểu danh tự Phật là gì đâu? Bạn đâu có thể định nghĩa nổi Phật Giáo là chi? Do đó tôi không cần phải truy cứu thêm làm gì.
Vài hàng ngắn ngủi chia sẻ với bạn, nếu có gì thất thố, xin bạn Phong Uyên và các bác tha thứ.
Cũng muốn viết PH dài dài với tác giả Phong Uyên (PU). Nhưng sau khi đọc PH của bác Dukkhakarma tôi thấy quá đầy đủ và chính xác nên… chỉ có vài hàng ngắn ngủi với tác giả thôi.
* Bài trước bác PU đi tựa là “Muốn hiểu ĐÚNG đạo Phật…”, đến hôm nay lại có tựa là: ” Không thể định nghĩa được đạo Phật.”
Tôi cảm thấy có chút ngỡ ngàng. Đã cho rằng đạo Phật “không thể định nghĩa được” thì làm sao có thể “hiểu đúng” được, thưa bác ?
* Định nghĩa đạo Phật gọn ghẽ nhất, có thể là “đạo Giác Ngộ” cũng đủ, vì nội hàm chữ “Giác Ngộ” có các đặc tính sau đây: đưa chúng sinh đến giải thoát sinh tử luân hồi, dứt trừ vĩnh viễn khổ đau, phá sạch chấp nhất(Ngã , Pháp), đạt Trí Tuệ và Từ Bi.
1. Bác Phong Uyên (chắc sợ người khác quên nên) cứ nhắc đi nhắc lại rằng Phật giáo là một phái của Bà-la-môn giáo. Quan điểm này của bác có lẽ đã đến từ việc “tham khảo những công trình khảo cứu của các học giả danh tiếng quốc tế.” Thực ra, việc xem Phật giáo là một phái của Bà-la-môn giáo không phải chỉ xảy ra bây giờ (thời điểm bác Phong Uyên viết bài), hay từ thời điểm các học giả phương Tây bắt đầu tìm hiểu Phật giáo (thời kỳ thuộc địa) mà nó đã có từ nhiều thế kỷ trước, bởi chính các Bà-la-môn. Và việc này đã có lúc đưa đến sự thành công vượt bậc cho Bà-la-môn giáo, nhưng không phải do nói nhiều mà thành công, mà bởi do những sách lược hành động bài bản có sự trợ giúp của các vị vua theo Bà-la-môn giáo.
Phật giáo có phải là một phái của Bà-la-môn giáo hay không, căn cứ vào một vài “công trình khảo cứu của các học giả danh tiếng quốc tế” này thì ta thấy phải, nhưng dựa vào nhiều “công trình khảo cứu của các học giả danh tiếng quốc tế” khác ta lại thấy không phải. Và cuối cùng thì người theo Phật giáo cứ theo và thực hành đạo của mình, còn các “học giả danh tiếng” thì vẫn cứ yesyesnono để mà viết và xuất bản sách báo nuôi thân, và đôi khi cho có công trình để nhận học hàm học vị này nọ.
Tôi đồng ý rằng Phật không phủ nhận Phạm Thiên (Brahman), nhưng có điều Phật chỉ chấp nhận Phạm thiên như là một vị thần trong vô số các thần linh khác ở các “cõi trời” khác nhau. Tuy vậy, Phạm Thiên có một vai trò khá đặc biệt trong Phật giáo, vì vị thần này đã thỉnh (mời) Phật thuyết pháp cho nhân gian sau khi Phật giác ngộ. Phạm Thiên trong Phật giáo vì vậy không phải là Phạm Thiên của Bà-la-môn giáo, “BEING” đã sản sinh ra hệ thống đẳng cấp (varna) với brahmin từ miệng, ksatriya từ tay, vaishaya từ bụng và shudra từ chân (còn những người ngoài lề xã hội (dalits) thì không thấy nói sinh ra từ đâu, chắc đụng đâu sinh ra đó quá), với những nghề nghiệp và địa vị xã hội cố định kèm theo.
Lại theo những “công trình khảo cứu của các học giả danh tiếng quốc tế,” Phật giáo và Kỳ-na-giáo (Jainism) được coi là hai tôn giáo không thuộc dòng chính Bà-la-môn giáo. Tôi ủng hộ quan điểm này, dù tôi là học sinh và không có ý muốn “chen vai” với các học giả. Và quan điểm này của tôi không phải do tham khảo các “công trình khảo cứu của các học giả danh tiếng quốc tế” mà có, mà vì tôi đọc kinh thấy Phật phủ nhận hệ thống đẳng cấp, tức cũng phủ nhận luôn luật Manu, phủ nhận quyền uy của các Vedas, phủ nhận vai trò tối cao của Brahman… Nói chung Phật giáo đã không chấp nhận những điều cơ bản nhất đã làm nên Bà-la-môn giáo.
2. Phật giáo xuất hiện từ thế kỷ thứ 6 BC và đạt đến đỉnh điểm hưng thịnh của nó dưới triều đại vua Ashoka, khi vị vua này sau chiến trận Kalinga đã quy y theo Phật giáo như một sự sám hối, và cũng để tìm nơi Phật giáo những giá trị đạo đức cho việc áp dụng vào những vấn đề xã hội vào thời đại của ông. Với sự ủng hộ nhiệt thành của vua, những phái đoàn truyền đạo của Phật giáo được phái đến những miền đất mà ngày nay là Srilanka, Burma, Thái lan,… và cả những xứ sở phía Bắc Ấn (mà ngày ngày nay là những quốc gia có cái đuôi tan, an). Nhưng các phái đoàn truyền đạo này không phải đều có sự thành công như nhau trong việc truyền bá Phật giáo. Sự thất bại của một số phái đoàn, không phải vì họ kém tài năng hơn những phái đoàn khác, mà do vì nơi họ đem Phật giáo đến người dân ở đó đã không chịu tiếp nhận, hoặc bởi do người dân ở đó có nền văn hoá riêng quá vững, hoặc bởi nền văn hoá của họ quá khác với Phật giáo, nên Phật giáo không có “cửa” để vào. Thời kỳ này chưa có Mahayana, thưa bác Phong Uyên.
Sau thời vua Ashoka, Phật giáo bắt đầu dần đánh mất sự vinh quang của mình, tuy vậy các tăng sĩ Phật giáo vẫn còn nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các tầng lớp dân chúng và điều này giúp họ có nhiều thời gian cho việc nghiên cứu kinh điển tại các tinh xá, nhưng lại khiến họ ít đi việc khất thực trong các xóm làng và không còn gần gủi dân chúng, để rồi từ đó tạo nên một hố ngăn sâu sắc giữa tăng sĩ và cư sĩ (lúc này vẫn chưa có “Chán” bác Uyên nhé [Pinyin của 禪 thường là Ch’an, nhưng bác Uyên viết là Chán (ghét/chường/chê?), chẳng biết cái ni có phải là trò “đỏng đảnh của ngôn ngữ” không?]).
Bên cạch đó, từ sau triều đại Maurya (Tàu dịch là Khổng Tước, tui cố gắng dùng từ gốc kẻo bị tặng mũ “đặc tàu”), dưới các triều đại như Batrian Greek, Saka (Scythian), Parthian, và Kusan, dân chúng luôn đối mặt với khổ đau do chinh chiến mang lại. Người Phật tử tại gia bấy giờ cần đến một sự đổi thay trong tôn giáo, đó là tôn giáo không có rào cản giữa tu sĩ và cư sĩ, giác ngộ là đích đến chung chứ không phải chỉ dành riêng cho một “elite” nào đó,… và Phật giáo Đại thừa đã xuất hiện trong bối cảnh này, mà theo “công trình khảo cứu của các học giả danh tiếng quốc tế” là nhằm đáp ứng những nhu cầu của con người và xã hội thời đại (ở đây tôi chỉ bàn về khía cạnh xã hội, chứ không nói về sự tranh luận triết học tại thời điểm đó, mà nó cũng có tác động vào sự sinh khởi của Đại thừa). Phật giáo Đại thừa do đó tất nhiên có những điểm không giống với Phật giáo Nguyên thuỷ, nhưng không phải vì vậy mà Đại thừa không bao hàm giáo pháp thời kỳ đầu.
3. Phật giáo được giới thiệu vào Trung Quốc từ giữa thế kỷ thứ nhất AD, nhưng việc phiên dịch kinh điển lại được thực hiện vào giữa cuối thế kỷ thứ 2. Hiện giờ các “học giả danh tiếng quốc tế” chưa xác quyết được hình thức Phật giáo đầu tiên được giới thiệu vào Trung Quốc là gì, Nguyên Thuỷ hay Đại thừa. Những kinh điển được phiên dịch vào thời kỳ đầu đều có đủ cả hai truyền thống. Nhưng theo một vài công trình khảo cổ gần đây thì Phật giáo được truyền vào Nam Á và sau đó là Trung Quốc sớm nhất dưới triều đại Ashoka, và nếu như vậy thì Phật giáo được truyền vào các nước này phải là Phật giáo Nguyên thuỷ. Do đó, vào thời kỳ đầu, các hình thức Phật giáo đều được giới thiệu vào Trung Quốc, nhưng rồi Đại thừa đã tồn tại được ở đây, còn Nguyên thuỷ thì không; nhưng không phải Đại thừa được chấp nhận vì nó “cao” hơn Phật giáo Nguyên thủy, mà vì nó phù hợp hơn.
Khi Phật giáo đến Trung Quốc, nền văn minh và văn hoá ở quốc gia này đã đạt đến một tầm mức cao và phần nào khác với văn hoá Ấn. Ví dụ, một tăng sĩ bưng bình bát khất thực được xem là biểu hiện sự cao cả ở Ấn – một lối sống tu hành được hầu hết các tăng sĩ của các giáo phái mang đặc tính Samana/Sramana thực hiện, nhưng với văn hoá Trung Quốc thì đó là điều không thể chấp nhận được; và một người đắp y để trần vai như các sư Nguyên thuỷ không được xem là biểu lộ sự lịch thiệp ở quốc gia nay, trong khi nó được coi biểu lộ sự tôn kính ở Ấn. Đó chỉ mới nói đến một khía cạnh nhỏ về phương diện văn hoá xã hội, chưa nói đến vấn đề tư tưởng và triết học này nọ.
Đứng trước một nền văn hoá lớn ngang ngửa với Ấn và có nhiều ngăn cách, những người truyền giáo phải làm gì, mang Phật giáo trở về lại cố quốc hay là có những “điều chỉnh” để người dân ở đó chấp nhận? Câu hỏi này chắc không phải dành cho bác Phong Uyên, mà dành cho các nhà Tôn giáo.
Phật giáo được thực hành ở Trung Quốc dù có những sai biệt nào đó với Phật giáo Nguyên thuỷ, trên cơ bản nó vẫn thừa kế những giáo lý cốt tuỷ nhất của thời kỳ đầu. Đại thừa hay Nguyên thuỷ đều chấp nhận năm giới cấm, tứ đế, nghiệp, mười hai nhân duyên (hoặc duyên khởi), ba dấu ấn của pháp (vô thường, khổ, vô ngã), tam vô lậu học (giới, định và tuệ)… Ch’an, mà bác Uyên nói rằng một sản phẩm của Trung Quốc, sẽ không bao giờ có mặt và trở thành một tông phái ở Trung Quốc nếu không có Samadhi hay dhyana trước đó. Cũng như vậy, nếu không có Ch’an thì sẽ không có Zen của Nhật Bản, một “nhân bản” được các tăng sĩ Nhật lấy “gene” từ Ch’an của Trung Quốc. Còn vì sao “Thiền Nhật bản trở thành một cái mốt cho người Phương Tây từ cách ăn uống cho tới cách sống” còn Ch’an Trung Quốc thì không, điều này còn liên hệ đến vấn đề lịch sử Phật giáo tại Trung Quốc từ thế kỷ 18,19 và đặc biết là thế kỷ 20.
4. Một tôn giáo, một hệ thống triết học… lớn mạnh hay suy tàn nhiều khi không phải chỉ vì hệ tư tưởng của tôn giáo đó, mà còn vì sự tác động của những yếu tố khác như chính trị và xã hội. Ở Srilanka, dưới thời thuộc địa Anh, nhiều Phật tử đã bỏ đạo để theo Anh giáo, nhưng sau khi Anh không còn đô hộ Srilanka nữa, những người này đã quay trở lại với đạo Phật. Dưới hay sau thời Anh đô hộ, Phật giáo tại Srilanka vẫn là Phật giáo Theravada, nhưng có khi người ta theo, có khi người ta bỏ. Người dân Mông Cổ thực hành Phật giáo Mật Tông. Dưới thời Xô Viết thống trị quốc gia này, hàng loạt chùa chiền bị san bằng, hàng loạt tu sĩ Phật giáo bị đẩy vào các trại lao động khổ sai ở Siberia hay bị hành quyết tại những mồ chôn tập thể (các sử gia Mông Cổ đã tìm ra những huyệt mộ này), và tất nhiên rất nhiều tín đồ đã phải bỏ đạo. Nhưng sau khi Liên Xô sụp đổ, Phật giáo tại Mông Cổ đã có sự hồi sinh mạnh mẽ. Dưới hay sau khi Liên Xô thống trị Mông Cổ, hình thức Phật giáo tại xứ sở này vẫn là Mật giáo, nhưng có khi người ta theo, có khi người ta bỏ. Lịch sử dài lâu của Phật giáo Trung Quốc cũng bao lần suy thịnh, thịnh suy như vậy, và biết đâu sau này khi Trung Cộng sụp đổ, “Chán” lại trở nên hưng thịnh ở Trung Quốc như nó đã từng hưng thịnh trước đây! Mã Lai, Indonesia… có thời Phật giáo Theraveda chiếm ưu thế, nhưng nay dân chúng của các quốc gia này đều theo Hồi giáo…
Và nói gì thì nói, tôi đồng ý với một vài “học giả danh tiếng quốc tế” rằng, nếu không có Đại thừa, Phật giáo ngày nay sẽ không được biết đến ở Trung Quốc, Nhật, Hàn, Nga… Điều này không phải các học giả nói theo cảm tính, mà là một vấn đề được kiểm chứng qua lịch sử phát triển của Phật giáo. Và nếu không có Đại thừa Phật giáo, biết đâu hôm nay tôi đang là một Muslim đang chuẩn bị mang bom đi đánh đâu đó chứ không phải ngồi gõ những dòng này…
Tôi không muốn dài dòng trong comment của mình nhưng rồi đã dài dòng (mà xét thấy vẫn chưa thấu đáo lắm). Và trước khi kết thúc tôi có thêm vài lời ngoài lề thế này:
Tôi nghĩ trước khi viết bài, bác Phong Uyên nên dành thời gian (không cần phải 15 ngày như bác Hồ Trung Tú) khoảng chừng nửa giờ để thực tập thiền, nếu bác sợ thực tập nhầm phải “Chán” của Tàu thì bác có thể thực hành Vipassana (nhưng cái này cũng không phải Yoga của Bà-la-môn đâu bác nhé) để cho tâm định tĩnh, cố gắng đưa các loại “niệm” như Tàu/Việt cộng… ra khỏi đầu; và sau đó bác bắt đầu viết bài. Có như vậy những bài viết của bác dạng này sẽ phần nào trung thực, khách quan và lương thiện hơn. Chứ bác viết thế này, mới đọc tựa đề nghĩ bác sẽ cho độc giả (ít nhất là tôi) thưởng thức món ăn “thuần một vị,” nhưng sau khi đọc xong hết bài lại thấy rằng mình vừa ngốn xong một món lẩu thập cẩm.
@Hoangnguyen
Tôi cứ chần chừ mãi với bài mới này của ông Phong Uyên và đang định viết phản hồi thì tôi đọc được hai bài phản hồi của ông Hoangnguyen và mới nhất đây là của ông Hoà Nguyễn và tôi thấy rất đầy đủ và những chi tiết đưa ra đã như những bát nước lạnh làm tan đi những bực dọc của tôi về bài viết của ông Phong Uyên.
Tôi thì cũng tập tành học Phật gần đây thôi mặc dù ba má tôi là những Phật tử “thuần thành”. Thuở nhỏ thì tôi chỉ biết theo ba má đi Chùa và tôi có hiểu gì đâu. Người lớn thì tụng kinh ê a rất thành khẩn nhưng phải thú thật ba má tôi không bao giờ giảng cho tôi về kinh kệ. Chương trình học của 7 năm trung học của tôi cũng không giảng dạy gì nhiều về đạo Phật. Có năm đệ tam là được thầy Việt văn nói đến một cách qua loa qua những tác phẩm của Kim Dung, nhất là qua tác phẩm Cô Gái Đồ Long.
Và cái ký ức về Đạo Phật của tôi ở VN nói lên một Đạo Phật mang tính chất thần khải (nghĩa là Đức Phật đối với ba má tôi là một vị thần rất lớn và Ngài có đủ quyền lực giúp gia đình tôi được nhiều may mắn và tai qua nạn khỏi nếu mình chịu khó tụng kinh đều đặn, đi Chùa cầu nguyện thường xuyên và ăn hiền ở lành theo lời Phật dạy).
Cái nhìn và nắm bắt về Đạo Phật của ba má tôi nó cũng không khác cảnh người mù sờ voi mà tác giả Phong Uyên đã nói. Và dĩ nhiên tôi hoàn toàn không trách cứ ba má tôi đã đưa tôi vào một con đường hạn hẹp về sự tu học này. Mãi đến sau này được đi ra du học nước ngoài, sự hiểu biết của tôi về Đạo Phật mới được phát triển và từ đó tôi (người vẫn còn mù) “sờ” được thêm vài bộ phận nữa của con voi (Đạo Phật). Tôi thấy mình được may mắn có thật nhiều sách vở và nhiều Thầy dạy dỗ từ khắp các Pháp môn khác nhau. Nào là những năm Thầy Nhất Hạnh đến Canada và gia đình chúng tôi được sung sướng đi những khoá tu và học hỏi thật nhiều với không biết bao nhiêu sách của Thầy. Nào là những bài giảng và sách vở của Thầy Thanh Từ khi Thầy ghé qua Canada. Nào là các sách về Thiền và các bài giảng của các Thầy trong phái Thiền Thái Lan Ajan Chah (Ngài đã qua đời). Nào là các sách và những bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi Ngài ghé Montréal. Từ Thiền cho đến Tịnh Độ, từ Mật Tông cho đến Nam Tông, từ Phật Giáo nguyên thủy cho đến Phật Giáo không nguyên thủy, tất cả đều bổ túc cho nhau và làm giàu cho một Đạo Phật với một tuệ giác đặc sắc và cao thâm.
Và vì những phương pháp (những cánh cửa) đi vào đạo đã được Đức Phật tuỳ căn cơ mà giảng dạy đó nó nhiều và phức tạp, người tu học phải cẩn thận và khôn ngoan để không bị kẹt vào sự hiểu sai (Kinh Người Bắt Rắn) mà chụp nhầm vào đuôi rắn để nó quay đầu lại cắn cho. Và cái này không dễ, chúng ta phải luôn sáng suốt và thận trọng.
Tu để thành Phật và thành Phật để làm gì là những câu hỏi rất lớn mà chúng ta không nên lạm bàn. Nhưng tu để tự mình tìm được một hướng đi giúp mình sống an lạc, vừa giúp được cho chính mình và giúp được những người chung quanh thì đó cũng là quá đủ cho tôi (người được may mắn sờ voi). Đạo Phật đã và đang giúp cho tôi rất nhiều.
Phong Uyên: Theo tôi, người ta chỉ có thể định nghĩa một từ ngữ, một khái niệm, chứ không ai định nghĩa một đạo giáo, một thực thể sống động bao gồm cả tỷ người.
KS: Bác nói vậy không ổn, đạo Công Giáo, đạo Hồi có lượng tín đồ đông hơn 1 tỉ người, thế nhưng người ta vẫn định nghĩa dễ dàng đạo Công Giáo là gì và đạo Hồi là gì.
===
Phong Uyên: Thực thể Đạo mà điển hình là đạo Phật Nguyên thủy …Những người Phật tử chỉ tin một điều giản dị là phải tránh nghiệp báo để khỏi phải qua nhiều kiếp trong vòng luân hồi, mau trở về Nirvana hoà mình với Trời với Phật. Hóa thân (Réincarnation) của Platon và Luyện ngục (purgatoire) của KiTô giáo tương đồng với ý niệm luân hồi.
KS: Đạo Phật Nguyên Thủy dùng nhận thức để hiểu, vì vậy nó dễ hiểu với đa số quần chúng nhân dân lao động. Thế nhưng nó không phải chỉ có vậy. Nếu bác Phong Uyên nghĩ nó chỉ có vậy thì thật tiếc cho bác.
===
Phong Uyên: Đạo Phật đại thừa khi vào Trung Quốc bị “Khổng hoá” và “Lão hoá” mang nhiều tính cách triết học mất dần tính cách đạo giáo.
KS: Đến thời Đại thừa, đạo Phật tuy mang nhiều tính cách triết học nhưng đạo Phật Đại thừa không bao giờ mất đi sự thực hành. Đại thừa thường xuyên nhắc nhở Phật tử “Tri kiến lập tri tức gôc vô minh”, sự nhận thức đó, triết lý triết học đó có gốc là vô minh, cần phải thực hành chứ sự triết học đó như nói về cơm mà không được ăn cơm. Nói vậy OK chứ bác Phong Uyên ? 🙂
Đó là chưa nói, chính sự thực hành của Đại Thừa, thực hành như Thiền Tông “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” thì cái đích đến ấy nó xa và triệt để hơn rất nhiều về sự nhận thức như bác nói : “tin một điều giản dị là phải tránh nghiệp báo để khỏi phải qua nhiều kiếp trong vòng luân hồi” .
Và tôi nghĩ, sự đóng góp cho nhân loại trong vài ngàn năm tới của Phật giáo chính là các đường lối Đại Thừa đó chứ không phải chỉ có và chỉ có “niềm tin về tránh nghiệm báo” như bác nói.
===
Phong Uyên: Thực thể Zen: Thiền Nhật bản trở thành một cái mốt cho người Phương Tây từ cách ăn uống cho tới cách sống, cách tu dưỡng tinh thần. Các thiền sư Nhật cũng viết rất nhiều sách và giảng thuyết trên truyền thanh, truyền hình, dành cho những người muốn hiểu Zen một cách sâu xa hơn. “Mốt Zen” đang bị Yoga Ấn độ thay thế.
KS: Chính vì “Mốt Zen” của Nhật chỉ thiên về sự trầm tư mặc tưởng, bước vào sự rỗng không như “trăng chiếu trên mọi vật” (Thiền Mặc Chiếu), hoặc ngồi chỉ biết chuyện ngồi (Đả tọa) … nên nó mới dễ dàng bị Yaga thay thế. Ngay thầy Nhất Hạnh cũng vây. Dường như thầy ấy đã quên câu “tuyên ngôn” của Thiền Tông “Trực chỉ nhân tâm. Kiến tánh thành Phật”.
Thế nào là trực chỉ ?
Nhân tâm là cái gì và ở đâu để mà trực chỉ?
Chỉ riêng với hai câu hỏi này thôi chúng ta sẽ thấy ngay là việc tìm câu trả lời là rất khó, thậm chí các thầy thuyết giảng nhiều nhất dường như cũng tránh né hai câu hỏi này.
Chình vì vậy, điều tôi muốn nhắn đến bác Phong Uyên là, là một trí thức xin bác đừng nhìn đạo Phật như là những gì đang nhìn thấy, dường như có nhiều điều trong các kinh sách Phật giáo bị hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhiệm vụ của thời đại hôm nay, trong điều kiện có internet, là hãy cố tìm lại “bản gốc” , cái tinh hoa nhất, cái cốt tủy nhất, cụ thể là Phật đã làm gì trong 49 ngày dưới cội bồ đề , và sự giác ngộ của Phật là giác ngộ cái gì, như thế nào ? Và liệu chúng ta có lặp lại chuyện đó được hay không ?
Nói thật với bác, tu thành Phật thì tui tu chơi chư tu để tránh nghiệp duyên thì với tôi chuyện không đáng quan tâm, chuyện nghiệp duyên này chỉ cần sống theo đạo Lương ông bà mình dạy “sống để phúc cho con” là cũng quá đủ rồi, đâu cần đến Phật giáo làm gì 🙂
Tôi trả lời câu ông Phong Uyên hỏi.
Tôi viết Giăng Baptit tiền hô, là theo cách gọi của đạo Tin Lành (mà tôi được đọc); có lẽ Công giáo gọi là Thánh Giăng Baptit tiên báo (tôi không chắc từ này đúng, vì không đọc kinh Thánh của Công giáo VN) ).
Tân Ước tiếng Anh (của Tin Lành) gọi ông ấy là John the Baptist, và đạo Chính Thống đưa ông này lên làm Thánh và gọi Saint John the Forerunner.
Forunner , hay Precursor, trong tiếng Anh chỉ người đi trước báo tin cho mọi người biết là có một nhân vật rất quan trọng (như vua, chúa) sắp đến. Hán Việt ngày xưa gọi đó là “tiền hô”, và được dùng lại ở đây. Tiếng Pháp tương đương có lẽ là Precurseur
Theo Tân Ước của Mark, John Baptist, người anh em họ đời thứ hai (second cousin) của Jesus rửa tội nhiều người ở sông Jordan, và nói cho mọi người biết :” Người đến sau ta cao trọng hơn ta nhiều. Ta không đáng cởi giày cho người. Ta rửa tội các ngươi bằng nước, nhưng người đó sẽ rửa tội các ngươi bằng ơn Thánh linh “.
Chép lại câu này nguyên văn trong một bản Thánh kinh tiếng Anh để tránh hiểu lầm:
“He annnonced to the people : “The man who will come after me is much greater than I am. I am not good enough even to bend down and untie his sandals. I baptize you with water, but he will baptize you with the Holy Spirit” (Mark 1.7–8).
Chình ví câu nói trên mà Giăng Baptít được coi là người tiên báo Jesus là đấng Mê-si (Messiah) sẽ ra đời như Cựu Ước viết, và ngưới Do Thái hằng mong đợi.
Ông Phong Uyên: “Tôi bắt buộc phải nói với ông là các triết nhân thời Khai sáng trước Cách mạng Pháp, đặc biệt là Voltaire, đã lấy Khổng Tử làm gương mẫu “.
Tôi có cần nhắc lại cho ông Phong Uyên biết không là các nhà truyền giáo Tây phương , như Francisco Xavier đến Trung Hoa năm 1542 đời vua Minh Thế Tông, và năm 1581, đời Minh Thần Tông, một giáo sĩ khác nổi tiếng bác học là Matthieu Ricci đến Áo Môn, sau đó giao tiếp rất rộng với giới Nho gia Trung Quốc (Ricci cho phép người TQ theo đạo Thiên Chúa thờ cúng Khổng Tử). Còn Voltaire triết gia của thời Khai Sáng ở Pháp, chủ trương tự do tôn giáo, đến năm 1694 mới ra đòi. Những gì các giáo sĩ tây phương biết về Khổng Tử và đã làm khi “khám phá” ra Khổng Tử xảy ra trước khi Voltaire sinh ra cả trăm năm.
Ông Phong Uyên viết rất sai lạc về Phật giáo, có dịp tôi sẽ bàn sau vài điều .
Ông trả lời cho câu hỏi của ông Trịnh lí do đức Phật bỏ ngôi vị thái tử xuất gia bằng lời lẽ thiếu hơi nghiêm túc rằng “Đức Phật rời bỏ cung cấm thoát li ra đi thì không những tôi mà tất cả mọi người, kể cả đức Phật, đố ai trả lời được, và chỉ có trời biết”, trong khi tất cả kinh sách của các tông phái Phật giáo và quan điểm của các học giả Tôn giáo chân chính đều chấp nhận lý do Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia là vì Ngài cảm nhận được những thống khổ của chính mình và người khác. Thôi thì, đó cũng là cái quyền bày tỏ quan điểm (ác) cảm tính này của ông.
Không biết là ông “nhìn dưới khía cạnh lịch sử” nào mà cho rằng Phật giáo chỉ là một tôn phái của đạo Bà-la-môn, trong khi bài trước ông cho rằng cội nguồn của Phật giáo là Ấn giáo, mà cũng chẳng nêu được lý luận thuyết phục nào. Thấy ông có hiểu ít ít về sử Phật giáo Ấn Độ, mà lại cho rằng Phật giáo “bị đạo Bà La Môn ‘đổi mới’ đuổi ra khỏi Ấn Độ”. Theo chỗ tôi biết, từ thời vua A-dục và hơn 700 năm sau đó, Phật giáo đã trở thành tôn giáo có ảnh hưởng nhất tại Ấn Độ. Và với tư cách là tôn giáo chính và mang thông điệp hòa bình, các đoàn truyền giáo lên đường truyền bá Phật giáo ra nước ngoài. Từ đó, Phật giáo đã có mặt tại nhiều quốc gia châu Á. Phật giáo lúc ấy đâu giống một tổ chức hoặc nhóm người không có chỗ trú ngụ, bị Bà-la-môn giáo đuổi ra ngoài như ông nghĩ, thưa ông. Còn vấn đề lịch sử Phật giáo bị diệt vọng tại Ấn Độ, bao gồm nhiều nguyên nhân, mà trong đó Bà-la-môn giáo chỉ là một trong nhiều nguyên nhân, và sự xâm lăng Ấn Độ của những đạo quân Hồi giáo là nguyên nhân chính và cuối cùng. Còn tại sao Phật giáo vẫn chưa thể phục hưng mạnh ở Ấn Độ, cũng có nhiều nguyên nhân, mà theo chỗ tôi nhớ, trong một tác phẩm của Thủ tướng đầu tiên của nhà nước Cộng hòa Ấn Độ, J. Nehru, ông cho rằng một nguyên nhân quan trọng Phật giáo không thể phục hưng mạnh tại Ấn Độ là tại vì Phật giáo phê phán mạnh mẽ tư tưởng bất công của giai cấp Ấn Độ, mà hiện nay tầng lớp giàu có (vì nhiều đặc quyền bất thành văn) của Ấn Độ vẫn tiếp tục muốn duy trì tư tưởng giai cấp bất công này, nên nhất quyết, họ không muốn và luôn cản trở Phật giáo phục hưng mạnh tại Ấn Độ.
Quốc huy của nhà nước Cộng hòa Ấn Độ lấy hình sư tử trên trụ đá do vua A-dục tạo dựng tại vườn Lộc Uyển, nơi đức Phật nói bài pháp đầu tiên cho 5 anh em Kiều Trần Như. Và biểu tượng trên quốc kỳ của nhà nước này là bánh xe Pháp Luân. Không biết ông đọc ở tài liệu hoặc sách nào mà ông cho rằng bánh xe Pháp luân đó là do “nhà báo thi sĩ Phật học người Anh Sir Edwin Arnold gợi ý”. Theo chỗ tôi biết, ông Edwin Arnold sinh tại Anh năm 1832. Ông được Phật giáo đồ và học giả Phật giáo biết đến sau khi ông xuất bản tác phẩm The light of Asia năm 1877. Ông mất năm 1904. Vậy không biết ông E. Arnold gợi ý này với ai và trong dịp nào? Chứ thật ra cho đến khi ông qua đời, phong trào giành độc lập của Ấn Độ chưa hình thành rõ ràng, mặc dù đảng Quốc Đại, đảng lãnh đạo chính trong phong trào này thành lập vào năm 1885, nhưng họ chưa chống đối trực diện chính quyền thực dân Anh, họ chỉ tập trung ủng cố nội lực, chủ yếu đào tạo nhân sự và âm thầm giáo dục lòng yêu nước; mãi đến khi thánh Gandhi trở về Ấn Độ năm 1915, phong trào dành độc lập dưới sự lãnh đạo của đảng Quốc Đại mới thật sự bùng nổ. Và năm 1947, Ấn Độ giành được độc lập, nhưng mãi đến ngày 26 tháng 2 năm 1950, hiến pháp nhà nước Cộng hòa Ấn Độ mới được chính thức công bố, trong đó có quy định quốc huy và quốc kỳ. Mà người giữ vai trò rất quan trọng trong việc soạn thảo hiến pháp đầu tiên của nhà nước này là Tiến sĩ luật (học ở Anh) B. R. Ambedkar. Ông là Phật tử, cải đạo từ Ấn Độ giáo và là Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của nhà nước Cộng hòa Ấn Độ. Tôi không biết chính xác, nhưng tôi nghĩ, ba trong số những nhân vật gợi ý và có ảnh hưởng trong quyết định chọn quốc huy và biểu tượng quốc kỳ của nhà nước này là Phật tử B. R. Ambedkar, thánh Gandhi và thủ tướng J. Nehru.
Còn nhiều vấn đề cần thảo luận với ông, nhưng thời gian ngày nay của tôi cũng đã hết. Phải ngừng tại đây. Những ngày cuối tuần, tôi có việc phải đi xa, nên hẹn trao đổi với ông vào thời gian có thể trong tuần tới.
Thưa ông Phong Uyên,
Không biết là tại tôi đọc bài ông “quá vội vàng nên lẫn lộn lung tung” hay tại ông chẳng hiểu hoặc cố tình không hiểu ý nghĩa trong đoạn phản biện của tôi. Thôi thì để rộng đường nhận định, tôi trích lại đoạn viết của ông và tóm tắt nội dung phản biện đoạn này của tôi: Ông viết: “Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII.”
Ai lại không hiểu ý nghĩa chính của đoạn này là “phần lớn những tôn phái” (Đại thừa Trung Quốc) bị “mai một trừ một tôn phái” Thiền “mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII.” Lần phản biện trong bài trước, điều tôi muốn trao đổi với ông là cái đuôi khai diễn về Thiền của ông. Trong cái đuôi khai diễn về Thiền, ông cho rằng người sáng lập Thiền (Trung Quốc) không phải là Tổ sư Bồ-đề Đạt-ma mà là Tổ sư Huệ Năng. Sử liệu trước giờ vẫn viết rằng Tổ sư sáng lập Thiền tông (Trung Quốc) là do Tổ sư Bồ-đề Đạt-ma, Tổ sư Huệ Năng là tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Hoa. Một số học giả Phật giáo đưa ra giả thuyết cho rằng người sáng lập Thiền Trung Hoa có thể là Thiền sư Huệ Năng, vì họ thấy có gì đó không hợp lý và không logic lắm cho khoảng thời gian của bốn Thiền sư Huệ Khả, Đạo Tín, Tăng Xán và Hoằng Nhẫn. Đó cũng chỉ là giả thuyết của một số học giả. Nhưng ông lại nói như là một sự kiện lịch sử khẳng định, như là một phát hiện mới của riêng ông. Tôi phê phán ý tưởng quả quyết này của ông, chắc không ‘vội vàng lẫn lộn lung tung” đâu, thưa ông.
Lối viết của ông có hơi hướng phê phán mang cảm tính về Phật giáo Trung Hoa. Tôi đồng ý với ông, Phật giáo Trung Hoa hiện nay chỉ là bóng mờ trong đời sống tâm linh và xã hội Trung Quốc. Nhưng chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp của Phật giáo Trung Hoa lịch sử cho xã hội Trung Hoa nói riêng, và đời sống tinh thần của phần lớn người Á Đông nói chung. Còn Phật giáo Trung Hoa bị “Lão hóa” và “Khổng hóa” hay ngược lại Lão và Khổng giáo bị “Phật hóa” là một đề tài lớn, nếu thảo luận, phải tốn nhiều thời gian. Và tôi cũng cảm thông được sự hơi hướng phê phán trên của ông. Nhưng người cầm bút viết những chủ đề mang tính học thuật mà để những cảm tính chống Trung Quốc chi phối, rồi lây sang bực nhọc Phật giáo Trung Quốc luôn, thì sẽ rất dễ bộc lộ nhiều phiến diện và sai phạm.
Ông Phong Uyên,
Tôi đâu có cho ông thuộc hàng những học giả chuyên môn, mà trong số họ có học giả được cho là chuyên môn được tạo ra để “chuyên tung ‘hỏa mù’ nhằm gây hận thù và chia rẽ giữa các tôn giáo thôi” đâu. Tại ông đọc nhầm hoặc tưởng nhầm thôi. Không tin, ông đọc lại đoạn phản biện đó của tôi. Đoạn trong lần phản biện đó là tôi muốn trao đổi chung với một số thức giả trên diễn đàn này về cái thực tế của một số người được cho là học giả chuyên môn được tạo ra với ý đồ trên thôi (có thể ông cũng biết mà) (không chỉ riêng lãnh vực tôn giáo mới có, mà hầu như mọi lãnh vực đều có kiểu học giả này). Tôi cũng chưa biết rõ ông thích viết nhiều về Phật giáo vì lý do và mục đích gì? Theo chỗ ông nói ông có ý muốn đi “tìm những điểm giống nhau vì mọi tôn giáo, mọi tư tưởng đều phát sinh từ một nguồn gốc, cũng như mọi con người đều cùng một ông tổ, đều cùng một chủng tộc, đều là đồng bào cả nên cần phải sống hoà hảo với nhau.” Tôi cố tin và hy vọng, mục đích của ông là muốn đi tìm giá trị thánh thiện và đạo đức chung trong tất cả Tôn giáo. Dù ý tưởng này có thực tế hay là không tưởng đi nữa, thì nó vẫn xuất phát từ thiện tâm. Rất đáng trân trọng. (Tôi nói ý tưởng này có thể không tưởng là tại vì, theo tôi, để giá trị thánh thiện và đạo đức chung này, nếu có, được tín đồ các tôn giáo chấp nhận, thì những người tìm ra hoặc khởi xướng nó phải nổi bật hơn tất cả giáo chủ và người sáng lập các tôn giáo này về tất cả phương diện tâm linh và đạo đức. Chắc là không có ai. Nên giải pháp tốt nhất là chấp nhận và tôn trọng tính đa dạng tôn giáo, tín ngưỡng và tâm linh trong một xã hội toàn cầu.) Nhưng nếu quả thật vì mục đích cao đẹp này, thì ông không nên có nhiều lời lẽ thiếu tôn trọng vị sáng lập Phật giáo (đức Phật) và Phật giáo.
Thưa tác giả Phong Uyên,
– Mặc dù đạo Phật hấp dẫn với tôi, một người tìm học mà không tu tập, nhưng khi đọc (không đầy đủ) chuyên mục này, tôi vẫn không theo kịp nội dung. Tôi thiên về tìm hiểu những diễn giải/dịch dân gian (mà tôi cho là rất phổ biến và tài tình) về các triết lý nhà Phật.
– Tôi cũng quan tâm đến tôn giáo trên bình diện tổng quát và coi nó là thành tố cơ bản của văn hóa. Trong ý niệm „Cơ-Linh tương hợp“, tôi cho rằng tôn giáo là thành tố quan trọng của tư tưởng xã hội. Từ đó có thể giải thích tại sao các nước tiên tiến thường có các môn “tôn giáo học” trong các cấp của nhà trường, bên cạnh các môn quan trọng khác như “Chính trị học”, etc. Nó cũng giải thích tại sao một chính sách “bất bao dung tôn giáo” sẽ dẫn đến băng hoại xã hội, trước hết là đạo đức.
– Tôi sẽ cố gắng đọc hết các bài của ông để học hỏi thêm. Trong bài này có một ý tôi muốn hiểu rõ. Ông viết: „… cách đây 50 ngàn năm, người sơ cổ Sapiens đã cảm nhận có hiện hữu một đấng thiêng liêng khi biết chôn người chết“. Thực chất, những người sơ cổ Sapiens ban đầu còn chưa biết “chết” là gì và tại sao con người (thân thiết) này lại ngủ hoài mà không trở dậy. “Đấng thiêng liêng“ chắc chắn đến sau đó như câu trả lời cho vấn nạn “ngủ không muốn dậy”. Nghĩa rằng tôn giáo, giống như mọi tri thức khác, là sản phẩm tất yếu của tư duy (/não bộ) con người.
Cảm ơn những bài viết rất sâu, rộng của ông.
“Muốn định nghĩa Phật giáo phải làm như anh mù sờ voi: Sờ đúng vào phần đạo Phật Nguyên thủy thì định nghĩa Phật giáo là một đạo như những đạo khác. Sờ đúng vào phần triết học thì định nghĩa Phật giáo là một nền triết lý. Sờ đúng vào phần Thiền Zen thì định nghĩa đạo Phật là một lối sống, một lối tu thân, một cách giữ tinh thần thanh thản đỡ stress. Nhưng không thể sờ cùng một lúc ba phần được nên không thể định nghĩa được Phật giáo.”(Phong Uyên)
@bác Phong Uyên thân mến,
Trước hết, xin cám ơn bác về bài viết mang tính “phản hồi của phản hồi” này. Đọc xong bài viết, thú thực với bác, tôi đúng là từ một “anh mù” đã “sáng mắt ra” trong nhiều vấn đề! Tiện đây, xin hỏi thêm bác một câu ngoài đề tài là:
Có thể định nghĩa được Phật giáo chăng, nếu chúng ta làm như “anh sáng mắt sờ voi”?
Tôi hỏi như thế là bởi vì tất cả chúng ta – LOÀI NGƯỜI, trong cái ý nghĩa “loài người là sinh vật duy nhất có tư duy”, đều là những kẻ “sáng mắt” cơ mà. Tại sao muốn có định nghĩa Phật giáo lại phải làm như “anh mù sờ voi”? Hay có một lý do gì đấy, mà LOÀI NGƯỜI đứng trước “Đấng thiêng liêng” mãi mãi chỉ là “anh mù”?
Rất mong nhận được sớm câu trả lời của bác (trong khuôn khổ là PH ngắn gọn cũng là tốt đối với tôi lắm lắm)! Trân trọng.
Cám ơn bạn Phong Uyên đã có bài trả lời về những phản hồi trên bài viết Phật Giáo của bạn đăng trong tháng Tư vừa qua. Ít ra bạn có can đảm hồi âm để chứng tỏ luồng tư tưởng còn tiếp tục chuyển động trong Diễn Đàn mở này, một tín hiệu tốt cho thảo luận và học hỏi lẫn nhau.
Tôi xin nhường lời cho bác Hoà Nguyễn và bạn Kim Sinh lên tiếng trước, phản hồi của tôi rất đơn giản thôi dựa trên những gì bạn Phong Uyên đã viết trước đó và so sánh với lập luận của bạn sau này, tôi sẽ nói sau.
Xin mời bác Hoà Nguyễn, bạn Kim Sinh và quý vị độc giả khác.
Thân ái,