talawas blog

Chuyên mục:

Trần Vũ – Biển san hô (2)

20/05/2010 | 12:00 chiều | 2 Comments

Tác giả: Trần Vũ

Category: Sáng tác
Thẻ: >

(Xem kì 1)

Chương 2: Những lượn triều

Suốt cả buổi chiều trên cồn, nhóm của Đường tâm sự vãn và ăn uống dè sẻn những bánh ú, trái mận roi đường bán với giá cắt cổ. Trời chiều ngả dần từ màu vàng võ sang cam tuyền của những đám mây xa. Lúc chị Hương rút năm chục cuối cùng ra mua ba trái dừa xiêm cho cả bọn uống đỡ khát, tiếng reo hò chợt dậy vang trên cồn.

“Dậu xuyền lại!”

“Có tàu, tàu tới, tàu tới!”

Mọi người không kềm chế được vui mừng chạy ùa ra bãi đất trống hồi sáng lúc lên cồn. Trong ráng chiều buông chầm chậm, Đường trông thấy ngoài sông ba chiếc tàu cây đang chậm chạp tiến vô.

“Đâu, chiếc nào là MT.603 đâu?”

“Chiếc sơn đỏ dưới lườn đó.”

“Trời ơi! Nhỏ xíu vậy làm sao vượt đại dương đi Úc!”

Những người lần đầu tiên vượt biển thất vọng kêu trời. Tàu vượt đại dương trong đầu họ là hình ảnh những chiến hạm, tàu thủy đậu trong bến cảng Bạch Đằng. Những người đã cay đắng nhiều lần rồi thì bình tĩnh hơn.

“Vậy là khá rồi, hồi tui đi chui ở Cà Ná ghe dài chỉ bằng ba chiếc giường ngủ nhập lại. “

“Thôi chết rồi, lão Trương Hồng lừa mình rồi.”

“Dưới Rạch Giá tàu cũng chỉ cỡ vầy…”

Đường nghe rõ những mẩu đối thoại chung quanh, anh không có ý kiến vì đã ra đến đây ghe xuồng tàu bè lớn nhỏ cỡ nào cũng phải lên thôi. Ba chiếc tàu cây ngừng lại ở giữa sông. Hóa ra có hai chuyến đăng ký khác đi cùng ngày mà Đường không biết. Đường cũng vừa khám phá thêm qua lời đối đáp giữa ông Hỏa em rể chủ tàu và những người vây quanh, là chiếc MT.603 dự định đi Úc. Người tổ chức tự tin chiếc tàu của họ đủ sức hải hành xuống tận vùng nam Thái Bình dương. Có lẽ lý do chính là vì từ mấy tháng qua, đài BBC không ngừng loan những bản tin về nạn hải tặc ở vịnh Thái Lan, điểm đến gần nhất. Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba thì đài VOA loan tin tàu tỵ nạn bị kéo đuổi ra khơi. Đường suy nghĩ nhưng không tài nào đoán ra lý do khiến các nước Đông Nam Á trong vùng xua đuổi làng xóm đang lâm nạn. Chỉ mới hôm qua, họ hãy còn là đồng minh của Việt Nam Cộng hòa. Đường cảm thấy cay đắng, đồng thời ba chữ Úc Đại Lợi vừa nhú mầm nẩy lên trong anh. Đường cố hình dung ra vùng đất lạ của nhà sinh vật học nổi tiếng Darwin, nhưng cũng như bóng đen về sự xua đuổi thuyền bè của các nước láng giềng, Đường không mảy may ý niệm gì được về mảnh đất lục địa chờ đón sắp đến. Nhưng lần đầu tiên từ lúc xuống Mỹ Tho, anh nôn nao khó tả.

Hơn tiếng đồng hồ sau, hai tàu tuần giang PCF chở đầy công an hộ tống một đoàn ghe đông đảo người ngồi trong khoang cặp vào cồn. Lần này những chiếc đuôi tôm cặp hẳn vào bờ. Công an và đám người lạ mặt tuần tự lên cồn. Viên công an mang kiếng gọng vàng lúc nãy tái xuất hiện, nói chuyện hồi lâu với chủ tàu rồi quay sang ra dấu đem loa phóng thanh đến.

“Các anh chị chú ý! Các anh chị chú ý! Tôi thay mặt Tỉnh ủy, thay mặt đội ngũ Công an Nhân dân Thị xã quán triệt với các anh chị một vài điều trước khi các anh chị lên đường…”

“Quán triệt” vắn tắt, kêu gọi mọi người phấn đấu lao động ở xứ người tiếp nối phát huy truyền thống anh hùng của hai dân tộc Hoa-Việt tự ngàn xưa. Không ai cảm giác kỳ dị và cũng không ai tự hỏi vì sao chính quyền tổ chức cho họ ra đi, tất cả đã quen với ngôn từ chính thức và quen với sự im lặng, riêng Đường càng lúc càng nôn nóng.

“Sau đây là danh sách các anh chị có tên thuộc diện người Hoa đăng ký theo tàu MT.603. Anh chị nào có tên thì đứng lên ra tập họp xuống ghe để ra tàu lớn. Tổ Một: tổ trưởng Lâm Huê, tổ viên các anh Trương Liêu, Đặng Cẩm, Trịnh Vũ Vương, Phùng Hội, Phùng Tảo… các chị Trương Tố, Vương Huệ, Tú Diệp Anh…”

“Dzũng, ông có tên kìa, đứng lên đi! Đường bật dậy.”

“Đâu? Gọi hồi nào? Dzũng hớt hải.”

“Phùng Tảo! Tên trên khai sinh Tàu của ông là Phùng Tảo. Nhanh lên!” Đường đẩy Dzũng.

“Phùng Tảo có mặt!” Dzũng lật đật.

Biên mang túi đeo vai giùm anh Dzũng, nó vừa kích động, vừa nghĩ đến cái tên Mã Siêu trên khai sinh Tàu của mình. Tự nhiên Biên nhớ đến cha đã mất, nhớ đến ông Long buổi trưa 30 tháng 4 đốt vội vàng thông hành của chính phủ Trung Hoa Dân quốc khiến bà Long phải mua khai sinh giả cho hai anh em Đường với giá một chỉ vàng. Tàu thật trở thành Tàu giả, hay Tàu lai trở lại làm Tàu thật? Biên thật sự thắc mắc. Cho đến buổi trưa Mỹ Tho, Biên vẫn tin nó là người Việt, mà chỉ đến buổi trưa này Biên mới ý thức cái tên thật Lưu Gia Biên của nó đầy Tàu, nhưng là một thứ Tàu không được công nhận, giản dị vì là Tàu Quốc gia. Quốc gia? Biên hãy còn quá trẻ để hiểu, tuy biết cái chết của cha gắn liền với 30 tháng 4. Nó đứng xếp hàng sau lưng anh Dzũng, nhìn mọi người trút hết tiền Giải phóng còn thừa vào chiếc rổ mà anh công an trẻ đang cầm.

“‘Giải phóng’ đến đây là hết giá trị.” Dzũng thì thầm.

“Cái gì của âm phủ trả cho âm phủ.” Đường gật đầu.

Công an tiếp tục đọc tên: “Các anh Vưu Di, Mã Siêu, Mã Sinh, Chiêu Cấm, Triệu Hỷ… ” Đến tên, Đường hô “Có mặt”.

“Em mang tên Mã Siêu luôn hả anh?”

Biên vẫn còn thắc mắc, ý nghĩ trở lại làm người Tàu làm thằng Biên không vui. Nó nghĩ đến đám bạn người Việt trong trường, nghĩ đến chỉ mới cách đây vài tháng khi chiến tranh biên giới nổ ra, thầy chủ nhiệm đã kín đáo khuyên nên khai lại lý lịch vì gốc Hoa sẽ cản trở học vấn. Đường nhìn em ngạc nhiên, tự nhiên anh thấy thằng Biên lớn hẳn, nó có vẻ ưu tư.

“Qua đến trại tỵ nạn khai lại.”

“Khai người Việt hay người Tàu?”

Biên nhìn anh. Đường nhìn thằng Biên, anh thấy rõ ràng thằng bé đang lớn lên, làm như xa gia đình ba ngày đã khiến nó ý thức phải tự lập và đã khiến nó hiểu những quyết định sắp đến của anh vô cùng quan trọng. Đường muốn trấn an em nhưng chính câu hỏi của thằng Biên làm anh phân vân. Tàu hay Việt? Chính gốc Hoa của Dzũng và Đường đã khiến ông Trương Hồng trở nên dễ dãi và tin tưởng. Cũng chính gốc Hoa này đã giúp bà Long xin bớt hai lạng vàng. Nhưng Tàu hay Việt, Đường chưa bao giờ tự đặt câu hỏi, vì trong thâm tâm anh luôn nghĩ mình là người Việt. Bên cạnh, Dzũng cũng nghe thấy và chờ đợi đáp án của bạn mình. Chính Dzũng cũng đang phân vân, sau cùng, Dzũng nói nhỏ: Sang tới trại tỵ nạn rồi tính, nhưng Đường đã trả lời em: Khai người Việt. Mẹ là người Việt, anh em mình là người Việt. Đường nghe giọng nói của anh thật chắc chắn. Biên cảm thấy an tâm, nó nhìn ra những thước sông bây giờ đã sẫm.

*

Bảy giờ tối, trong ánh đèn pin quét ngang dọc của công an, mọi người lần lượt xuống tàu lớn. Dzũng, Đường và những người đàn ông trong nhóm bị đẩy xuống hầm dưới cùng.

“Chết rồi bây ơi, không có cửa sổ!”

Anh Vĩnh la làng khi cả bọn chui xuống hầm. Khoang tàu tầng dưới tù mù trong ánh đèn bão mắc ở đà ngang. Chưa gì mọi người đã ngộp thở, hầm tàu bít bùng thiếu dưỡng khí. Mùi dầu Ma-zút xông lên hăng hắc.

“Xuống, xuống! Tổ một dồn ra đắng mũi đi! Nị tỳ hôi sườn pìn!”

Mấy thằng thủy thủ gốc Triều Châu to con vạm vỡ, xô đẩy nhóm Đường. Người trên boong tiếp tục dồn xuống.

“Ngồi sát vô nữa! Mỗi băng mười người! Xập cô dành!”

Bọn thủy thủ tiếp tục la hét quát tháo. Mặt anh Vĩnh và anh Thành đanh lại. Những người đàn ông ngồi chật đến độ không thể cựa quậy. Trong bóng đèn bão vàng vọt, vang lên vài tiếng “Tiểu lụ mụ” của các thanh niên người Hoa cũng đang bị dồn ép như cám. Người trên boong vẫn tiếp tục được đẩy xuống. Đường có cảm tưởng hai xương vai và ba sườn mình sắp vỡ vụn.

“Tôi nói ông rồi, máy ép dầu xuất khẩu mà!”

“Nghe đâu công an gởi một trăm người, cánh ra sau hồi nãy là người của công an đó.”

“Không cửa sổ, ngồi ép mỡ kiểu này tàu lật là đi đái…”

“Ê mấy cậu nhỏ đó, đi đường xa đừng có nói gở. Hết chuyện đùa rồi sao!”

Mấy ông già lớn tuổi ném cho bọn trẻ cái nhìn quắc mắt không mấy thiện cảm. Đám thanh niên nín thinh, hầm tàu chỉ còn tiếng chân xô đẩy quờ quạng tìm chỗ ngồi. Không ai nói gở nữa, nhưng hình ảnh cái quan tài tập thể đã lởn vởn trong đầu mọi người.

Phần Biên, dưới 18 tuổi nên được ở tầng nhì, có cửa sổ ngồi chung với đàn bà con gái. Tầng thượng dành cho thân nhân gia đình chủ tàu và tài công. Khoang tàu của thằng Biên cũng chật không kém, nó bị năm con xẩm ép dính vào vách. Không phải một hộp cá sardine nhưng là một hộp thịt pâté. Thằng Biên cố an ủi được ngồi kế cửa sổ không sợ ngộp thở. Nó đo lường bằng mắt cái khung cửa hẹp liệu xem thân hình ốm của nó có chui ra được khi gặp biến. Thõng một tay qua cửa sổ, Biên giật thót mình vì cánh tay nó chạm ngay vào dòng nước lạnh toát. Mực nước mấp mé chỉ cách chừng hai mươi phân. Đúng lúc đó thằng Biên chợt nghe tiếng mái chèo khua nhẹ, rẽ trên mặt nước. Rồi tiếng chạm nhẹ vào vách, rồi có tiếng đụng mạnh hơn vào lườn tàu, tò mò nó nghiêng đầu qua cửa sổ. Một bàn chân rơi bịch bất ngờ ngay trên thành cửa trước mũi thằng Biên. Một bóng người từ chiếc ghe tam bản cặp bên hông chiếc MT.603 bay vụt lên boong. Tiếng súng nổ chát chúa liền tức khắc. Liên tiếp là tiếng đạn AK rít rít trong gió. Năm ngón chân của cái bàn chân trần bấu quặp vào thếp gỗ run rẩy rồi rơi tõm xuống, nước bắn ướt vào trong khoang. Những băng đạn AK vẫn còn được bắn xối xả xuống lòng sông đen ngòm. Tiếng AK nổ như trống. Đến khi âm vang của tiếng súng dứt hẳn, hồi lâu sau trong bầu không khì sợ sệt im phắc, một giọng đàn bà mới lắp bắp thều thào:

“Trời ơi… đi ‘hôi’ bị bắn rồi.”

Đã gần nửa đêm tàu vẫn chưa chạy, không ai rõ chừng nào mới “nhổ neo”. Ông Trương Hồng và tài công đã trở vô thị xã ăn chia tay với công an. Tất cả chìm trong bóng đen đặc, cây đèn bão gã thủy thủ đã lấy đi. Mùi Ma-zút xông lên đến ngộp thở, in mùi hắc ín tráng nhựa đường. Thằng Biên nhắm mắt cố ngủ để lấy sức, mỗi lần giật mình bừng tỉnh, nó ngó ra ngoài đêm quê hương mịt mù. Tàu vẫn đứng yên một chỗ.

Đêm 29 rạng 30 tháng Năm, ba chiếc tàu đăng ký bán chánh thức được hai chiếc PCF của công an biên phòng hộ tống ra cửa biển. Thằng Biên thức giấc khi hai chiếc PCF bắc loa chúc “đồng bào đi thượng lộ bình an”, rồi quay mũi trở lại Mỹ Tho. Ra tới cửa biển sóng lớn hẳn làm tàu chao, lắc lư như người say rượu. Trong tờ mờ hừng đông thằng Biên thấy những cụm phù sa đỏ ngầu trôi băng băng qua cửa tò vò. Nước biển đục, lờ lợ mằn mặn ngọt ngọt kỳ cục khi nó vốc nước uống thử. Biên chợt đoán ra đây là chỗ sông cái tiếp giáp với biển. Hai luồng nước gặp nhau nên sóng mạnh, đập vào thành tàu như múa trống. Ba chiếc tàu tiếp tục lộ trình suốt buổi sáng cho đến khi hai chiếc tàu kia rẽ về hướng khác. Thằng Biên nghe tiếng xì xầm bàn tán của vài người Việt trong khoang, được biết hai chiếc kia đi Mã Lai. Chiếc MT.603 trở ngược lên phía Bắc, đến chiều ở khúc Nha Trang thì trực chỉ hướng Đông. Hải trình đi Úc được vạch xuyên qua Phi Luật Tân. Nhóm tổ chức đã tính kỹ, đi Úc xa và gian lao hơn, nhưng bù lại không phải ở trại tỵ nạn, sẽ được định cư ngay. Thằng Biên ngủ li bì như để giả bữa cho ba đêm mất ngủ trên lan can ngôi biệt thự ở phố chợ Mỹ Tho. Sang ngày thứ hai, đàn bà con nít trên tàu bắt đầu say sóng. Ghê tởm nhất là mấy con xẩm từng băng cứ từng cơn ụa nôn, gục mặt lên người thằng Biên ói mửa! Nhiều lần thằng Biên thúc cùi chỏ vô bụng con xẩm ngồi cạnh nhưng người nó cũng đã nhơ nhớp đồ ói. Tệ hơn nữa là các cánh cửa tò vò không mở ra được vì sóng biển liên tiếp ập vào lườn tàu. Mùi hôi do đó tanh nồng hôi thối đến ngộp thở. Nhiều bà già ỉa đái ngay trên sàn, mỗi khi tàu ngả nghiêng phẩn dơ từ trong “pô” văng tung tóe!

Phần Đường và các bạn anh dưới hầm tàu, tình trạng cũng không khả quan hơn. Ngồi đằng mũi, nên Đường có cảm tưởng những làn sóng vô hình đâm xuyên vào ngực mình trước khi xẻ dạt sang hai bên hông tàu. Các bạn Đường cũng cùng chung cái cảm giác tức ngực ấy. Hầm tàu phần chìm dưới biển hứng chịu những đợt sóng ngầm nên tất cả đàn ông đều cảm thấy như mình bị dần, bị xô ném bởi bàn tay của tên khổng lồ. Nhiều người không chịu đựng nổi, nôn thốc nôn tháo lên người đối diện. Cây đèn bão không hiểu sao bọn thủy thủ lấy đi để lại khoảng hầm tối đặc, nặng mùi. Đường không thấy đói, và cũng không dám ăn uống vì sợ đi tiêu đi tiểu hay nôn mửa giữa đám người ngồi bó chiếu. Thêm nữa, Đường hối hận lúc xuống hầm đã không kịp đưa bao lương khô cho em, anh cứ lo lắng sợ thằng Biên đói. Mấy lần Đường tính nhờ chuyền tay chuyền lên hộp guigoz đường cát có tẩm chanh cho em, nhưng lại sợ có tay nào bất hảo cầm nhầm luôn nên đành thôi. Đến lúc mệt quá, anh mang theo lon guigoz vào cơn mê thiếp mệt lả.

Ngày thứ ba, đám Hoa kiều bừng tỉnh nườm nượp ăn uống. Họ lôi từ trong sắc ra từng khối thức ăn bổ béo và có chất dinh dưỡng cao như sâm khô, gà ác ướp tương, chuối cau, mật ong, đường thẻ, cam sành… Thằng Biên cũng thấy đói bụng, không có bọc lương khô mẹ làm sẵn, nó đành chờ mấy con xẩm ngủ say mới moi móc vài củ sắn, miếng bánh đậu và uống ké nước lọc. Hậu quả tức thời của một ngày ăn uống là những vụ ói mửa, tiêu tiểu liên tục. Từ trong boong nhìn xuống các khoang, thằng Trương Đắc, con ông Trương Hồng, không khỏi liên tưởng đến những xe hút hầm cầu thường trông thấy trong Chợ Lớn! Mùi xú uế kinh khủng đến độ thằng Biên quyết định trèo lên boong trên. Nó bò, trườn, đạp, giẫm trên đầu nhiều người để ra cửa khoang.

“Nị hôi pín tồ?”

Bà xẩm vừa bị Biên bò qua đầu chửi đổng “Tiểu nị lẩu mẩu hấy”. Thằng Biên bất cần, vì nếu không lên boong nó sẽ chết ngộp tức khắc!

“Xuống hầm!”

Thằng thủy thủ lúc ở cồn quát lớn, lấy tay đè đầu thằng Biên.

“Cho đi đái!”

Nó cố gỡ cánh tay cuồn cuộn bắp thịt của tên thủy thủ.

“Đái vô bao ny lông!” Tên thủy thủ lại nhấn thằng Biên xuống.

“Thôi cho nó lên.”

Thằng Trương Đắc học chung Kế toán Vật tư với Dzũng, biết anh em Đường nói với thằng thủy thủ rồi kéo thằng Biên lên.

“Đái rồi xuống liền nghe.”

Biên không trả lời, bò ra boong sau. Cầu tiêu nằm tuốt ở đuôi, không có người. Bước vào cầu xí thằng Biên đang mắc tiểu kinh khủng, nhưng không tài nào tiểu tiện được. Nước biển chỗ chân vịt bị đánh văng tung, xối xả lên nhà cầu. Thằng Biên tưởng như nó vừa hứng hết nước tiểu của những người đi tiểu trước! Cái buồng gỗ đóng sơ sài không đáy, nghiêng qua nghiêng lại chòng chành lên xuống đến thót ruột. Nắm chặt nắm cửa, người ướt nhẹp, nó sợ rơi xuống lỗ hổng toang hoác phía dưới. Cuối cùng, Biên đành chấp nhận nó không thể nào đi tiểu được trên một vị trí bấp bênh thiếu an toàn như miếng ván gỗ này. Nó trèo xuống, ngồi bệt trên sàn tàu. Nó nghe loáng thoáng tiếng nói chuyện được biết hôm qua ở hải phận quốc tế, có vài chiếc tàu Na Uy, Thụy Điển trông thấy chiếc MT.603 nhưng đều chạy luôn.

Gió biển thổi phần phật, chung quanh tàu là một hình lõm nổi màu tím. Biển màu tím, nền trời màu tím, mây màu tím, chỉ có mặt trăng tròn sáng rợn trên cao. Sao nhiều kinh khủng, chưa bao giờ Biên được thấy nhiều sao như vậy. Cả bầu trời đêm tỏa sáng bát ngát, lồng lộng vần vũ mầy và tiếng sóng ào ạt rào rào làm Biên tự dưng quên mất thực tế. Nó ngây ngất trước khung cảnh đã được đọc trong Mười lăm truyện mùa Hè, Mười lăm truyện phiêu lưu, Mười lăm truyện đường biển. Nó chợt sống với thế giới của Ngư ông và biển cả. Tiểu thuyết hơn, Biên nghĩ đến 20.000 dặm dưới đáy biển của Jules Vernes.

“Ê, đái rồi sao chưa xuống mày?”

Thằng Biên giật mình, vội hít lấy hít để bầu không khí trong lành trước khi chui xuống hầm lại.

Biên thấy nó ngồi trong căn phòng ăn quen thuộc của ngôi nhà ở Đakao, bà Long ngồi bên cạnh, nắm chặt tay con nước mắt ràn rụa. Thằng Biên hốt hoảng muốn rút tay ra, đỡ lấy mẹ.

“Mẹ, mẹ sao vậy!”

Nhưng bà Long vẫn nắm chặt tay con, hai mắt mở lớn trừng trừng…

Biên vùng vẫy tỉnh dậy và nhận ra nó đang bị con xẩm đè ép sát vách tàu. Mồ hôi hai bên thái dương và lưng áo thằng Biên vã ra như tắm. Đang đêm hầm tàu lạnh căm căm vì gió biển thổi lùa thốc qua cửa khoang, mà người Biên vẫn ướt đẫm mồ hôi vì sợ. Nó nhớ rõ mồn một cách đây bốn năm khi bố mất, bà Long nằm mơ thấy mình đang đi xe đò với chồng, chợt có người lạ mặt chặn xe xông lên đâm vào lưng ông Long. Đúng lúc đó, cả nhà bị đánh thức dậy vì tiếng chuông điện thoại reo từ nhà thương Đồn Đất báo tin ông Long hấp hối. Đêm đó là 31 tháng Năm 1975, Giải phóng vừa đúng một tháng. Tháng Năm 75 – tháng Năm 79, tự nhiên thằng Biên cảm thấy khó thở, hai lỗ tai lùng bùng, rồi như có một sức mạnh vô hình thúc đẩy, nó bò trườn nhanh qua đầu mọi người đang say ngủ ra ngoài.

“Xuống hầm! Con cặc, không có đi đái nữa!”

Thằng thủy thủ lúc nãy ngồi chặn ở cửa khoang quát lớn, cùng lúc lấy chân đạp vào mặt thằng Biên. Vẫn cái sức mạnh vô hình đã kéo nó dậy, lần này truyền vào hai tay nó chụp lấy chân gã thủy thủ và hất mạnh ra sau. Tên thủy thủ ngã ngửa trong lúc thằng Biên xông lên chạy ra boong sau. Gã thủy thủ lồm cồm đứng dậy rượt theo nó. Chiếc thuyền đột ngột chao thật mạnh khi ấy, cả hai, Biên và thằng thủy thủ cũng mất thăng bằng trượt chân té sõng soài. Toàn thân chiếc tàu rùng mạnh như bị bắn thủy lôi. Có tiếng va chạm cọ xát đến nhức óc. Cả hai vừa gượng đứng lên lại ngã nhào vì con tàu bất ngờ nghiêng hẳn sang một bên. Chuỗi âm thanh cọ xát vỡ vụn lanh lảnh lúc nãy lại vọng lên đinh tai. Trên tàu có tiếng la khóc sợ hãi. Tiếng quát hỏi hỗn độn của tài công và thợ máy. Cả tên thủy thủ và Biên đều bất động trên sàn tàu, họ bị thôi miên vào hình ảnh con tàu không ngừng nghiêng ngửa tưởng có thể lật úp. Biên, ở chỗ nó nằm dán sát cabine, thấy rõ tài công đang cố cho tàu de lại. Chiếc MT.603 rùng mình nhiều lần, tiếng máy tàu rú như tiếng sói biển tru đêm. Biên nhìn trông thấy ở nhà xí, chân vịt quay tít, nước biển bắn lên lớp lớp như sóng thần. Chiếc MT.603 rung chuyển toàn thân, cố bứt rời khỏi vùng nước đang bấu chặt lấy nó. Lẫn với tiếng sóng, tiếng máy tàu gầm rú, râm ran tiếng Nam mô niệm Phật, cầu kinh của bốn trăm người.

“Chân vịt vướng lưới rồi, cho chạy tới!”

Không rõ ai đã la lên nhưng tài công nghe theo cho tàu chạy tới. Lần này tiếng va chạm cọ xát khủng khiếp như bom nổ. Chiếc tàu hộc lên rồi lại chao nghiêng như muốn lật sấp.

“Hỏng rồi, đá ngầm! “

“De lại, de lại!”

“Cho chạy máy phụ, gài hết số, giục hết hành lý cho nhẹ tàu!”

Tiếng khóc trong khoang đàn bà con nít bây giờ như ri, không phân biệt được nữa là tiếng Quảng hay tiếng Việt. Mặc dù đã chạy hết mã lực, chiếc tàu vẫn không nhúc nhích nổi. Thủy thủ đoàn đã giục hơn quá nửa số hành lý buộc trên boong. Những sắc, vali, ba lô căng phồng, trôi nổi trên mặt nước một lúc rồi chìm lỉm. Thằng thủy thủ kiếm chuyện với Biên biến đâu mất. Trong cabine, tài công và chủ tàu xoay trở, chửi bới lẫn nhau. Lúc này tài công đã biết chắc là đá ngầm, chứ không phải vướng lưới. Dù chuyện có đá ngầm giữa đại dương nghe vô lý, nhưng chiếc MT.603 rõ ràng là đụng phải một khối đá cứng. Tiếng máy tàu rít man dại, những hàng bọt sóng trắng xóa từ hai bên hông tàu rùng rùng xẻ phăng phăng trên mặt biển. Ván thuyền rung bần bật, có khi mọi người tưởng chừng tàu vỡ tung đến nơi vì những tiếng “bục”, “bục” cực lớn phát ra từ chân vịt.

“Ngừng máy, ngừng máy, gẫy chân vịt đến nơi rồi!”

“Đừng thử nữa, bể ‘lốc’ máy!”

Chiếc MT.603 đã nghiêng hẳn sang bên trái sát mặt nước. Mọi người được lệnh dồn hết sang phải để quân bình trọng lượng, nhưng vô ích. Bọn thủy thủ điên cuồng giục hết xuống biển tất cả những gì chúng nắm dưới tay. Những bao bố thực phẩm tươi, những thùng cạc tông thức ăn khô và cả những can nước ngọt hăm lăm lít thi nhau bay xuống biển. Hành lý của bầy thuyền nhân thì đã vất từ lâu.

Tài công chính và thợ máy cố gắng thêm một lần nữa, hy vọng trọng lượng giảm bớt giúp tàu nổi lên. Tiếng máy chỉ kịp rít lên một tràng ngắn, thì đằng mũi đứng dựng lên rồi cả con tàu rơi chạm mạnh xuống mặt đá ngầm. Như cơn địa chấn, mặt nước vỡ tung tóe, trăm ngàn mảnh. Chuỗi tiếng động đổ sập từ trên boong làm mọi người ở đằng lái chết sững. Cây đà chống boong vừa sập xuống, kéo theo trần boong trên đè sập xuống tầng đàn bà, chỗ ngồi của thằng Biên từ mấy ngày nay.

“Trời ơi cứu… cây đè con tôi chết rồi!”

“Câu màng à! Câu màng à!”

Ở những cửa hẹp, những cánh tay bấu víu giành nhau túa ra nhảy xuống biển. Những người đàn ông từ hầm dưới cùng nghe tiếng kêu khóc của vợ con, vùng tràn lên boong cố tìm đường vô khoang nhì đã bị đè bít. Mặt boong trên nghiêng vỡ trong tiếng gỗ gẫy vụn đến rợn tóc gáy, từng đám đông người lê lết tìm đường thoát. Mọi người tiếp tục tuôn ra từ các cửa sổ và cửa khoang, nhảy xuống biển theo lệnh của tài công cho nhẹ tàu. Tai nạn rùng rợn ở tầng nhì, như có quý nhân phù trợ không gây thiệt hại nhân mạng, chỉ một số đàn bà và con nít bị đè gẫy tay gẫy chân. Nhưng chiếc tàu bây giờ là địa ngục nổi trên mặt nước. Thằng Biên sau một lúc lâu chết sững trước buồng xí, vùng dậy theo bản năng, trước lúc nhảy xuống biển nó còn nhớ quàng vội chiếc áo phao của hải quân Mỹ mà nó đã hứa với bà Long luôn đem theo mình.

Rơi tõm xuống biển, thằng Biên đau nhói ở lòng bàn chân bị đá san hô cứa đứt. Nó còn tỉnh táo cố giật bình gaz mắc trên áo phao. Chiếc áo phồng lên giúp nó trôi bềnh bồng. Bầu trời Thái Bình Dương sáng rực hồi nào không ai hay.

[…]

Trần Vũ, tháng 10-1988

Bình luận

2 Comments (bài “Trần Vũ – Biển san hô (2)”)

  1. Đỗ Trí viết:

    Lời nói đầu của bài viết này có đề cập đến cảm nhận vô thức của những thuyền nhân Việt Nam đối với lá cờ vàng. Thế còn cảm nhận của họ đối với lá cờ đỏ thì sao? Cách đây vài ngày tờ nhật báo của thành phố San Jose có đưa tin về việc sử dụng sai trái lá cờ đỏ vào việc tranh cử vào hội đồng thành phố San Jose ở một quận của thành phố này. Điều lạ là các ứng viên ở quận đó không có ai là người Việt cả. Phần đầu của bài báo được tạm dịch như sau:

    “Văn phòng Chưởng Lý Quận Hạt Santa Clara tuyên bố hôm thứ hai là họ đã mở một cuộc điều tra về một tờ thư quảng cáo vận động tranh cử nhằm bôi nhọ một ứng viên Hội Đồng Thành Phố bằng cách liên kết bà ta với chế độ cộng sản Việt Nam.

    Tờ thư ra vẻ như do chính ứng viện Quận 5 Magdalena Carrasco gởi đi, hình như đã vi phạm ít nhất một điều luật của tiểu bang cấm xử dụng những thủ thuật lừa bịp trong các tài liệu tranh cử. Tờ thư là do một tay mơ làm, in ảnh bà Carrasco bên cạnh ảnh cờ Việt Nam (cộng sản), là lá cờ mà hầu hết những người Mỹ gốc Việt cảm thấy gai mắt vì nó là biểu tượng của chính quyền cộng sản ở quê nhà.”

    Dưới đây là bài báo nguyên thuỷ và một bài khác liên quan của đài NBC:

    http://www.mercurynews.com/top-stories/ci_15105644
    http://www.nbcbayarea.com/news/local-beat/Dirty-Political-Trick-Strikes-Emotional-Nerve-93928374.html

    Việc làm này rõ ràng là bẩn thỉu và phải lên án. Tuy nhiên điều đáng cho chúng ta suy gẫm đằng sau câu chuyện là cảm nhận vô thức của những người Việt tị nạn đối với lá cờ đỏ, và rộng ra hơn là cảm nhận vô thức của người Việt trong nước, miền Bắc và miền Nam, già và trẻ, đối với hai lá cờ này. Mà không chỉ có cờ, còn hình ảnh này, tượng đài nọ, tranh vẽ kia, v.v…

    Có lẽ không chỉ có bức tường ngôn ngữ, mà còn có cả bức tường hình tượng giữa những người Việt. Không chừng với hình tượng thì không chỉ là bức tường – tường còn leo, đục được, và có thể ‭bị thời gian xói mòn – mà là cả một rặng núi sừng sững.

  2. Trương Nhân Tuấn viết:

    Truyện của anh Trần Vũ luôn thu hút tôi, vì ngoài lối viết đặc sắc thâm thúy anh còn đưa ra những vấn đề xã hội cần suy gẫm. Trong bài này anh đặt ra hai vấn nạn Việt Nam : vấn đề người Việt gốc Hoa và vấn đề thuyền nhân.

    Theo tôi một « dân tộc » chỉ có chung một « tổ quốc » khi nào dân tộc này có cùng một « trí nhớ tập thể » và chia sẻ một « tương lai chung ». « Trí nhớ tập thể » là lịch sử. Trong bài văn này anh Trần Vũ đã cho thấy tổ quốc Việt Nam chưa chắc chỉ có một.

    Đối với những nguòi Việt gốc Hoa, « trí nhớ tập thể » của họ tùy thuộc vào thế hệ. Thế hệ sinh ra và lớn lên ở VN, hầu hết tự nhận là người VN. Nhưng biến cố 1975 đưa tới vấn đề « nạn kiều », đã bắt buộc những lớp trẻ này phải nhận một « trí nhớ tập thể » không phải của họ mà chỉ có ở cha ông họ. Đó là trở lại thành người Hoa.
    Đối với những nguòi miền Nam, sau biến cố 1975, « trí nhớ tập thể » của họ bị phía chiến thắng hạ nhục. Phía chiến thắng cố tìm cách bôi trắng lịch sử của miền Nam và cố gắng nhồi nhét cho những thế hệ miền Nam sau này « trí nhớ tập thể » của phía người chiến thắng. Nhưng bề trái sự việc là người miền Nam vẫn bị xem như là một loại dân « thứ cấp ».

    Đối với những người có may mắn thoát ra được nước ngoài, đây là một nhóm người phức tạp. Nếu họ đi từ miền Nam thì « trí nhớ tập thể » của họ là lịch sử của miền Nam, với văn hóa, lời ăn tiếng nói là của miền Nam. Họ tản mát ở các nước trên thế giới, do đòi hỏi của cuộc sống, họ phải hội nhập vào xã hội đang dung chứa họ. « Trí nhớ tập thể » của họ do đó mang âm hưởng của từng nước chấp chứa họ. Nhưng phần chính, về những gì là VN, họ vẫn giữ nguyên. Nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn theo đuổi làm nhục « trí nhớ tập thể » của họ qua các việc vận động các nước Mã Lai, Indonésie… hủy bỏ các trại tỵ nạn, đập phá các bia tưởng nhớ…

    Các nhóm nguòi đi từ miền Bắc, « trí nhớ tập thể » của họ là lịch sử của phe chiến thắng.

    Về việc « chia sẻ một tương lai chung » thì vấn đề đơn giản hơn. Theo tôi, lý do bỏ nước của tất cả những người này là không thể chia sẻ « tương lai chung » mà đảng CSVN lãnh đạo đã vạch ra.

    Như thế ý nghĩa « tổ quốc Việt Nam » đang có vấn đề. Nhà cầm quyền CSVN cố gắng bôi xóa « trí nhớ tập thể » của ½ dân nước, hạ nhục lớp nguòi không chia sẻ với họ « tương lai chung »… nhưng hậu quả sẽ chỉ đưa tới một sự chia rẽ trầm trọng hơn. Người dân một số khá lớn vẫn quay lưng với mọi đe dọa hay thăng trầm của dân tộc. Tổ quốc Việt Nam đã không có một ý nghĩa đồng nhất do đó bị đe dọa từ nhiều phía.
    Từ lâu tôi chủ trương một chính sách hòa giải dân tộc để người Việt tự nhìn lại mình, chấp nhận « trí nhớ tập thể » của nhau, để xây dựng một tương lai chung cho cả dân tộc. Nhưng tôi nhận thấy rằng, thay vì « hòa giải dân tộc » được đặt ra như một vấn đề thuộc về đạo đức, thì chính trị gia các phía đều xem việc « hòa giải dân tộc » là một vấn đề chính trị. Do đó việc « hòa giải » thay vì được thực thi vì quyền lợi của dân tộc, lại bị giới chính trị gia bắt làm con tin, xem đó là mục tiêu trao đổi hay thỏa hiệp chính trị.

    Bài văn của anh Trần Vũ là dịp « trí nhớ tập thể » của người Việt tỵ nạn được ôn lại. Hy vọng nay mai sẽ được đọc phần kết. Và mọi người thấy, đây là một vết thuơng lớn trong lòng dân tộc. Lấy thái độ xem như không có nó vô hình chung làm cho « tổ quốc Việt Nam » có nhiều ý nghĩa khác nhau, người dân mỗi người nhìn về một hướng.

    Cám ơn anh Trần Vũ

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>