Đỗ Anh Thơ – Người tri kỷ của nhà chí sĩ núi Ấn sông Trà ấy là ai?
23/05/2010 | 1:43 chiều | 11 Comments
Category: Tạp văn
Thẻ: Huỳnh Thúc Kháng
Thuở thiếu thời, ở Hà Nội, tôi đã nhiều lần được cầm cờ hoa đi đón lãnh tụ, khi là Hồ chủ tịch, đại tướng Voroshilov, khi là thủ tướng Chu Ân Lai, chủ tịch Kim Nhật Thành… Phải nói rằng, lúc đó hình ảnh lãnh tụ còn gần dân, tuy họ đi xe mui trần, nhưng những người cầm cờ hoa đi đón, chưa phải chọn lọc kỹ như bây giờ.
“Được” hay là “bị” đây, khi mà phải cầm cờ giấy từ nhà ra đi từ bốn, năm giờ sáng, xếp hàng rồng rắn, mồ hôi nhễ nhại, đứng quanh vườn hoa Ba Đình đến trưa, để đón chờ, để tung một tiếng reo “hoan hô”, khi xe lãnh tụ đi qua, chỉ trong một khoảnh khắc?
Tuy vậy, có một cuộc đón tiếp từ thuở ấu thơ mà hình ảnh còn đọng lại mãi trong ký ức tôi cho đến tận ngày nay. Đó là lần đón tiếp một người có đôi vai gầy, mặc áo dài lương, đội khăn xếp, mang đôi giày Gia Định giản dị… như chính người cha thân thương của tôi vừa mới mất. Người đó đi giữa hàng quân danh dự, trước tòa công sứ ở Vinh, lúc này đã thành trụ sở Ủy ban hành chính kháng chiến Nghệ An, cuối năm 1946, đó là cụ Huỳnh Thúc Kháng. Dù ai, từ già đến trẻ đã từng thấy con người cương nghị này, đều phải công nhận đây đúng là một vị cha già, đầy trí tuệ, trong lòng dân tộc Việt Nam. Cũng như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng không cần phải mất nhiều giấy mực để được cả dân tộc vinh danh, ca tụng.
Năm đó, tôi vừa bước sang tuổi 13 ta, nhưng đã thi đậu vào College Nguyễn Công Trứ. Sở dĩ có chuyện đó, không phải do tôi xuất chúng, mà chỉ là do cha tôi quen, xin với ông đốc Nguyên, cho tôi đi học dự thính lớp Đồng Ấu (hors classe, cours enfantin) và cuối năm lên lớp dự bị (cours prepratoire) trường tiểu học huyện, lúc chưa đầy 6 tuổi, nên sau Cách mạng tháng 8, tôi đã là một trong những học sinh hiếm hoi của huyện Nghi Lộc, đỗ vào trường cấp 2 duy nhất của tỉnh.
Nay tôi đã ngoài 75 tuổi, mặc dù trí nhớ còn rất tốt, nhưng tôi không thể chủ quan, vì trí nhớ có thể phản bội lại mình. Hôm ấy, với hình dáng gầy gò, mảnh khảnh, cụ Huỳnh đã đi bộ, duyệt đội quân danh dự, có hai sĩ quan cưỡi ngựa đi kèm, gươm tuốt trần. Tôi nhớ hình như không có một chiếc xe ô tô nào đi theo sau.
Lúc đó, tôi đã khá thông tạo tình hình, đã biết cụ Huỳnh đang giữ trọng trách trong chính phủ liên hiệp của nước VNDCCH.
Đến nay, càng tìm hiểu, đọc thơ văn của cụ, tôi càng canh cánh một câu hỏi, là tại sao cách mạng lại phải cử một ông già ốm yếu trên 70 tuổi, đi kinh lý miền Trung, trong khi đã có ông Phạm Văn Đồng ở trong đó? Cụ Huỳnh có uy tín tuyệt đối, cương trực, không một thế lực nào có thể lung lạc. Cụ chỉ là một chí sĩ yêu nước, tỏ ra không thiên tả, thế mà ông Võ Nguyên Giáp phải nhường chức bộ trưởng bộ nội vụ đầy quyền lực, nay đến khi ta và Pháp sắp đánh nhau, cụ lại về Nam là vì sao?
Có phải cụ không muốn làm cái bình phong, đã cảm thấy mình sắp về cõi, thiết tha từ nhiệm, để về quê hương như lời nói với gia quyến trước khi ra Hà Nội, hay là có những bất đồng gì trong việc thẳng tay trấn áp phần tử Việt Quốc, Việt Cách? Nghĩa là bất đồng với chính sách “chỉ liên hiệp hình thức bên trên mà thẳng tay diệt dưới” của Việt Minh hay không?
Bài thơ cụ viết trước hay sau ngày về quê có đúng là giọng cười sảng khoái của một nhà chí sĩ thông tuệ, đã nhận ra kẻ tri âm và con đường cứu nước tất yếu của dân tộc ta phải đi qua hay không?
Đến nay vẫn là câu hỏi phản tư của nhiều thức giả!
Bài thơ cụ Huỳnh làm bằng chữ Hán như sau:
Thất thập tự thọ[1]
Huỳnh Thúc Kháng tiếu kha kha, Tứ phương, tam kỳ chi gia. Quốc giả, hương giả, tộc giả, hữu da? vô da? Đắc nhất tri kỷ, kỳ nhi lão hà!
Và cụ tự dịch:
Gẫm ta, ta cũng nực cười: Nhà nhà ba cõi, người người bốn phương. Nghĩ đến nước, đến làng, đến họ, Có hay không? không có? có không? Bảy tuần đầu bạc như bông, Được người tri kỷ, thôi xong đã già!
Người tri kỷ của cụ Huỳnh Thúc Kháng là ai? Tại sao cụ lại nực cười?
© 2010 Đỗ Anh Thơ
© 2010 talawas
[1] Bài thơ chữ Hán của cụ Huỳnh mà tôi ghi trong sổ tay thời trẻ, không có chữ Hán. Nay công bố, tôi dự định viết thêm chữ Hán, nhưng sợ có thể sai sót, ví dụ “tiếu kha kha” (cười khà khà) cụ dùng chữ nào, nên mong chờ các độc giả biết hơn, bổ túc cho.
Bình luận
11 Comments (bài “Đỗ Anh Thơ – Người tri kỷ của nhà chí sĩ núi Ấn sông Trà ấy là ai?”)
Huỳnh Thúc Kháng Ở Liên Khu V .
Có đôi lần gặp gỡ một số đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, tôi có được nghe thuật rằng, sự có mặt của cụ Huỳnh ở các tỉnh thuộc Liên Khu V (cũ) vào thời điểm ấy là rất cần thiết vì Việt Minh chưa đủ mạnh mà sức chống đối của Việt Quốc, Đại Việt, nhất là Việt Quốc, còn rất mạnh và dữ dội, “ăn miếng trả miếng” lại Việt Minh rất quyết liệt; sự có mặt của một Phạm Văn Đồng, hay Võ Nguyên Giáp chẳng hạn ở vùng đất nóng bỏng ấy vào thời điểm ấy là hoàn toàn không thích hợp, sự lựa chọn Huỳnh Thúc Kháng vào miền Trung có nhiều phần bởi lý do lịch sử ấy chăng ?
Liên quan đến trường hợp Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần qua lời tường thuật của tác giả Hứa Hoành chúng ta có 1) nhân chứng ẩn danh (có vẻ như còn ở trong nước và có thể còn tại thế), 2)nhạc sĩ Trịnh Hưng (hình như đã quá cố) và 3) tác giả Hứa Hoành (đã từ trần). Do đó việc kiểm chứng khách quan vào thời điểm hiện tại coi như không tiến hành được.
Trong khi đó thì một số tài liệu phát hành trong nước ghi là cụ Huỳnh được chính phủ đặc phái vào Liên khu V công tác vào lúc bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp và vì tuổi già, mắc bệnh nên mất tại Quảng Ngãi năm 1947 (Từ điển văn học, Tập I, A-M, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983, trang 330; Từ điển Văn hoá Việt Nam, Phần Nhân vật chí, Nhà Xuất bản Văn hoá-Thông tin, 1993, trang 188). Riêng cố Luật sư Hoàng Cơ Thụy, trong Việt sử khảo luận, cuốn 4, trang 2169, chỉ ghi vắn tắt “Cụ Huỳnh Thúc Kháng (Bộ Nội Vụ) đã chết “đột ngột” ngày 24-4-1947 ở Quảng Ngãi,(…)”.
Bạn Phùng Tường Vân thân mến,
Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn và xem đây CHƯA phải là SỰ THẬT hoàn toàn đáng tin cậy. Nhưng ông HỨA HOÀNH là một nhà viết sử khá khả tín, cho nên câu chuyện này, theo tôi, nên được ghi nhận như là một NGHI VẤN lịch sử cần để tâm theo dõi để tìm ra sự thật.
Giá trị của câu chuyện không cao lắm vì thông tin không thuộc loại sơ cấp (primary) mà qua trung gian gồm hai đợt. Trước hết, sử gia Hứa Hoành viết câu chuyện này như là một phần trong vài phần về những vụ giết hại các nhân vật không Cộng sản của ông Hồ và ĐCSVN thời kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Về đoạn nói về việc cụ Huỳnh Thúc Kháng, thì ông Hứa Hoành viết dựa vào bài “Cái Chết Bí Ẩn của Cụ Huỳnh Thúc Kháng” của nhạc sĩ Trịnh Hưng, đăng trên báo Sự Thật tháng 8/96, trang 4, xuất bản tại Pháp. Thế mà, nhạc sĩ Trịnh Hưng lại dựa vào lời kể của một bạn tù (không nêu tên) của ông, người tự nhận là một NHÂN CHỨNG của vụ thảm sát, và đã kể lại cho nhạc sĩ Trịnh Hưng với mục đích là “Tôi biết câu chuyện bí mật về cái chết của cụ Huỳnh Thúc Kháng một cách tức tưởi. Họ bảo bác bị máy bay Pháp bắn lầm là nói láo. Tôi biết rõ chuyện này. Thực sự bác Huỳnh Thúc Kháng chết là bị thủ tiêu cho mất tang chứng và bịt miệng đi. Cũng vì cái chết của bác Huỳnh mà từ lâu tôi không dám mở miệng với ai. Hôm nay nhận cái án 18 năm tù, nên tôi rất giận, nên đem chuyện này nói cho chú (nhạc sĩ trịnh Hưng) nghe. Chú nghe xong giữ miệng. Nếu tụi nó (CS) biết thì chú không có ngày đi Tây đâu. Chỉ khi nào sang bên đó, chú có viết báo thì viết ra cho mọi người hay. Trước tới nay, tôi sợ tính mạng mà im lặng, nay bị án 18 năm tù, không còn sợ gì nữa”.(nguyên văn trích từ bài của Hứa Hoành)
Ban đầu tôi chỉ muốn dẫn link của bài này thôi. Nhưng thất bại, nên phải trích đoạn để post vào talawas. Bởi vì, tôi cho rằng cuộc đời của ông Hồ có quá nhiều chuyện mập mờ gian trá (từ ngày sinh tháng đẻ, tác phẩm, sáng tác văn thơ v.v… cho tới việc giết hại các đối thủ chính trị bằng mọi thủ đoạn), nên ta cần quan sát và theo dõi mọi nghi vấn về các hành động của ông.
Nhà sử học Hứa Hoành đã kết luận như sau trong bài viết này của ông : “Chuyện tôi kể là chuyện thật lịch sử, tôi hy vọng nó sẽ được nghiên cứu thêm, để vạch trần những thủ đoạn của cuôc đời Hồ Chí Minh. (“Cái Chết Bí Ẩn của Cụ Huỳnh Thúc Kháng”, Trịnh Hưng, báo Sự Thật tháng 8/96, trang 4, xuất bản tại Pháp).”(nguyên văn). Thành thật mà nói, đây là một kết luận quá vội vã nếu ta đứng trên quan điểm nghiên cứu lịch sử, và nó có thể làm mất nhiều uy tín mà ông Hứa Hoành đã tạo được từ trước với tư cách là một nhà giáo và nhà nghiên cứu sử học. Như vậy, ông Hứa Hoành cũng TIN vào câu chuyện và đề nghị cần phải nghiên cứu thêm để tìm sự thật hầu vạch trần những thủ đoạn của cuộc đời HCM.
Vấn đề đầu tiên là phải xem lại là cụ Huỳnh Thúc Kháng đã qua đời như thế nào. Cụ chết già vì bệnh tật tại Quảng Ngải hay một nơi nào khác vào một thời điểm nào đó, hay cụ đã bị máy bay Pháp bắn chết tại căn cứ kháng chiến Việt Minh vùng rừng núi Thái Nguyên, sáng ngày 21/4/1947 như trong bài của Hứa Hoành. Nếu cụ Huỳnh chết tại Thái Nguyên, thì độ khả tín của câu chuyện do Hứa Hoành ghi lại sẽ cao hơn và ta nên quan tâm đào sâu tìm hiểu kỹ hơn. Bằng không, đây chỉ là chuyện BỊA như tác giả Đỗ Anh Thơ đã nói. Và cá nhân tôi cũng rất ghét PHỊA SỬ.
Thân mến.
Bạn Hoàng Trường Sa ,
Nếu chúng ta kết án và khinh miệt những sử loại đã “chế” ra những “dũng sĩ” như Lê Văn Tám chẳng hạn, đã ghê tởm những thứ văn học nô dịch “lề phải” như chuyện “Chiếc gối thần của bà tôi” v..v… http://www.talawas.org/?p=20346 và muốn giữ cho niềm kiêu hãnh chính đáng ấy của chúng ta được nguyên vẹn thì thiết tưởng chúng ta phải nên hết sức thận trọng khi tiếp cận những “sử liệu” của những “sử gia” như Hứa Hoành bạn nhỉ ?
Thân mến,
“Được lời của bác, chúng tôi mừng rỡ và đề nghị với bác nói với Thủ tướng Pháp cho chúng tôi tháp tùng bác Hồ. Khi về tới Hà Nội, các anh học về Y như Trần Hữu Tước vào làm ở các bệnh viện. Anh L. (Trần Đại Nghĩa sau này), được bác cưng nhứt, được làm ở Cục Quân giới. Riêng tôi thì Bộ Nông nghiệp chưa có và chưa lập xong, bác Hồ cử tôi sang làm thư ký cho bác Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Nội vụ. Tôi chuyên dịch tin tức ngoại quốc cho bác Huỳnh biết, vì bác Huỳnh chỉ giỏi chữ Nho thôi. Vì thấy tôi hiền lành, chân thật và có khả năng, nên bác Huỳnh coi tôi như em, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường giống như anh em ruột. Và khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tôi theo chính phủ di tản về vùng Việt Bắc. Sau đó tôi vào đảng và năm nay được 32 tuổi đảng…”
Lý do nào khiến cho nhân chứng bị dồn nén, ẩn ức lâu ngày, tiết lộ sự thật lịch sử này ? Vì thấy tôi (nhạc sĩ Trịnh Hưng) có lòng chân thật và tôi cũng nói với ông là “đã có giấy xuất cảnh đi Pháp để đoàn tụ gia đình, nhưng không may bị tù nên chưa đi được, nên ông mới kể những chuyện oan ức khiến ông không còn giữ kín trong lòng được nữa :
Ông kể tiếp :
“Sau 1975, chính quyền miền Nam sụp đổ. Tất cả tài sản đều thuộc quyền quản lý của nhà nước. Vì tôi là kỹ sư sư ngành Nông Lâm, nên năm 1980 thiếu người cai quản đồn điền cao su, Hà Nội cử tôi vào làm giám đốc 1 sở cao su mà chủ cũ là người Pháp. Sở đó rất lớn, có gần 1000 công nhân cạo mủ. Nhân viên làm việc ở đây cũng do Hà Nội cử vào. Tôi làm giám đốc, kiêm bí thư đảng bộ cơ sở. Trong số nhân viên dưới quyền tôi có tên H., đảng viên lâu năm, được Hà Nội tín nhiệm vì gốc bần nông, cho H. làm kế toán kiêm tài vụ nên có quyền giữ tiền.
“Tên này bị hủ hóa, nên ôm hết tiền của cơ sở đi trốn mất. Tôi nghĩ nó đã vượt biên.
“Khi lấy hết tiền, công nhân không được trả lương, tôi là giám đốc phải báo cáo để xin tiền phát lương cho công nhân sống và làm việc. Thanh tra nghi tôi đồng lõa, nên tạm giam điều tra. Tôi kêu oan “vì nếu tôi có chủ ý thì đã trốn theo tên H. từ lâu, đâu còn ngồi đây để mà khai báo. Và nếu tôi ham sung sướng thì tôi đã ở lại Pháp chứ đâu theo bác Hồ về nước làm gì ? Qua 2 cuộc chiến gian khổ tôi đều có công lao, lại có 32 tuổi đảng, bây giờ 75 tuổi rồi còn ham gì nữa ?”. Nhưng tôi nói cách nào họ cũng không tin và giam tôi chờ ngày ra toà.”
Một ông già bị công an vào còng, áp giải ra tòa. Khi về ông kể cho tôi nghe (nhạc sĩ Trịnh Hưng) là bị kết án 18 năm tù. Việt Kiểm sát Nhân dân đổ tội đồng lõa thành tội “1 người có trách nhiệm của đảng bộ mà không chịu trông coi đảng viên…để cán bộ làm thiệt hại tài sản nhà nước XHCN ! Nên xin cho tôi bản án 18 năm tù thay vì chung thân khổ sai !”
“Khi nghe Viện Kiểm sát kế án như vậy, tôi cãi lại :
– Nếu 1 người trông coi người dưới mà thiếu trách nhiệm, là bị phạt tù thì thử hỏi rằng :”Ngày xưa ông Hoàng Văn Hoan, ban bí thư trung ương đảng bỏ trốn sang Tàu, như vậy làm sao ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng lại không ai chịu trách nhiệm cả ?”
Bị tôi hỏi hóc búa, Tòa mới dùng quyền”cả vú lấp miệng em””, dùng búa gõ xuống bàn bảo :
– Anh là tội nhân, chỉ bị tòa hỏi về việc của anh. Anh chỉ có quyền trả lời câu hỏi của tòa, chứ không được quyền hỏi lại tòa…”
Bị ức hiếp quá, tôi (nhân chứng) mới bảo tòa :
– Nếu vậy thì tôi xin cám ơn Tòa đã đề nghị cho tôi bản án 18 năm tù thay vì chung thân. Tôi nay đã 75 tuổi rồi, thì tòa kêu án tử hình hay chung thân khổ sai đối với tôi thì cũng vậy thôi”.
Hôm ở tòa về, ông ấy tâm sự với tôi :
– Anh thấy tụi CS ác độc không ? Tôi biết câu chuyện bí mật về cái chết của cụ Huỳnh Thúc Kháng một cách tức tưởi. Họ bảo bác bị máy bay Pháp bắn lầm là nói láo. Tôi biết rõ chuyện này. Thực sự bác Huỳnh Thúc Kháng chết là bị thủ tiêu cho mất tang chứng và bịt miệng đi. Cũng vì cái chết của bác Huỳnh mà từ lâu tôi không dám mở miệng với ai. Hôm nay nhận cái án 18 năm tù, nên tôi rất giận, nên đem chuyện này nói cho chú (nhạc sĩ trịnh Hưng) nghe. Chú nghe xong giữ miệng. Nếu tụi nó (CS) biết thì chú không có ngày đi Tây đâu. Chỉ khi nào sang bên đó, chú có viết báo thì viết ra cho mọi người hay. Trước tới nay, tôi sợ tính mạng mà im lặng, nay bị án 18 năm tù, không còn sợ gì nữa”.
…………………..
HỨA HOÀNH
@Đỗ Anh Thơ,
Bài của sử gia HỨA HOÀNH đăng trên Lịch sử Việt Nam (tác giả Trịnh Quốc Thiên) nhưng rất tiếc hiện không vào được. Bài khá dài. Tôi xin post thêm đoạn liên hệ về vụ cụ Huỳnh Thúc Kháng để bác Đỗ Anh Thơ và quý vị tiện theo dõi và đánh giá:
…………………
Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh (8/1945), quân Pháp còn chưa trở lại, Việt Minh CS trá hình, chỉ có vài trăm đảng viên, dùng mọi thủ đoạn phi nghĩa, cốt để cướp cho kỳ được chính quyền. Từ đó cho tới khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp chấm dứt, CS không cho phép bất cứ ai ngoài họ được quyền yêu nước khác kiểu của họ. Toàn dân chỉ được quyền vâng lời và liều chết, xả thân ngoài chiến trường để Đảng hưởng vinh quang. Một khi quyền lực nằm trong tay kẻ vô đạo thì tội ác sẽ khủng khiếp biết bao.
Ở đây, chúng tôi kể lại những lời do các nhân chứng lịch sử, nạn nhân của chế độ CS, từng hoạt động, chiến đấu trong hàng ngũ kháng chiến như những người yêu nước bị lợi dụng. Họ đã chứng kiến những cái chết bất ngờ, ngoài trí tưởng tượng, cũng như những cái chết bí ẩn, thương tâm của những người vì quá yêu nước mà lầm lạc theo CS, hoặc chạy theo CS nhưng đã bị “hy sinh” vì đòn thù của họ. Định mệnh khắc nghiệt đã dẫn dắt dân tộc ta đi tới chỗ lầm than, đất nước tan nát kể từ mùa thu 1945.
Mượn đường kháng chiến, cuộc chiến tranh vệ quốc sáng ngời chính nghĩa chỉ để thực hành những điều phi nghĩa, xúi và ép toàn dân phục vụ quyền lợi cho đảng CS, chủ thuyết Mác-xít, Lênin, tình nguyện làm tay sai của Quốc Tế CS, thi hành mọi mệnh lệnh của Quốc Tế CS đề ra hơn nữa thế kỷ qua (Cuốn “Hồ Chí Minh Toàn Tập : 1925-1930″, Tập 2, nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội, 1981, trang 214 :”Đệ Tam Quốc Tế [thành lập tại kinh đô Nga là Mót-ku năm 1919] là 1 đảng CS thế giới. Các đảng CS các nước là chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch Đệ Tam Quốc Tế thì các đảng không được làm”). Họ xúi giục toàn dân chiến đấu, hy sinh để cuối cùng mang vinh quang về cho Đảng CS mà thôi. Đồng thời họ gán cho những người ái quốc không đồng chính kiến nhãn hiệu “Việt gian”, “bán nước”, để rồi âm thầm sát hại, thủ tiêu những người này.
Một người bạn tù của nhạc sĩ Trịnh Hưng đã cho biết :”Vì tin họ (CS), hàng hàng lớp lớp thanh niên hăng hái xông pha ra trận mạc và ngã gục trước họng súng kẻ thù, cứ tưởng rằng hễ chiến thắng rồi đất nước sẽ rạng rỡ, hết tai ương, nghèo đói. Nào ngờ CS chỉ lợi dụng xương máu họ.”
…………..
Vào đầu năm 1947, chính phủ Hồ Chí Minh chạy về rừng núi Thái Nguyên, được gọi là chiến khu Việt Bắc, để khỏi bị giặc Pháp tiêu diệt. Đến nơi, ông Hồ Chí Minh chọn 1 thôn bản nằm sâu giữa rừng, kín đáo, chung quanh chỉ có dân tộc Tày và Nùng. Hồ Chí Minh trưng dụng 2 căn nhà sàn của người Thổ để ở. Lúc đó ông Huỳnh Thúc Kháng cùng toàn bộ chính phủ cũng di tản theo, được bố trí trong 1 căn nhà lớn dùng làm văn phòng Bộ Nội vụ, kế cận là 1 căn nhà sàn nhỏ khác, dùng làm nơi ở và sinh hoạt của ông Hồ. Đây là 1 quỷ kế của Hồ Chí Minh, chỉ chờ đợi cơ hội. Một nhân chứng trực tiếp chứng kiến cái chết tức tưởi của ông Huỳnh Thúc Kháng, đã kể lại đầy đủ chi tiết với nhạc sĩ Trịnh Hưng (“Cái Chết Bí Ẩn của Cụ Huỳnh Thúc Kháng” của nhạc sĩ Trịnh Hưng, báo Sự Thật tháng 8/96, trang 4, xuất bản tại Pháp), người bạn tù cùng cảnh ngộ. Để có thêm bằng chứng đích xác, chúng tôi xin dẫn lời tự thuật về tiểu sử, hóa trình hoạt động của nhân chứng này :
“…Tôi là người miền Nam, con nhà điền chủ giàu lớn lắm. Cả nhà dân Tây (quốc tịch Pháp) nên tôi được gia đình cho qua Pháp du học cùng với 1 số bạn bè. Tuy là cha tôi có thế lực với Tây, và nhờ ơn Tây mới trở thành điền chủ giàu có, nhưng tụi tôi thì ở tuổi thanh niên, lúc đó có tư tưởng ghét Tây và chống Tây, muốn làm cách mạng để đuổi Tây về. Sang Pháp du học, nhưng mọi người bảo nhau là học 1 ngành để mai sau đuổi Tây rồi, chúng ta góp sức xây dựng đất nước. Có anh VQL thì hăng hái bảo rằng “muốn chống pháp phải có vũ khí và chất nổ”, nên anh học về ngành vũ khí và chất nổ. Anh đó là kỹ sư Trần Đại Nghĩa sau này. Tôi học về nông nghiệp vì đa số dân mình sinh sống về nghề nông, sau này mình giúp nước.
Ông nói tiếp :
“…Rồi sau năm 1945, tụi tôi ở Pháp nghe được nước nhà đã làm cuộc “Cách mạng tháng 8”, cướp chính quyền của Nhật và Tây, bấy giờ hoàn toàn của người VN. Có vị lãnh tụ tài ba là ông Hồ Chí Minh. Ai cũng nao nức muốn gặp mặt (ông Hồ) và cũng ao ước về nước phục vụ đồng bào vì nước mình độc lập rồi mà ! Ngày nào chúng tôi cũng tụ tập lại nghe hiện tình đất nước mà lòng hứng khởi. Và dịp may làm sao ! Vào năm 1946, nghe tin bác Hồ sắp sang Pháp theo phái đoàn dự hội nghị Fontainebleau, chúng tôi phấn khởi chào đón vị cứu tinh của đất nước và được bác Hồ tiếp đón niềm nở. Bác Hồ khuyến dụ chúng tôi về nước để giúp Chủ tịch xây dựng đất nước.
(còn tiếp)
Chuyện cụ Huỳnh bi ám sát là bịa đặt. Như trong hồi ký, cuối năm 1946 tôi luc đó mới 13 tuổi đang học ở Vinh, đi đón cụ là đặc phái viên chính phủ vào công tác Quảng Nam Quảng Ngãi. Mấy tháng sau, cụ mất, hiện mộ táng tại Núi Ấn ( Q.Nam).
Người bị Pháp bắt rồi giết năm 1947 khi nhảy dù lên Việt Bắc là cụ Nguyễn Văn Tố cũng là một nhân sĩ yêu nước trong chính phủ liên hiệp VNDCCH . Có thể nhân sự kiện này mà có sự xuyên tạc, chuyện đầu Ngô mình Sở của Hứa Hoành chăng?
Bi kịch thủ tiêu Huỳnh Thúc Kháng được nhân chứng kể lại như sau :
“Và 1 hôm, có phi cơ bắn phá. Hồ Chí Minh, bác Huỳnh, tôi và cán bộ trong ban lãnh đạo kháng chiến, chạy túa vào rừng để ẩn trốn, vì hầm tránh bom có rất ít. Sau hơn 15 phút dội bom, phi cơ bay trở về và mọi người trong rừng trở ra làm việc. Ai cũng bận rộn với công việc của mình, nên không ai để ý. Mãi đến 12g trưa, tới giờ ăn cơm thì mới hay không có măt bác Huỳnh bộ trưởng. Mọi người nhốn nháo chia nhau đi tìm. Tìm hơn 1 tiếng đồng hồ, thì có 1 cán bộ hớt hãi chạy về báo tin là bác Huỳnh trúng đạn chết ngoài rừng. Hôm đó là ngày 21/4/1947. Mọi người đổ xô chạy khiêng bác Huỳnh vào nhà và báo cho Hồ Chí Minh hay. Khi ông Hồ nghe tin chạy lại ôm xác bác Huỳnh khóc thảm thiết và ra thông báo ngay “bác Huỳnh chết vì máy bay oanh kích lạc đạn”. Sau đó, báo tin cho ban lãnh đạo chịu tang ! Hồ Chí Minh đọc điếu tang nào là có công với cách mạng, nào là căm thù giặc Pháp. Ông Hồ ra lịnh cho làm lễ quốc táng bác Huỳnh, và thi thể được hoàn trong 1 cái hòm gỗ thực tốt, rồi cho 1 tiểu đội cảm tử chở quan tài ấy đi ngay về tận…Quảng Ngãi để chôn cất”.
Người chứng kiến câu chuyện kể thêm :
“Tôi thấy câu chuyện hơi vô lý. Làm thế nào mà bác Huỳnh bị máy bay bắn ? Vì máy bay đâu có oanh kích khu này, máy bay chỉ oanh kích mấy làng kế cận, đâu có ở gần đây đâu mà lạc đạn ? Mà nếu máy bay oanh kích gần, thì tại sao trong tất cả mọi người cùng ẩn trốn trong bìa rừng, không một ai chết hay bị thương gì cả ? Tôi mới kết luận :”Bác Huỳnh không thể chết vì lạc đạn được. Bác chết vì âm mưu của ông Hồ muốn bịt miệng bác vì vụ án ngụy tạo Ôn Như Hầu và bài thơ châm chọc của bác.
Vì thế tôi đâm ra sợ hãi, và cũng từ đó, tôi chưa bao giờ tiết lộ cho bất cứ ai biết. Vì sợ tọc mạch, tánh mạng của mình chắc chắn sẽ không được bảo đảm. Hôm nay tôi kể lại cho chú nghe, vì tôi chán ghét và căm thù cái chế độ này. Tôi kể lại cho chú để chú có dịp ra nước ngoài, kể lại cho mọi người biết, để lột mặt nạ tên tội đồ dã man, dâm ô là Hồ Chí Minh, thì mới hy vọng thay đổi thế cuộc được…”
Chuyện tôi kể là chuyện thật lịch sử, tôi hy vọng nó sẽ được nghiên cứu thêm, để vạch trần những thủ đoạn của cuôc đời Hồ Chí Minh. (“Cái Chết Bí Ẩn của Cụ Huỳnh Thúc Kháng”, Trịnh Hưng, báo Sự Thật tháng 8/96, trang 4, xuất bản tại Pháp).
Hứa Hoành
(Theo Web Lịch Sử Việt Nam)
Theo sử gia Hứa Hoành viết trong bài “Vụ Huỳnh Thúc Kháng: Ám sát rồi làm lễ quốc táng” đăng trên trang Web Lịch sử Việt Nam ngày 16/6/2004 thì:
Việc dàn cảnh để thủ tiêu ông Huỳnh Thúc Kháng được nhân chứng nói trên kể lại như sau :
“Vào năm 1947, tức là thời kỳ đầu chống Pháp, chính phủ di tản tất cả lực lượng lãnh đạo lên Việt Bắc, và bác Hồ chọn Thái Nguyên làm nơi cho chính phủ ở. Lên Thái Nguyên, bác Hồ chọn 1 bản làng kín đáo, rồi trưng thu 2 căn nhà sàn để ở. Căn nhỏ dành cho bác, cái lớn dành cho Bộ Nội vụ. 2 nhà gần nhau để tiện việc điều hành. Căn nhà Bộ Nội vụ thì có mấy cán bộ trung cấp, tôi và bác Huỳnh, có cần vụ hầu cơm nước. Còn căn nhà của Hồ Chí Minh tuy nhỏ mà xinh xắn. Giường ngủ phải có nệm và đủ tiện nghi. Chỉ có Hồ Chí Minh và 1 cần vụ để lo hầu trà, sai vặt và cũng là người đưa các văn thư đi các nơi. Dĩ nhiên đây là 1 cán bộ trung thành và 1 chị hầu cơm nước. Chị nấu cơm, dọn dẹp xong, tối đến thì về với chồng con. Anh cần vụ thì ngủ lại. Hồ Chí Minh nghiện trà tàu nặng, mà phải loại trà thật ngon, hảo hạng của Trung Hoa do Mao cung cấp. Hồ Chí Minh cũng nghiện thuốc lá “Phillip” của Mỹ. Quân nhu phải mua 1 lần mấy trăm gói dành riêng cho ông dùng. Bao giờ trong túi của Hồ Chí Minh cũng có 2 gói thuốc : 1 bao “Phillip” để riêng, còn bao kia là “thuốc du kích” nội địa để hút khi đứng trước mặt dân chúng, bộ đội cho thấy ông rất cần kiệm.
“Vì 2 nhà gần nhau, nên Hồ Chí Minh bảo bác Huỳnh : Cứ mỗi tuần, ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu, sau khi cơm nước xong, thì bác mời sang uống trà, để bác Huỳnh báo cáo công việc và bàn chuyện nước. Sau đó, 2 người bàn chuyện thơ phú, văn chương và nhắc lại chuyện cũ tới 11g thì bác Huỳnh về.
“Những chuyện sau đây là chuyện bác Huỳnh chứng kiến tận mắt, kể lại cho anh em trong nhà của Bộ Nội Vụ nghe :
“…Đã đặt luật lệ là tối thứ 2, 4, 6 mới gặp nhau, nhưng hôm đó thứ 7, không biết rõ có việc gì mà bác Huỳnh sang nhà Hồ Chí Minh bất ngờ… Khi bước lên thang nhà sàn thì vào trong nhà thấy vắng tanh, không thấy Hồ Chí Minh ngồi uống trà như mọi khi, cũng không thấy tên cần vụ. Trên bàn còn bộ trà và ấm nước. Bác Huỳnh nghi Hồ Chí Minh đi vắng, nên đứng tần ngần một chút rồi định ra về… Bỗng ông chợt nghe tiếng nói rù rì vang ra từ trong phòng ngủ của Hồ Chí Minh. Bác Huỳnh nghi có lẽ Hồ Chí Minh đang ở trong phòng, và đang bận dạy dỗ 1 cán bộ cao cấp, hay giao nhiệm vụ bí mật cho 1 người nào đó. Bác Huỳnh quay lưng, nhón gót, định bước ra. Nhưng bước ra được vài bước, chợt nghe trong tiếng nói rù rì của Hồ Chí Minh, có cả tiếng cười khúc khích của phụ nữ. Đây là 1 sự ngạc nhiên, vì trong ban lãnh đạo kháng chiến làm gì có đàn bà ?
“Động trí tò mò, bác Huỳnh nhón bước lại sát vách, nhìn qua khe hở của liếp lá, để xem thử Hồ Chí Minh làm việc với cán bộ gái mới nào. Dưới ánh đèn leo lét của ngọn đèn dầu lạc, bác Huỳnh mới tá hỏa tam tinh thấy Hồ Chí Minh đang trần truồng như nhộng ở trên giường với 1 cô bé người dân tộc, cũng trần truồng, tuổi độ 17-18 (tự ý bỏ mấy dòng)… Bác Huỳnh đỏ mặt, lắc đầu rồi nhẹ nhàng trở bước. Đi xuống khỏi cầu thang, bác Huỳnh còn nghe văng vẳng tiếng cười dâm ô của người đàn ông. Ra khỏi sân, bác Huỳnh đứng lặng. Không ngờ con người mà mình theo phò giúp chỉ là 1 kẻ đạo đức giả, 1 dâm tặc.
“Tuy nhiên, sau cơn nóng giận, bác Huỳnh dặn mọi người không được hé môi. Việc đánh Tây mới hệ trọng, không thể để tai tiếng cho Hồ Chí Minh lúc này. Tuy nhiên, bác Huỳnh cũng muốn dằn mặt Hồ Chí Minh, nên ngay đêm đó mới làm 4 câu thơ :
Năm mươi bảy tuổi vẫn chưa già (1)
Răng rụng rồi răng lại mọc ra,
Đất nước có cha, không có mẹ (2)
Bao giờ cụ, cậu cưới cô bà ?
(1) : Ông Hồ Chí Minh sinh năm 1890, lúc đó vào năm 1947 đã được 57 tuổi. Còn cụ Huỳnh lúc đó đã 71 tuổi.
(2) Ám chỉ ông Hồ Chí Minh tự xưng “cha già dân tộc”, nhưng không có…mẹ.
“Sáng hôm sau, bác Huỳnh dán kín bao thơ đưa tùy phái sang cho ông Hồ. Sau khi nhận thư, ông Hồ mở ra xem ngay. Khi đọc xong 4 câu thơ “móc họng” của bác Huỳnh, Hồ Chí Minh biết rằng hồi hôm lão già này đã mò sang rình mình mà không biết. Là kẻ nhiều mưu kế hiểm, ông Hồ nghĩ cách bịt miệng bác Huỳnh mà vẫn bình tĩnh, lấy giấy làm 1 bài họa như chuyện vui chơi :
Giỡn nhau chi rứa bác Huỳnh ơi !
Chẳng biết làm sao để trả lời ?
Cách mạng, tự do là thế đó
Nếu mà bác muốn cứ mà chơi !
“Làm thơ xong, ông Hồ bảo tùy phái đem sang cho bác Huỳnh Thúc Kháng. Rồi cả tuần sau cũng y như hẹn, họ gặp nhau 3 buổi làm việc, chẳng ai nhắc lại chuyện cũ. Nói ra sợ xấu mặt, ông Hồ đã nghi, sợ bác Huỳnh nói ra cho mọi người biết sẽ mất uy tín “cha già dân tộc”. Đó cũng là 1 trong những lý do thầm kín để ông Hồ bí mật thủ tiêu ông Huỳnh Thúc Kháng.”
(còn tiếp)
Nhân tác giả Đỗ Anh Thơ bàn về cụ Huỳnh Thúc Kháng, kính mời quý vị đọc bài dưới đây của Phan Triệu Cát:
Cụ Huỳnh Thúc Kháng và dấu tích của đảo Hoàng Sa (Phan Triệu Cát )
Không Sắc Nhất Quỳnh Hoa
Nhân Đỗ Quân nhắc ít hàng về Huỳnh Thúc Kháng, câu hỏi ai là người tri kỷ hiếm hoi của nhà chí sĩ cách mạng ấy mong được ông giọi thêm cho ít nhiều chi tiết; nhưng nói đến tư cách của cụ Huỳnh, xin được phép nghĩ hoàn toàn giống như ông, đó là một cây trúc duy nhất của dân tộc ta ít ra cũng từ những năm 1940 cho đến tận ngày nay, tôi nhắc bốn chữ “Không Sắc Nhất Quỳnh Hoa” trong đôi câu đối mà Huỳnh Thúc Kháng viếng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chính là muốn nói đến nhân cách của Tiên Sinh vậy :
Không Sắc Nhất Quỳnh Hoa, Tiếu Khứ Hân Nhiên, Thiên Thượng Thần Tiên đa quyến thuộc;
Túy Ngâm song Bạch Nhãn, Hứng Lai Huy Bút, Nhân gian Thiên Thủ Ngạo Công Hầu.
(Một đóa quỳnh hoa không sắc, cười vuốt râu chơi, trên thượng giới những bậc thần tiên là quyến thuộc hẳn có rất nhiều / Say ngâm đôi mắt trắng, thi hứng lên thì vung bút ngàn bản, những thứ công hầu trên cõi đời này ông có coi ra cái “giống” gì.)
Trong đời sống, trong nghề ngiệp (làm báo) và cũng do tính tình vốn nghiêm cẩn, khắc kỷ Cụ không có mối giao tình mật thiết, tri âm với thi sĩ Tản Đà, nhưng qua đôi câu đối này, do một lòng liên tài ái tài và cái đức vằng vặc của một chính nhân quân tử, tôi thấy cụ khóc và chiêu tuyết hương hồn thi sĩ bằng một đôi câu đối mà có thể nói không quá là “lời lời tuyệt bút” .