Tưởng Năng Tiến – Vẫn theo gương Bác
19/05/2010 | 7:00 sáng | 18 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Hồ Chí Minh > Phan Châu Trinh
Sau nhiều năm lưu lạc, khi trở lại cố hương, ông Cao Ngọc Quỳnh bùi ngùi kể lại: “Tôi cô đơn lạc giữa dòng người, dòng hoa, dòng đèn và dòng… khẩu hiệu. Vẫn những khẩu hiệu ấy của nhiều chục năm về trước với những sắc màu rực rỡ hơn trong sự mầu nhiệm của nền kinh tế thị trường.”
Họ Cao khiến tôi nhớ đến “những dòng khẩu hiệu ấy của nhiều chục năm về trước”, cùng với một tiếng thở dài – cố nén:
– Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
– Chủ nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít bách chiến bách thắng vô địch muôn năm!
– Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!
…
Suốt đời phải sống giữa cả đống Độc lập – Tự do – Hạnh phúc – Bách chiến – Bách thắng – Vĩ đại – Quang vinh – Muôn năm… giăng mắc ngổn ngang ở khắp nơi như thế, nếu không bị loạn thị, e cũng thành mụ mị. Do đó, “Tổ quốc (nếu được) nhìn từ xa” trông có vẻ lại rõ nét hơn:
“Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày
Xứ sở nhân tình sao thật lắm thương binh
Đi kiếm ăn đủ kiểu
Nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng …
Xứ sở thông minh sao lắm trẻ em thất học
Lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương…
Xứ sở thiêng liêng sao lắm đình chùa làm kho hợp tác…”
(Nguyễn Duy, “Tổ quốc nhìn từ xa”, 1988)
Hai mươi năm sau, năm 2008, một công dân khác – ông Phạm Đình Trọng – cũng “Nghĩ suy Từ Ấn Độ”, với nỗi niềm ray rứt, trăn trở và bất an (y trang) như thế:
“Ấn Độ là đất nước của thần linh… Việt Nam cũng là đất nước của thần linh… Nhưng chỉ vài chục năm cách mạng vô sản, nhiều đình chùa có tự ngàn xưa bị san phẳng, thần linh bị báng bổ… Những thần linh giả được đôn lên. Thần tài được tôn thờ…
Những ngày ở xứ sở của thần linh, tôi cứ tiếc nuối, cứ ngẩn ngơ nhớ đến cụ Phan Chu Trinh, một thần linh lớn lao, cao cả của chúng ta mà chúng ta chưa nhận thức đầy đủ.
Cùng thời với Gandhi, chúng ta có Phan Chu Trinh. Cùng tư tưởng, cùng cách lựa chọn như Gandhi, Phan Chu Trinh cũng chủ trương không dùng bạo lực, không đẩy người dân tay không ra đối đầu với súng đạn thực dân, mà phải trước hết nâng cao dân trí cho họ. Dân trí cao, người dân sẽ ý thức được quyền con người, quyền dân tộc mà bền bỉ đấu tranh chính trị, đấu tranh nghị trường giành độc lập. Gandhi đã thực hiện điều đó. Ấn Ðộ đã giành độc lập theo cách đó và đã thắng lợi!
Ðịnh mệnh trớ trêu đưa đẩy, chúng ta đã chọn con đường cách mạnh vô sản!” Ðó là cái giá chúng ta phải trả cho con đường cách mạng vô sản mà chúng ta đã chọn!”
Nói là “Tổ quốc nhìn từ xa” nghe cho nó có vẻ giang hồ và kiểu (cọ) chút đỉnh, chứ thực ra thì cũng không cần lê la xa xôi ráo, chỉ cần sống trên cao chút xíu – nhiều công dân Việt Nam – cũng có thể nhìn ra được thực trạng rõ ràng (và phũ phàng) của đất nước mình.
Từ cao nguyên Lâm Viên, ông Mai Thái Lĩnh, một biên tập viên của tạp chí Lang Biang (tờ báo đã bị đóng cửa vào tháng 5 năm 1988) cũng đã trình bầy những quan điểm tương đồng như ông Phạm Đình Trọng, qua một loạt bài viết công phu – “Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh” – xin trích dẫn một đoạn ngăn ngắn:
“Nếu quân chủ (quân trị) là chế độ mà một ông vua hay một dòng họ (hoàng gia) làm chủ, nếu dân chủ (dân trị) là chế độ mà toàn dân làm chủ, thì chế độ độc đảng toàn trị (đảng trị) chính là chế độ trong đó một đảng làm chủ. Chế độ đó thực chất chỉ là một chế độ quân chủ kiểu mới, một chế độ quân chủ trá hình.
Như vậy, chế độ độc đảng toàn trị chỉ là một chế độ dân chủ giả hiệu, không phải là một chế độ dân chủ đích thực. Vì thế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu như tất cả, hay hầu hết những gì Phan Châu Trinh nhận xét về chế độ quân chủ đều có thể áp dụng cho chế độ độc đảng toàn trị (đảng trị), tức là một chế độ trong đó một đảng làm chủ. Dù có thay một ông ‘vua cá nhân’ bằng một ông ‘vua tập thể’ thì những nét tương đồng vẫn có thể tìm thấy dễ dàng, nếu như mỗi chúng ta không bị những thứ chữ nghĩa ‘biện chứng’ làm cho mờ mắt, hoặc bị những giáo điều của ‘tôn giáo mới’ làm cho đầu óc khờ khạo, u mê.
Và cũng từ đó, chúng ta càng hiểu một cách sâu sắc tại sao hàng loạt các nhà nghiên cứu dựa trên quan điểm Marx – Lenin đã và đang luôn luôn tìm mọi cách để bưng bít, xuyên tạc quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh, một trong những nhà dân chủ đầu tiên và có thể là nhà dân chủ lớn nhất của nước ta trong thế kỷ 20.”
Quan điểm của ông Mai Thái Lĩnh được ông Hà Sĩ Phu (một cư dân khác, cũng sống hơi cao, trên cao nguyên Lâm Viên) tận tình chia sẻ – qua một loạt những bài viết khác: “Tư tưởng và dân trí là nền móng xã hội”– cũng xin trích dẫn một đoạn ngắn:
“Nếu đoàn tàu Việt Nam thuở ấy rẽ vào đường rầy Phan Chu Trinh, nhằm hướng xã hội dân chủ như Na Uy, Thuỵ Điển bây giờ thì sao nhỉ?
Nếu nương vào Pháp để đi lên thành công, không thành cộng sản, thì giản ước được bao nhiêu thứ:
• không có cuộc đánh Pháp 9 năm
• không có cuộc ‘Nam Bắc phân tranh lần thứ 2’ dẫn đến cuộc đánh Mỹ
• không phải tham chiến ở Căm-pu-chia
• không tranh giành gì để phải đánh Tàu năm 1979
• không có lý do gì phải tiến hành cuộc ‘đổi mới hay là chết’
• không có lý do gì để xuất hiện làn sóng đòi dân chủ-nhân quyền, dẫn đến hài kịch bịt miệng bị cáo trước toà cho thiên hạ xem, vân vân…
Nghĩa là tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, bao nhiêu gương anh hùng, bao nhiêu nạn nhân, bao nhiêu máu xương, bao nhiêu hận thù… và tăng thêm được bao nhiêu là hạnh phúc…
Nhưng bất hạnh thay, lịch sử đã không chọn Phan Chu Trinh. Không, đừng nói lịch sử, phải nói: dân tộc này đã không chọn Phan Chu Trinh.”
Ông Phạm Đình Trọng thì nằng nặc cho là vì “định mệnh trớ trêu đưa đẩy chúng ta đã chọn con đường cách mạng vô sản!”. Còn ông ông Hà Sĩ Phu thì nhất định nói rằng “dân tộc này đã không chọn Phan Châu Trinh”. Nói cách khác, theo hai ông, là “chúng ta” hay “dân tộc này” đã lựa ông Hồ Chí Minh.
Bộ thiệt vậy sao, Trời?
Nếu đúng vậy thì xin thưa (trước) là trong số những người mà ông Phạm Đình Trọng gọi là “chúng ta”, và ông ông Hà Sĩ Phu tóm gọn thành cả “dân tộc này” (kể như) không có… “em” đâu đó nha.
Ít nhất cũng có tới nửa phần dân tộc Việt – trong hơn một phần tư thế kỷ – đã chiến đấu không ngừng, đã chấp nhận hy sinh hàng triệu mạng sống, chỉ để cố giữ cho nửa phần quê hương Việt Nam không bị rơi vào thảm hoạ vô sản hoá và bần cùng hoá. Mà nói vậy – không lẽ – nửa phần dân tộc Việt còn lại đều đã đồng lòng cắm cúi bước theo con đường (“kách mệnh”) mà “Bác kính yêu đã chọn” hay sao? Vơ đũa cả nắm như vậy (e) còn trật dữ nữa.
Cả dân này Việt – nói tình ngay – chưa bao giờ có cái may mắn được lựa chọn bất cứ chuyện gì. Họ chỉ bị huyễn hoặc (hay được lãnh đạo) để lao vào những cuộc chiến rất “thần thánh” nhưng hoàn toàn không cần thiết – thay vì kiên trì nghe theo lời kêu gọi thống thiết “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của cụ Phan – thế thôi.
Theo cách nói của ông Bùi Tín là họ sống giữa “thế kỷ mây mù” mà. Và ông Hồ Chí Minh là nhân vật mù mờ, đáng ngờ nhất của thế kỷ này. Chỉ cái tên gọi, ngày sinh, ngày tử, và chuyện tình ái của ông ấy không thôi cũng đủ cho toàn dân… phát mệt, và khiến cho không ít kẻ phải mất việc – hay… mất mạng!
Sống và hoạt động “kách mệnh” cùng thời với ông Hồ mà không bị bán đứng, không bị ám sát, không bị hãm hại, không bị thủ tiêu… là may mắn và phước đức lắm rồi. Còn chuyện bị xuyên tạc, bị cái bóng đen và dàn loa tuyên truyền của Đảng ông ấy che khuất lấp (như trường hợp của cụ Phan Châu Trinh) thì kể như là chuyện nhỏ.
Sở dĩ ông Hồ Chí Minh gạt được nhiều người, trong nhiều năm, và có thể trở thành một thứ “thần tượng giả được đôn lên” (như chữ của nhà văn Phạm Đình Trọng) vì ông ta có được sự đồng lõa của cả một băng đảng chuyên môn làm bạc giả – Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Nửa thế kỷ trước, không ít những người thuộc thế hệ cha anh của tôi chưa bao giờ may mắn có được cái độ lùi cần thiết để nhìn rõ về chân dung của ông Hồ (nói riêng) và cuộc cách mạng vô sản (nói chung) một cách rõ ràng như thế. Thực không có gì ngạc nhiên là họ đã… trao duyên lầm tướng cướp, và cũng không có gì đáng trách vì họ đã cầm nhầm tiền giả.
Có đáng trách chăng là cho mãi đến hôm nay, sau khi cả dân tộc đã bị đẩy đi đến tận cùng sự bi đát (theo con đường Bác đi) mà Tuổi trẻ Online vẫn thản nhiên rầm rộ cổ động “bạn đọc tham gia viết bài Hoạt động theo gương của Bác”.
Một độc giả của diễn đàn này, ông Nguyễn Văn Hùng, đã “tham gia” với bài viết “Chiếc gối thần của bà tôi” – có đoạn – như sau:
“Bà tôi không theo đạo bà bảo chiếc gối bông là ‘chiếc bùa hộ mệnh’ của bà. Tôi để ý mỗi khi có việc gì hệ trọng thì bà lại lần giở chiếc gối, lấy ra một tờ giấy ố vàng đưa lên áp vào ngực và lẩm nhẩm khấn vái như người ta đọc kinh…
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước rợp cờ hoa mừng giải phóng, bà tôi lặng lẽ làm mâm cơm thắp hương lên bàn thờ Bác. Khác với mọi lần, bà tôi kính cẩn khấn vái rất lâu, nước mắt bà chảy dài làm tôi cũng muốn khóc theo. Khấn vái xong bà gọi tôi đến lấy cho bà chiếc gối. Tôi hồi hộp nhìn theo tay bà lần giở từng lớp bông gòn lấy ra một túi nilông đựng một tấm ảnh Bác Hồ đen trắng được bà cắt ra từ tờ báo Quân đội Nhân dân cũ và một tờ giấy ố vàng hơi nhàu, đó là bản Di chúc của Bác.”
Giữ “lề bên phải,” cho nó an toàn, là điều có thể thông cảm được trong hoàn nghiệt ngã đối với những người đang sinh sống bằng nghề truyền thông – ở Việt Nam. Tuy nhiên, tiếp tục cổ võ cho chính sách ngu dân của nhưng kẻ (bất nhân) đang cầm quyền ở xứ sở này thì lại là chuyện khác – có thể gọi đó là tội ác.
© 2010 Tưởng Năng Tiến
© 2010 talawas

Theo trích dẫn của ông Hoàng Trường Sa ngày 21.05.2010 thì Giáo sư sử học Hà Văn Thịnh đã nói như sau : 1)”Với người phương Đông mình (…)” và 2)”Không phải tự nhiên mà người dân Nga (…)”.
Từ đó suy ra : người Nga là người phương Đông mình (chắc Giáo sư họ Hà muốn ám chỉ người Nga vùng Xibêri?) và từ đó xác định : Giáo sư Hà Văn Thịnh là giáo sư sử học, không phải giáo sư địa lý.
Bác Trương Đức
Về câu 2: Khi tôi phát biểu “dân tộc Việt Nam CHƯA BAO GIỜ CÓ QUYỀN ĐƯỢC LỰA CHỌN”, thì ý tôi muốn nói là, cái QUYỀN ĐƯỢC LỰA CHỌN ở đây chính là cái NỀN DÂN CHỦ, và đối với dân tộc VN, nó đã không được thiết lập trong quá khứ.
Theo hiểu biết hạn hẹp, chủ quan của tôi về “dân chủ” thì tôi đồng ý là dân tộc VN chưa bao giờ có một nền dân chủ.
Về câu 3: bác nói, “nhưng những cá nhân đó đã không làm đủ để thay đổi thực trạng Y của dân tộc X.” Theo tôi, đối với “thực trạng Y” hiện nay của VN, riêng cái hành động “làm để thay đổi thực trạng Y” đã là “quí hóa” lắm bác ạ, cần trân trọng và ủng hộ, như những trường hợp của LCĐ, LTCN,…
Điều làm tôi ngạc nhiên, và lý do tôi xía vô bình loạn, là một số bác thường hay đề cao dân chủ, lại không trân trọng những gì các bác Phạm Đình Trọng, Mai Thái Lĩnh, Hà Sĩ Phu nói (mà bác Tiến trích).
Bác nói đúng về câu của Churchill và có câu hỏi hay về Triều Tiên.
Có lẽ ngày nay trên diện dân trí, tư duy, văn hoá, có hai dân tộc Triều Tiên chứ không phải một.
Dù sao đi nữa, câu hỏi của bác cũng nói lên điều có lẽ đúng là có khi có những tai nạn lịch sử làm cho một dân tộc khó thoát khỏi một thực trạng nào đó.
Dưới đây là một đoạn trích từ cuộc phỏng vấn Giáo sư sử học Hà Văn Thịnh của Mạc Việt Hồng Nhà sử học Hà Văn Thịnh nói về HCM :
“MVH: Xin hỏi ông một câu hỏi liên quan tới Lăng chủ tịch HCM. Việc bảo quản thi hài ông rất tốn kém, nhà nước lập ra một bộ Tư lệnh lăng. Điều này có vẻ trái với quan niệm phương Đông khi cho rằng, người chết phải được chôn cất “mồ yên mả đẹp” vậy ý kiến của ông thế nào?
Ông HVT: Tốn kém là có thật. Tôi biết điện để làm lạnh cho việc bảo quản thi hài ông bằng diện dùng cho một thị trấn. Với người phương Đông mình, có khi phải chấp nhận thôi. Đã đưa bác vào chôn cất trong lăng rồi, giờ lại đưa ra thì như vậy có tội với người đã khuất vì đã lỡ như vậy rồi. Giờ lại đưa ra thì không ổn. Điều này tôi không tán thành đâu. Không phải tự nhiên mà người dân Nga người ta vẫn giữ thi hài ông Lê nin như vậy.
Hơn nữa, nói gì thì nói, dù có những khiếm khuyết, những sai lầm, HCM vẫn là nhân vật lịch sử đẹp nhất trong lịch sử cận đại VN. Dân tộc nào cũng cần một lãnh tụ như thế, Ông Washington chẳng hạn, cuối đời cũng nhiều sai lầm nhưng người dân vẫn tôn trọng ông. Với tôi bác vẫn là người vĩ đại.
MVH: Nhưng việc này hoàn toàn không phù hợp với Di chúc của ông. Tôi có đọc bản Di chúc, trong đó, ông mong muốn, thi hài ông được hỏa táng và tro được rải xuống 3 miền đất nước?
Ông HVT: Cái đó tôi biết, tôi cũng biết ông Lê Duẩn đã sửa di chúc như thế nào. Nhưng chúng ta đã sai rồi, bây giờ lại làm sai thêm một lần nữa thì…
Đúng là khó nói quá, thưa chị. Giờ lại đưa ra khỏi lăng thì cũng không được. Để lại thì nhiều ý kiến lại cho rằng tiếp tục cái sai. Rất khó, thưa chị.”
Tôi thấy ý kiến của Giáo sư Hà Văn Thịnh cho rằng “Giờ lại đưa ra khỏi lăng thì cũng không được. Để lại thì nhiều ý kiến lại cho rằng tiếp tục cái sai. Rất khó, thưa chị.” (sic) có vẻ không mấy hợp lý. Tại sao trước đã làm SAI, bây giờ nhận ra là SAI lại không SỬA CHỮA mà lại vì sợ ”làm sai thêm một lần nữa”. (sic) ? Đem di hài ông Hồ ra hỏa thiêu theo nguyện vọng cuối đời của ông ghi lại trịnh trọng trong di chúc của ông là một điều hoàn toàn ĐÚNG vì hợp với đạo đức làm người của con cháu ông Hồ theo quan niệm Đông Tây kim cổ, nhất là những kẻ yêu kính tôn thờ ông như ĐCSVN lại càng phải nên tuân lệnh ông. Vậy thì đưa ông Hồ ra khỏi lăng, đem hỏa thiêu, làm lễ quốc táng trọng thể và đem ông về chôn ở Nghệ An, quê hương ông, là điều quá đúng, chứ sao lại bảo là SAI THÊM MỘT LẦN NỮA. Lý luận kiểu này tôi e không mấy thuyết phục. Thà Giáo sư Hà Văn Thịnh nói toẹt ra là ĐCSVN vẫn còn cần sử dụng thi hài ông Hồ nằm trong lăng để tiếp tục tuyên truyền cho sự kéo dài chế độ độc tài đảng trị hiện nay thì tôi cho là thành thật hơn. Bởi lẽ, sau khi Cộng sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chỉ còn lại lèo tèo 4 nước CS trên toàn thế giới, ĐCSVN không còn gì khác nữa để bám víu ngoài đảng Cộng sản TQ và cái thi hài ông Hồ trong lăng cùng với cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà họ rặn ra một cách hoàn toàn láo lếu và không thuyết phục được người khác do việc ông Hồ thực sự không có tư tưởng gì đáng kể ngoài việc lặp lại những câu thông thường của cổ nhân (Tàu) như “chí công vô tư”, “bách niên chi kế…” v.v…
@bác Dương Danh Huy,
Phải công nhận cái “cách đặt vấn đề” của bác rất “khéo (lắt) léo”! Ở câu 5, bác nói: “Khả năng có người hiểu lầm tại sao tôi đưa ra câu (4) chắc không nhỏ.”, nhưng bác lại không đưa ra cái “tại sao tôi đưa ra câu (4)” là gì cả. Tôi “lật đi lật lại” cái PH của bác, thiếu điều lật ngược cái laptop nữa thôi, mà cũng chẳng thấy “tăm hơi” nó đâu cả! Vậy trong khi chờ đợi bác đưa ra cái “tại sao” ấy, tôi cũng xin chia sẻ vài cảm nghĩ (chắc cũng “thô thiển” không kém của bác DDH!) với bác DDH và các bác như sau:
Về câu 2: Khi tôi phát biểu “dân tộc Việt Nam CHƯA BAO GIỜ CÓ QUYỀN ĐƯỢC LỰA CHỌN”, thì ý tôi muốn nói là, cái QUYỀN ĐƯỢC LỰA CHỌN ở đây chính là cái NỀN DÂN CHỦ, và đối với dân tộc VN, nó đã không được thiết lập trong quá khứ. Nhưng, như tôi đã nói trong PH trước, do dân trí thấp (họ không biết “điều cần thiết” là gì) và bị ĐCSVN lũng đoạn (họ chỉ làm được những gì ĐCSVN cho phép), nên dân tộc ta không thể làm cái động tác là “lựa chọn không làm điều cần thiết để giành lấy/giữ lấy quyền lựa chọn cho mình”. Vậy thì trách nhiệm ở đây, thuộc về ai? Theo tôi, trách nhiệm một phần thuộc về giới trí thức Việt Nam. Họ có đủ trí tuệ và lương tâm để “đánh thức” dân tộc (số đông) và chỉ ra con đường đi lên đúng đắn nhất cho VN. Nhưng như chúng ta cũng quá rõ, một số trí thức, đã không giúp dân thì chớ, họ lại tự nguyện làm “văn nô” cho Đảng, và bên cạnh đó, ĐCSVN “nham hiểm” hơn chúng ta tưởng rất nhiều, đã đàn áp và nếu cần, sẵn sàng “bóp chết trong trứng nước” phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ cho người dân của giới trí thức VN yêu nước, như những vụ bắt bớ, vùi dập nhóm các nhà văn Nhân Văn – Giai Phẩm,…
Về câu 3: bác nói, “nhưng những cá nhân đó đã không làm đủ để thay đổi thực trạng Y của dân tộc X.” Theo tôi, đối với “thực trạng Y” hiện nay của VN, riêng cái hành động “làm để thay đổi thực trạng Y” đã là “quí hóa” lắm bác ạ, cần trân trọng và ủng hộ, như những trường hợp của LCĐ, LTCN,… Chúng ta hãy cứ “làm để thay đổi” cái đã, rồi cái “đủ” nó sẽ đến trong một ngày không xa đâu, bác DDH ạ! Tôi hy vọng thế!
Còn về câu 4: tôi xin nói trước hai ý như thế này: một là: câu phát biểu của Winston Churchill không phải là chân lý. Nó chỉ có lý trong “tầm nghĩ” của Winston Churchill, và chắc chỉ đúng với một số ít các dân tộc đã có một nền dân chủ thực sự. Chứ với, dân tộc Triều Tiên chẳng hạn, thì tôi xin hỏi bác, chính quyền nào (Nam Hàn hay Bắc Hàn) xứng đáng với dân tộc Triều Tiên?
Bác Tưởng Năng Tiến & các bác,
Vài cảm nghĩ thô thiển:
1. Nói khéo cần hiểu khéo.
2. Từ “lựa chọn” có nhiều nghĩa. Một dân tộc “chưa bao giờ có quyền lựa chọn” có khi là một dân tộc trong quá khứ đã lựa chọn không làm điều cần thiết để giành lấy/giữ lấy quyền lựa chọn cho mình.
3. Nếu có ai đó nói “dân tộc X lựa chọn Y” thì đều đó cùng lắm cũng chỉ có nghĩa tập thể. Dĩ nhiên có những cá nhân không chọn Y, nhưng những cá nhân đó đã không làm đủ để thay đổi thực trạng Y của dân tộc X.
4. Dường như Winston Churchill nói, đại khái, “Dân tộc nào cũng có chính phủ xứng đáng với mình”.
5. Khả năng có người hiểu lầm tại sao tôi đưa ra câu (4) chắc không nhỏ.
Tui nói cái này có khi rằng không phải. Xem chừng tui sợ rằng ông Tưởng đang lỡ một chuyến tàu.
Ông Hồ từ trước tới giờ vẫn số dách vì: “Bác đưa một xứ qua nô lệ, Tôi dắt năm châu tới đại đồng”.
Oách như thế, nhưng mấy bữa rày chắc sinh nhật (?) ổng hay sao đấy mà tụi nó lại xuống cấp, mang ổng ra so đuôi (vĩ nhân) với Nguyễn Trãi nữa. Chưa hết, chúng còn mang học trò ổng (cái này không phải tui bịa đặt mà báo tuanvietnam.net đăng, tụi nó quen gọi giả là chú Sáu) ra trét sơn thành một nhà tư tưởng lớn nữa, sửa soạn một cái gì tui cũng hết biết luôn, không lẽ có “diễn biến tài tình”.
Thành thật khai báo là tui… thấy muốn ói. Kỳ quá.
[…] © 2010 talawas http://www.talawas.org/ […]
Tôi xin giới thiệu với tác giả Tưởng Năng Tiến và độc giả quý báo Talawas một cái nhìn cũ nhưng khá mới đối với phần đông bà con người Việt tị nạn hải ngoại về chàng thanh niên Nguyễn Sinh Cung. Dung lượng bài viết không phải là dài, nhưng cũng thể hiện khá đầy đủ một chân dung về một người con Việt Nam yêu nước, nhưng vì những tác động bên ngoài khiến cho hoài bão của chàng thanh niên này trở thành gánh nặng cho dân tộc Việt Nam hôm nay: http://hoabattublog.multiply.com/journal/item/627?mark_read=hoabattublog:journal:627&goto=0#reply0
Trong đó có đoạn đáng lưu ý:
“Sau khi chiến thắng ĐBP, người ta nhìn thấy trong ánh mắt của chàng phảng phất một nỗi buồn của kẻ yếm thế và hầu như chẳng có tí nào quyền lực cả. Nếu không muốn nói chàng đã bị chính các đồng chí của mình phản bội do cái lối vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê một cách khôn ngoan của chàng.mặc dầu bề ngoài các đồng chí của chàng suy tôn chàng như thể một lãnh tụ, ca ngợi chàng hết mức bằng những mỹ từ cao nhất có thể. Chúng bắt dân chúng phải gọi chàng bằng Bác, bất kể già trẻ bé lớn gì. Chúng cấm chàng yêu, từ bỏ mối tình trong sáng và đầy lãng mạn của chàng với một thiếu nữ miền sơn cước? khi hai người đã có với nhau một mụn con trai? Chúng, các đồng chí của chàng bắt chàng phải sống như một hình tượng thánh hóa. Cái mà lũ khốn cần ở chàng là một hình ảnh vĩ nhân hơn là hình ảnh của một con người, Chúng thêu dệt hình ảnh thánh hóa của chàng và gán vào đầu cái lũ dân chúng nghèo khó và dốt nát thuở đó (90% dân số không biết chữ). Nghĩa là chàng không được phép cá nhân hóa trong tình yêu, trong sinh hoạt đời thường của chàng phải là những hình ảnh mẫu mực. Hính ảnh của chàng có đủ sức mạnh lôi kéo và tập hợp quần chúng là cái mà các đồng chí của chàng cần, quyền lực của chàng giờ nằm hoàn toàn trong tay các đống chí của chàng.”
và,
“Mặc dầu chàng có ít nhiều lệ thuộc vào triết học Mác- Lê, nhưng chàng cũng hiểu, thấy phần nào những mặt hạn chế của nó. Chàng thấy cái chủ nghĩa hư vô mà lúc đầu chàng theo đuổi. Một mẫu số chung đáng sợ của nó là sử dụng công cụ bạo lực một cách triệt để ngay cả chính với các đồng chí đồng cam cộng khổ khi giành chính quyền thành công, là “nướng dân đen trên ngọn lữa hung tàn”. Tức là giết người hàng loạt trong cái gọi là đấu tranh giai cấp, cải tạo ruộng đất, cải tạo tư tưởng. Không phân biệt bất kỳ ai, như thể một công thức toán học lạnh lùng của một cổ máy giết người ghê rợn? Mà chàng đã thấy từ nước Nga Xô Viết xa xôi, từ Trung Cộng láng giềng,… Chàng cô độc chống lại cái lũ đồng chí ngô nghê, dốt nát nhưng lại quá trung thành với các chuyên gia “giúp việc” từ Trung Quốc. Chúng o ép chàng phải thực hiện cải tạo ruộng đất theo kịch bản giống y chang của chúng. Chúng trình cho chàng bảng “danh sách Schindler” tàn nhẫn, buộc chàng phải ký vào, bao gồm những người đồng chí của chàng, ngay cả những người đã từng nuôi dấu cán bộ trong thời kỳ kháng chiến. Giết không cần phân biệt, bất kỳ ai khi đã bị dán cái nhãn: “kẻ thù của giai cấp vô sản”. Chàng cũng có ý kiến phản đối rất dữ và không đồng tình, nhưng làm sao chàng có đủ sức mạnh ngăn chặng việc làm tội ác và xuẩn ngốc này, khi mà chàng đang ngữa tay nhận sự giúp đỡ “chí tình” và “vô tư” từ chúng? Cùng với đám đồng chí rận rệp của chàng đang say máu chiến thắng.
Chính sự phản đối của chàng đã làm cho các đồng chí láng giềng lo sợ về tính khác biệt, không đồng qui trong mục tiêu xây dựng xã hội áp chế CNXH. Chúng nhìn thấy tính nguy hiểm tiến bộ trong tư tưởng của chàng. Chúng vận động, điều khiển các đồng chí của chàng, tuyên truyền về chàng như là kẻ xét lại, không tuân thủ các nguyên tắc bất diệt của tư tưởng Mác-Lê và đặc biệt là tính ủy mị của chàng trong tình yêu?”
***
Xuyên suốt toàn bộ bài viết thể hiện một cái nhìn thông cảm với sự sụp đổ dưới nền móng những hoài bão của một con người. Sự kết tội cho một cá nhân đại diện có là công bằng, khi mà thành quả(hậu quả) ngày hôm nay là những gì ta có sau bao sự chung tay góp sức của những con người theo đuổi quyền lực và lợi ích cá nhân trong nội bộ Đảng viên Đảng Cộng Sản phá hoại mà thành?
Tôi không bảo vệ cái sai của Đảng Cộng Sản đã và đang và sẽ còn làm trong tương lai gây nên những thảm họa cho dân tộc VN vốn đã được cảnh báo trước từ lâu trên phương tiện Internet, những thành quả phá hoại của những con người nhân danh vì dân vì dân vì nước mà chỉ dùng danh phận Đảng viên để hại dân hại nước, mà tôi muốn qua nhân vật có thật Nguyễn Sinh Cung này để thể hiện suy nghĩ của cá nhân tôi về chân dung một con người với quý vị, vốn cũng có tấm lòng yêu nước với quý vị, nhưng với hoàn cảnh và thời điểm lịch sử không thể so bì, con đường người ấy đã đi đã có những khúc quanh và người ấy đã phải đạp vào những hố sâu nguy hiểm và chính từ tấm lòng trong trắng đó, tâm hồn của khổ chủ đã bị bán cho ma quỷ!
1 BÀI CHỦ
Tưởng ông „Năng Tiến“ thế nào,
Bấy nay chỉ … kẹp chữ vào ngoặc đơn [()];
Ốc đinh vặn mãi cũng chờn,
Chữ kia vặn mãi, nghĩa còn bao nhiêu?
Trọng nhau, xin nhắc một điều:
Văn chương „bá ngọ“ chợ chiều kém duyên!
2 XIN LỖI THÂN HỮU
Tôi ngỏ lời xin lỗi thân hữu vì có sự dài dòng: Trong ngày đã gửi 1 phản hồi rồi, lại muốn gửi 1 phản hồi này nữa để nó … còn trong ngày.
Những người chúng ta bàn đến ở đây (không phải những người trích dẫn) – Phan Châu Trinh và Hồ Chí Minh – thì, nói theo ý Lão-tử, thân xác đã thành quá vãng; Chỉ có lời nói của họ còn lại thôi. Tôi nghĩ rằng khi đánh giá hai vị này, ta đặt họ trở lại trong nhóm „Ngũ Long Paris“ có lẽ có đôi điều sáng tỏ hơn. Cố gắng thành công của Hồ Chí Minh có lẽ sáng nhất là viết Bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1945 cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tổ chức Quốc Hội đa đảng và thông qua Hiến Pháp Dân chủ đầu tiên ở Đông-nam Á. Cố gắng để „Việt Nam nằm trong Liên hợp Pháp“ và quan hệ để đạt sự công nhận của Mỹ đã không kết quả. Cái HÌNH HÀI Đất nước mà Hồ Chí Minh cùng Dân tộc giành lại (một con người thì làm sao làm được việc lớn đó?) đã không biết chăm cái HỒN DÂN mà Phan Châu Trinh nhắn gửi!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
Đất nước đang tự quyết bằng phản biện của nhân sỹ và trí thức, từng điểm một: Bauxite, Biển đảo, núi rừng, tự do tư tưởng và ngôn luận, … Tôi nghĩ bản thân chỉ biết cố gắng „tự đốt đuốc mà đi“ (theo lời Cakya-Mouni) để nếu không làm được gì thì cũng hiểu ít nhiều những cảnh diễn ra trước mắt.
Trân trọng,
Tôn Văn
2010-05-19
Khi HSP viết “lịch sử đã không chọn Phan Chu Trinh” thì tôi hiểu chữ “chọn” ấy như sau:
– Nếu hiểu “chọn” theo nghĩa phải có một cuộc trưng cầu ý kiến, hay ít nhất cũng phải trải qua một sự bộc lộ tán thành hay phản đối của số đông rồi mới đi đến kết luận thì dứt khoát ở đây không có sự “chọn” nào hết. Nhưng tác giả vẫn dùng chữ “chọn” ắt phải hiểu theo nghĩa bóng, diễn tả một kết quả, chứ không diễn tả nguyên nhân hay quá trình. Ví dụ nói: “Trong 4 người chúng tôi, không ngờ thần chết lại CHỌN nó, thằng bạn khỏe nhất trong nhóm”. Ở đây thực chất chẳng có sự “chọn” nào cả, chỉ biết kết quả như thế.
– Trong thời điểm lịch sử ấy nước ta đã có nhiều xu hướng, nhưng kết quả là xu hướng Cộng sản rất sai lầm lại thắng thế và thành hiện thực, thì ngôn ngữ văn học có thể viết : Lịch sử trớ trêu đã “chọn” con đường Cộng sản!
Do rất nhiều nguyên nhân mà kết quả đã diễn ra như thế, chứ có ai hỏi ý kiến ai đâu mà cùng chữ “chọn” theo nghĩa cụ thể? Nói “dân tộc chọn” thì cũng với nghĩa bóng như vậy. Trừ phi nói “nhân dân đã chọn”, “đồng bào ta đã chọn” thì chữ CHỌN này mới có nghĩa cụ thể là có người chọn hẳn hoi. Tôi hiểu như vậy không biết có đúng ý tác giả không?
(Không biết HSP có đọc được bài này không, vì có tin HSP đang bị cắt hết điện thoại và Internet).
Tự do lựa chọn, cho đến thời điểm hiện nay, dân tộc Việt hoàn toàn không có. Gán chuyện dân tộc Việt lựa chọn Hồ Chí Minh chỉ là chuyện nực cười. Thực ra, Cộng sản quốc tế đã chọn ra Hồ Chí Minh và dân tộc Việt bị áp đặt vào sự lựa chọn đó. Đó là chuyện của thế kỷ trước, nhắc cũng chẳng làm được gì. Nhưng thời điểm hiện nay, ai lựa chọn Đảng Cộng sản làm đảng đại diện cho dân tộc Việt? Nếu dân tộc Việt có quyền tự do lựa chọn, qua một cuộc bầu cử tự do, thì liệu Đảng Cộng sản được lựa chọn không? Tôi nghĩ là hơi khó cho Đảng đấy! Cho nên trong suốt thời gian cầm quyền của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, dân ta hoàn toàn không có một sự lựa chọn nào cả, ngoài sự lựa chọn đã được định đoạt của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản.
“Ông Phạm Đình Trọng thì nằng nặc cho là vì “định mệnh trớ trêu đưa đẩy chúng ta đã chọn con đường cách mạng vô sản!”. Còn ông ông Hà Sĩ Phu thì nhất định nói rằng “dân tộc này đã không chọn Phan Châu Trinh”. Nói cách khác, theo hai ông, là “chúng ta” hay “dân tộc này” đã lựa ông Hồ Chí Minh.
Bộ thiệt vậy sao, Trời?
Nếu đúng vậy thì xin thưa (trước) là trong số những người mà ông Phạm Đình Trọng gọi là “chúng ta”, và ông ông Hà Sĩ Phu tóm gọn thành cả “dân tộc này” (kể như) không có… “em” đâu đó nha.” (Trích lời bác Tưởng Năng Tiến)
Nhắc tới ông Hồ chí Minh là tui thấy tăng-xông vọt hẳn lên, người cảm thấy bần thần khó chịu, ngộp thở. Thực chán “Bác” Hồ còn hơn chán cơm nếp nát. Vậy mà quý vị như “cụ” Phạm Đình Trọng, bị hành gần chết dưới bàn tay của cái đảng do “Bác” tạo ra, lại còn cất cao giọng ca (dỡ ẹt) nào là “Bác” đặt dân chủ lên trên mọi chuyện, nào là lịch sử và dân tộc đã chọn “Bác” v.v… Mẹ kiếp! “Bác” yêu quý Dân chủ đến thế mà từ năm 1945 cho đến lúc “Bác” ngũm vào năm 1969, nhân dân ta ở miền Bắc có được tí chút dân chủ, tự do nào chăng, hay là bị “Bác”, đảng hành hạ cho đói rách cơ cực từ vật chất tới tinh thần, cuộc sống ôi thôi thực là đau khổ, tàn tạ.
Còn cụ Hà Sĩ Phu nữa. Cụ văn hay, chữ tốt, đầu óc thông minh sáng láng. Biết kêu gọi mọi người “đi tìm sự thật dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”. Vậy mà cụ cũng ráng cả quyết nói “dân tộc này đã không chọn Phan Châu Trinh” (ngụ ý là, đã chọn “cụ” Hồ). Xin lỗi bác Hà Sĩ Phu, dân tộc ta đã chọn cụ Hồ thay vì cụ Phan lúc nào? Có cuộc bầu cử nào mà hai ứng cử viên là Hồ Chí Minh và Phan Châu Trinh đã được người dân bỏ phiếu chọn lựa chăng? Đây đúng là kiểu nói lấy được. Tui xin theo gương bác Tưởng Năng Tiến tuyên bố nhân danh cá nhân thằng tui là tui chưa bao giờ ở trong cái nhóm “chúng ta” đã chọn ông Hồ như nói trên đây.
Sự thật là ông Hồ đã lường gạt dân tộc khi, miệng thì hô hoán rền trời là đấu tranh chống Pháp để giành độc lập, tự do cho VN, nhưng trong hộc bàn thì đầy thư từ trao đổi với cụ Xít-Ta-Lin để xin cụ Xít cho phép làm cuộc Cải Cách Ruộng Đất hầu Bôn-sê-vích hóa dân tộc ta. “Cụ” Hồ đã nhiều năm lảnh lương của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản để hành nghề gián điệp, agent của Quốc tế 3 CS, với nhiệm vụ nhuộm đỏ toàn cõi Đông Dương. Đối với “cụ” Hồ chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS là trên hết. Thời “cụ” Hồ lãnh đạo, hàng năm nhân dân miền Bắc có bao giờ làm lễ Giổ Tổ Hùng Vương đâu dù “cụ” lúc nào cũng leo lẻo cái mồm rằng thì là “Vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. “Cụ” để cho cụ Mao chiếm Ải Nam Quan vào năm 1956 mà không có lấy một câu phản đối. Vậy là giữ nước chăng? Ai đã ra lệnh Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm thừa nhận lãnh hải của TQ bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa?
Thôi, tui không nói nữa. Càng nói tăng xông càng lên, không khéo bị đột quỵ mất mạng, không sống được thêm vài năm nữa để chứng kiến ngày toàn dân ta trong nước giành lại được quyền Dân tộc Tự quyết mà “Bác” Hồ và đảng của “Bác” đã tước đoạt trắng trợn từ tay nhân dân VN vào mùa thu lịch sử năm 1945.
“Ông Phạm Đình Trọng thì nằng nặc cho là vì “định mệnh trớ trêu đưa đẩy chúng ta đã chọn con đường cách mạng vô sản!”. Còn ông Hà Sĩ Phu thì nhất định nói rằng “dân tộc này đã không chọn Phan Châu Trinh”. Nói cách khác, theo hai ông, là “chúng ta” hay “dân tộc này” đã lựa ông Hồ Chí Minh.” (Tưởng Năng Tiến)
Theo những hiểu biết ít ỏi của tôi về lịch sử, thì khi “nghiên cứu” lịch sử, người ta thường hay nêu ra những giả thuyết và cố “lý giải” những sự kiện đã xảy ra “về theo” những giả thuyết đó. Đó là bởi vì con người không thể quay lại quá khứ để “kiểm chứng” xem thực tế có đúng như những giả thuyết đặt ra hay không. Ví dụ, như trong bài viết này chẳng hạn, ở câu trích trên: cái giả thuyết cho rằng ““chúng ta” hay “dân tộc này” đã lựa ông Hồ Chí Minh.”” của hai tác giả PĐT và HSP, về “xuất phát điểm”, là không được “chính xác” cho lắm! Tôi nói thế là bởi vì, ngay từ đầu tiên và cho đến bây giờ, dân tộc Việt Nam CHƯA BAO GIỜ CÓ QUYỀN ĐƯỢC LỰA CHỌN cả! Hay nói một cách khác, “học giả” hơn, CHƯA BAO GIỜ CÓ NỀN DÂN CHỦ thực sự trong lịch sử VN cả! Dân tộc VN đã phải “đi theo con đường của Bác”, đó chẳng qua là sự “run rủi” của số phận dân tộc! Và cái nguyên nhân chủ yếu gây ra sự “run rủi” ấy, theo tôi, là do dân trí thấp và ông Hồ Chí Minh cùng “cả một băng đảng chuyên môn làm bạc giả – Ðảng Cộng sản Việt Nam” đã khai thác triệt để cái sự “dân trí thấp” ấy. Vậy thì, phải “lý giải” như thế nào về lịch sử? Theo tôi, có lẽ nên đặt ngược lại vấn đề như thế này: ông Hồ và cái ĐCSVN của ông ta đã làm cách gì mà dân tộc Việt Nam lại “khuất phục” như thế trong suốt thời gian gần một thế kỉ và còn kéo dài không biết đến bao giờ, như thế? Đến bây giờ mà vẫn còn những trường hợp như của ““bà nội và tấm ảnh bác Hồ” của ông Hùng”, thì chứng tỏ, cái “chính sách ngu dân” của ĐCSVN thật là “cao thủ”. Và theo tôi, phần không nhỏ đóng góp cho sự “cao thủ” này, là từ phía “đội ngũ văn nô” của ĐCSVN.
Trên đây chỉ là những ý kiến mạo muội của tôi nhân đọc bài viết này thôi. Xin cám ơn tác giả Tưởng Năng Tiến về bài viết này, nhất là bởi câu kết “Tuy nhiên, tiếp tục cổ võ cho chính sách ngu dân của những kẻ (bất nhân) đang cầm quyền ở xứ sở này thì lại là chuyện khác – có thể gọi đó là tội ác.” của bác. Theo tôi hiểu ra, thì một trong những tội ác của “những kẻ (bất nhân) đang cầm quyền ở xứ sở này” là tiếp tục “ngu dân”, tiếp tục không cho dân lành cái “QUYỀN ĐƯỢC LỰA CHỌN”!
Tiện đây, lại xin “nhắc khéo” tác giả một lỗi chính tả trong đoạn “… với nỗi niềm ray rứt, trăn trở và bất an (y trang) như thế:…”. “Y chang” chứ không phải “y trang”. Hình như “y trang” là “quần áo và tư trang (nói khái quát)” thì phải, chứ không phải “giống y hệt như thế”! Và ở đoạn cuối của bài viết, trong câu “Giữ “lề bên phải,” cho nó an toàn, là điều có thể thông cảm được trong hoàn nghiệt ngã đối với những người đang sinh sống bằng nghề truyền thông – ở Việt Nam.” cũng hình như “đánh máy” thiếu từ “cảnh” thì phải!:)
Theo tôi nghĩ, có thể nói dân VN ở trong nước mấy năm gần đây đời sống có đỡ hơn, làm ăn khấm khá lên, có người giàu có, của ăn của để rủng rỉnh, cho con du học… là nhờ vào cái sự xa lánh, không học tập và không theo gương “Bác Hồ vĩ đại”. Tuy nhiên, của đáng tội, xã hội vẫn còn tầng lớp nằm trong diện xóa đói giảm nghèo, cắn răng chạy gạo từng bữa thì thường bị ám bởi tấm ảnh của ông Hồ treo ở trong nhà (như trường hợp của ông Nguyễn Văn Hùng nào đó).
Mà cũng có thể, chuyện “bà nội và tấm ảnh bác Hồ” của ông Hùng, tương tự được dựng lên như câu chuyện anh Lê Văn Tám cũng nên (?)
Ông Hồ được yêu như vậy không biết có thấy nhột không nhỉ?
Đồng ý là có nâng bi, nhưng vừa vừa thôi, kỳ lắm!
“Thương Cho Giấy Mực !”
Tôi còn nhớ câu chuyện khi Hoài Thanh gửi tặng Ưng Bình Thúc Giạ Thị quyển “Thi Nhân Việt Nam” danh tiếng của ông, vị lão thi nhân thuộc Hoàng tộc này xem qua rồi vứt xuống đất, cụ nói :”Nghĩ mà thương cho giấy mực để chúng bôi vẽ ra những thứ như vầy !”
“Thi Nhân Việt Nam”, cho đến nay có lẽ là một tác phẩm giới thiệu các nhà thơ của phong trào thơ mới mà chưa có tác giả nào làm hơn được, việc giận dữ, dè bỉu nó của cụ Ưng Bình là do nhiều nguyên do khác, tôi nhắc lại “cố sự văn học” này chỉ vì nhân nghe câu chuyện của ông TNT, lại nhớ đến bốn chữ “thương cho giấy mực” !
Sách viết về ông HCM hàng năm vẫn được xuất bản đều đặn, số người mua để đọc, tôi chắc cũng không qua được số độc giả của báo Nhân Dân đâu, nhưng đến bây giờ mà vẫn còn những tác giả viết những chi tiết hoang đường ngu muội về ông ta như ông tác giả “tham gia” Nguyễn Văn Hùng trên báo Tuổi Trẻ với câu chuyện “Chiếc gối thần của bà tôi” thì tôi lại thương cho giấy mực theo một nghĩa khác, nó đã bị bôi lên với những thứ văn h(n)ọc như vậy khiến nó chỉ được nguời ta mua dùng cho những việc khác hơn là để được đọc, được lưu giữ; càng thương hơn nữa cho những nhân cách không hiểu đã ăn phải những thứ bùa mê bã đậu nào mà sử dụng cả đến tuổi tác trời cho của tổ mẫu mình gán ghép vào những “truyền kỳ” rác rưới; một thứ văn hóa “tân nô dịch” mà ngày nay còn một tên mới là “văn hóa lề phải” ngự trị trên đất nước ta trên một nửa thế kỷ nay không ngờ đã để lại những cáu cặn gia phong ghê tởm đến như vậy, nó còn trên cả tội ác nữa đấy tác giả họ Tưởng ạ .