talawas blog

Chuyên mục:

Mai Thái Lĩnh – Trao đổi tiếp về chủ đề “Ải Nam Quan trong hiện tại”

16/05/2010 | 5:49 chiều | 3 Comments

Tác giả: Mai Thái Lĩnh

Category: Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

(Trả lời bài phản biện của anh Trương Nhân Tuấn[i])

Trước hết, tôi xin trích lại phần mở đầu của bài viết “Ải Nam Quan trong hiện tại”:

“Bài viết này là phần thứ hai của một tiểu luận mà phần đầu là bài viết “Ải Nam Quan trong lịch sử”(đã được công bố trên các trang mạng talawas và Bauxite Việt Nam vào đầu tháng 8 năm 2009). Thế nhưng, khi bước vào tìm hiểu tình hình của khu vực ải Nam Quan hiện nay, bất cứ ai cũng gặp phải khó khăn trong việc sưu tầm tư liệu. Đề tài này cho đến nay vẫn còn thuộc lĩnh vực “bí mật Nhà nước”, các cấp có thẩm quyền của cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc đều tìm cách bưng bít, che giấu sự thật. Điều này có thể ảnh hưởng ít nhiều đến tính chất khách quan, khoa học của quá trình nghiên cứu.

Vì thế chỉ có thể coi đây là một nỗ lực khiêm tốn nhằm phá thủng bức màn sương khói đã phủ lên khu vực này từ hơn nửa thế kỷ nay. Trên con đường tìm ra “sự thật về ải Nam Quan”, có lẽ cần có sự đóng góp nhiều hơn nữa của những người Việt Nam yêu nước. Tác giả hy vọng sẽ có sự tiếp tay của những người cộng sản yêu nước – nhất là những người nắm trong tay những bằng chứng xác thực, không thể chối cãi nhưng cho đến nay, vì những lý do nào đó, vẫn chưa thể hoặc chưa dám nói lên toàn bộ sự thật.”

Điều này cho thấy không phải sau khi bị phê bình, tôi mới “điều chỉnh, nhìn nhận lại” là bài viết này ”chưa thể trở thành một công trình nghiên cứu khoa học” mà ngay từ đầu, tôi đã ý thức rất rõ những khó khăn trong khi nghiên cứu đề tài “Ải Nam Quan trong hiện tại”. Chính vì vậy mà tôi đề nghị mọi người Việt yêu nước cùng nhau góp sức để tìm ra sự thật.

1. Những lập luận chính của bài viết

Bài viết “Ải Nam Quan trong hiện tại” có hai phần chính:

– Phần 1: Chứng minh có mất đất tại Ải Nam Quan, ít nhất là ở ngọn đồi phía đông; nói chính xác hơn là phía đông – đông nam (E-SE) của Hữu Nghị Quan. Điều này căn cứ vào chính những tài liệu và những phát biểu của các cấp có thẩm quyền của phía Việt Nam;

– Phần 2: Đưa ra những nghi vấn về vị trí của Hữu Nghị Quan: Hữu Nghị Quan ngày nay có được xây đúng vào vị trí của Ải Nam Quan ngày xưa hay không?

Tôi không rõ anh Trương Nhân Tuấn bác bỏ phần nào; nhưng căn cứ vào những gì anh đã viết trong bài phản biện trước, tôi hiểu rằng anh chỉ bác bỏ phần 2 mà thôi.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là trong khi tranh luận, chúng ta nên đi vào những lập luận chính, không nên sa vào một vài chi tiết phụ và tranh luận triền miên về các điểm ấy rồi quên mất những lập luận chính. Trong bài viết, tôi đã đưa ra tất cả 5 lý do khiến chúng ta có thể hoài nghi rằng “khi xây lại Ải Nam Quan, phía Trung Quốc đã không xây lại ở vị trí cũ mà đã dời sang một vị trí khác”:

i. Trong tấm bản đồ 249 C, đường biên giới ở khu vực Hữu Nghị Quan là một đường gãy góc rất kỳ lạ, không giống như trong các tấm bản đồ của thời Pháp thuộc, chứng tỏ đường biên giới đã bị thay đổi.[ii]

ii. Các ngọn đồi ở phía đông và đông-nam của Hữu Nghị Quan hiện nay không giống với các ngọn đồi mà ta nhìn thấy trong các ảnh chụp của thời Pháp thuộc.

iii. So sánh các ảnh chụp toàn cảnh khu vực Hữu Nghị Quan vào năm 1940 và hiện nay, ta thấy ở vị trí của Hữu Nghị Quan ngày nay, không có sự hiện diện của Ải Nam Quan và hai bức tường thành.

iv. Lai lịch bất minh của Tòa nhà kiểu Pháp và câu chuyện bịa đặt của phía Trung Quốc về nguồn gốc của tòa nhà này.

v. Kể từ khi Hữu Nghị Quan tồn tại cho đến nay, chúng ta chưa tìm ra một tấm ảnh nào chụp toàn cảnh Hữu Nghị Quan nhìn từ một vị trí trên cao, sát cửa quan, tương tự như tấm ảnh mà P. Dieulefils đã chụp vào đầu thế kỷ 20 (ảnh 1). Điều đó khiến chúng ta phải đặt nghi vấn: có nhiều khả năng vị trí này (như đã thể hiện trên tấm bản đồ Chapès) đã mất về phía Trung Quốc?

Ảnh 1: Ải Nam Quan đầu thế kỷ 20

Trong các bài viết, anh Trương Nhân Tuấn chỉ tập trung vào lập luận (iv), và trong lập luận này lại chỉ chú ý đến một phần phụ của lập luận – liên quan đến một tấm ảnh của tác giả Chân Mây cùng với lời chú thích ghi trên đó.

Thật ra, điểm quan trọng nhất chính là lập luận (v). Chỉ cần trưng ra một vài tấm ảnh toàn cảnh của Hữu Nghị Quan là đủ để giải tỏa mọi thắc mắc, nghi ngờ. Thế nhưng, kể từ ngày tôi công bố bài “Ải Nam Quan trong lịch sử” (tháng 8 năm 2009) đến nay, chưa thấy có ai đưa ra được tấm ảnh nào như thế. Điều đó cho thấy những hoài nghi của tôi là hoài nghi có phương pháp, hoài nghi khoa học. Vì vậy, không nên biện luận dài dòng về một điểm nhỏ để cố tình làm mờ đi những điểm quan trọng hơn, bởi vì biện luận không thể thay cho thực tế mà ngược lại, chỉ có thực tế mới chứng minh được cho biện luận.

2. Về tấm ảnh “Liên quân Pháp-Việt” (1940) của tác giả Chân Mây

Anh Trương Nhân Tuấn đã viết rất dài để chứng minh tấm ảnh mà Chân Mây sưu tầm là ảnh chụp tại Lạng Sơn và lời chú thích ghi kèm là không đúng. Theo tôi nghĩ, ta không nên bàn luận quá nhiều về chi tiết này vì nó không phải là “bằng chứng nền tảng”. Thiếu nó thì lập luận thứ 4 của tôi có bị ảnh hưởng đôi chút, nhưng cũng không đến nỗi “sụp đổ” như anh đã vội vàng phán xét. Vì vậy, nên dành lại vấn đề này cho một dịp khác, ở một đề tài khác.

Trong bài trao đổi ý kiến lần trước, tôi đã có đề nghị: Về việc có hay không có “trường sĩ quan Đồng Đăng”, tôi xin dành câu trả lời cho tác giả Chân Mây hoặc những người am hiểu về tình hình quân sự dưới thời Pháp thuộc.” Anh Trương Nhân Tuấn nhận xét đây là “lên tiếng kêu cứu”. Theo suy nghĩ của tôi, mục đích của tranh luận, đối thoại là tìm ra chỗ đúng, chỗ sai, chứ không phải là một cuộc ganh đua thắng thua. Để tìm ra chân lý, có thể cả bên này lẫn bên kia đều thua ở chỗ này hay chỗ khác, nhưng một khi tìm ra được chân lý thì cả hai đều là kẻ thắng, chỉ có sự dối trá mới thua cuộc trước sự thật. Vì vậy, nếu tôi có “kêu cứu” tác giả Chân Mây hay ai khác thì cũng không có gì đáng phải chê bai, chế giễu, vì ngay từ lời mở đầu của bài viết, tôi đã lên tiếng “kêu cứu” (thực ra là kêu gọi) tất cả mọi người Việt yêu nước.

Nhưng theo tôi, đây còn là vấn đề trách nhiệm của người cầm bút. Tác giả lấy bút danh là Chân Mây gần đây viết rất nhiều bài và được nhiều người đọc hâm mộ. Ông đã sưu tầm được tấm ảnh đó cho nên có thể biết được nguồn gốc của tấm ảnh, và có thể giải thích rõ tại sao lại chú thích như thế. Nếu chú thích sai, ông Chân Mây hẳn có trách nhiệm xin lỗi độc giả. Trong trường hợp này, lỗi của tôi là chưa thận trọng trong việc sử dụng và kiểm chứng tư liệu. Là người cầm bút, không thể tránh được sai sót, công nhận sự sai sót không phải là điều đáng xấu hổ. Chỉ có những người tự cao tự đại, khư khư bảo thủ, không chịu nhận lỗi mới là đáng trách, đáng hổ thẹn.

Nhưng có điều rất khó hiểu là những dẫn chứng rất dài lại không thể chứng minh được việc có hay không có một công trình kiến trúc như “Tòa nhà kiểu Pháp” ở ngay biên giới – kể từ khi người Pháp có mặt ở miền Bắc Việt Nam cho đến khi họ rút hoàn toàn ra khỏi Đông Dương.

Anh Trương Nhân Tuấn đã khẳng định một cách chắc nịch: “Như thế, theo các dữ kiện trên đây, không hề có quân Pháp đóng tại Nam Quan, từ cảnh sát biên giới cho đến quan thuế hay quân đội. Không có quân đội Pháp-Việt đóng tại Nam Quan thì «liên quân Pháp-Việt» nào bảo vệ Nam Quan? Tất cả nhân viên quan thuế, cảnh sát biên giới hay quân đội đều đóng tại Đồng Đăng.”

Kết luận thì hùng hồn như thế, nhưng tất cả những dẫn chứng được nêu ra lại chỉ xoay quanh tình hình của Đồng Đăng – Nam Quan vào cuối thế kỷ 19. Khi viết về tổ chức quân sự tại Bắc Kỳ, tác giả đã sử dụng một cuốn sách của Commandant Famin (Thiếu tá Famin?) xuất bản năm 1894. Khi mô tả về “kinh tế nhân văn” của Đồng Đăng, tác giả đã dùng một tài liệu của ông Aumoitte viết vào năm 1881, phụ chú thêm vào tháng 5 năm 1884. Các chi tiết liên quan đến các giai đoạn khác (vd: thập niên 1940) thì rất lờ mờ, không rõ ràng.

Theo tôi, không thể sử dụng những tài liệu cuối thế kỷ 19 để làm rõ tình hình của Lạng Sơn – Đồng Đăng vào những năm 1940 hay những năm 1950. Từ cuối thế kỷ 19 đến 1940, lịch sử đã trải qua cả một cuộc Chiến tranh Thế giới lần I, ở Trung Quốc đã có sự thay đổi triều đại (từ nhà Thanh sang Chính phủ Quốc Dân Đảng), và đã nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới lần II với sự hiện diện của quân Nhật tại Hoa Nam.

Cho nên những điều anh Trương Nhân Tuấn trình bày rất dài tuy không phải là suy luận hoàn toàn mang tính chủ quan, nhưng lại không phù hợp về thời gian tính. Vì vậy, có lẽ anh nên tiếp tục sưu tầm tư liệu để một lúc nào đó, có thể cung cấp cho độc giả một bài viết đặc sắc về tình hình của Lạng Sơn – Đồng Đăng vào các thập niên 1940-1950. Nhưng đó lại là một đề tài khác, không nên ghép chung vào chủ đề này khiến cho độc giả rối trí.

3. Về lai lịch bất minh của Tòa nhà kiểu Pháp

Anh Trương Nhân Tuấn viết: “Lập luận ‘tòa nhà kiểu Pháp là của Pháp, xây trên đất Việt… sau này phía TQ dời cửa quan đến một vị trí khác nên tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc’ không hề đứng vững. Đâu phải nhà kiểu Pháp thì nhà đó của Pháp? Tôi đã viết trong bài góp ý trước, không tiện nhắc lại. Nhưng điều quan trọng là anh Mai Thái Lĩnh nhìn nhận hai tòa nhà không phải là một. Điều này làm cho lập luận của anh bị sụp đổ, vì nó là bằng chứng nền tảng.”

Anh cho rằng “đâu phải nhà kiểu Pháp thì nhà đó của Pháp”. Nhưng anh cũng không giải thích được điều vô lý sau đây: tại sao người Trung Hoa lại xây một công sở tại biên giới theo kiểu Pháp thay vì theo kiểu Trung Hoa? Tại sao họ phải bịa đặt câu chuyện “Tòa nhà kiểu Pháp được xây dựng từ đời vua Quang Tự”? Vì vậy, cho dù kết luận nói trên (đúng ra phải gọi là giả thuyết) chưa thể đứng vững vì thiếu chứng cứ để chứng minh, thì nó cũng không làm sụp đổ toàn bộ lập luận của tôi (điểm iv) như anh đã tưởng tượng, vì đó chỉ là bằng chứng phụ, không phải là “bằng chứng nền tảng”.

Lập luận chính của tôi (điểm iv) có thể tóm tắt như sau: Tòa nhà kiểu Pháp ở cạnh Hữu Nghị Quan có lai lịch bất minh. Phía Trung Quốc đã bịa ra câu chuyện tòa nhà này được nhà Thanh xây dựng vào đời vua Quang Tự (1896), trong khi các tấm ảnh chụp được vào đầu thế kỷ 20 cho thấy ở phía sau Ải Nam Quan không có tòa nhà này.

Ảnh 2: Phía sau Hữu Nghị Quan (trong lãnh thổ Trung Quốc)

Như vậy, “bằng chứng nền tảng” thứ nhất là tấm ảnh do chính anh Trương Nhân Tuấn sưu tầm (ảnh 2). Phía sau Ải Nam Quan, trong lãnh thổ của Trung Quốc chỉ có miếu Quan đế, đền Chiêu Trung và một ngôi nhà xây lợp ngói nhưng chỉ có một tầng trệt, kiến trúc rất đơn giản, chứ không hề thấy tòa nhà kiểu Pháp ở đâu cả.

“Bằng chứng nền tảng” thứ hai là câu chuyện bịa đặt cho rằng Tòa nhà kiểu Pháp được xây dựng vào năm 1896, dưới thời vua Quang Tự nhà Thanh. Bằng chứng này được nhìn thấy trên tấm “bia gỗ” ngay trong khu vực Hữu Nghị Quan (ảnh 3), không phải chỉ là thông tin trên Internet (mà anh Trương Nhân Tuấn cho là không có giá trị).

Ảnh 3: “Bia gỗ” giới thiệu Hữu Nghị Quan

Như trong bài trước tôi đã viết: chừng nào mà phía Trung Quốc chưa chứng minh được lai lịch của Tòa nhà này thì lúc đó chúng ta vẫn có quyền hoài nghi tòa nhà này không phải của Trung Quốc xây và không nằm trên lãnh thổ của Trung Quốc.

Cho đến nay, tôi nhận thấy anh Trương Nhân Tuấn chưa bác bỏ được lập luận nói trên, cũng không đưa ra được bằng chứng nào để chứng minh “tòa nhà kiểu Pháp là do Trung Quốc xây” hoặc tòa nhà đó “rõ ràng là nằm trên lãnh thổ của Trung Quốc”. Như vậy làm thế nào anh có thể kết luận rằng lập luận của tôi “đã bị sụp đổ”?

Tôi cũng không hiểu tại sao anh lại cố gắng tìm đủ mọi lý lẽ để phản bác điều này và biện hộ giùm cho phía Trung Quốc trong khi anh không có đủ bằng chứng? Có lẽ nên nhường quyền phê phán cho các nhà sử học, lý luận và tuyên truyền của phía Trung Quốc, bởi lẽ chỉ có họ may ra mới có đủ bằng chứng để chứng minh lai lịch của tòa nhà đó và xua tan mối hoài nghi của tôi. Nếu họ không biết đọc tiếng Việt thì tôi xin nhờ các độc giả hay các nhà nghiên cứu giỏi tiếng Hoa nêu vấn đề này với họ để xem họ trả lời ra sao, biện luận ra sao?

4. Về độ khả tín của các nguồn Internet

Nguồn Internet có độ khả tín nhất định, đồng thời cũng có chỗ không đáng tin, vì vậy ta phải thận trọng khi sử dụng các tư liệu từ Internet. Nhưng điều đó không có nghĩa là bất cứ nguồn tư liệu Internet nào cũng không đáng tin, còn bất cứ tư liệu dạng ấn phẩm nào cũng khả tín. Có dịp, tôi sẽ trao đổi thêm về việc các tư liệu thành văn của Trung Quốc ngay từ thời cổ đại và nhất là từ thời Nhà Hán đã bị đánh tráo, xuyên tạc, “đem râu ông nọ cắm cằm bà kia” như thế nào.

Nhưng nguồn tư liệu trên Internet hiện nay rất phong phú, do sự đóng góp của rất nhiều người, chúng ta có nên từ chối sử dụng hay không? Nhất là trong một vấn đề rất nan giải như vấn đề Ải Nam Quan, chúng ta có nên từ chối Internet như một nguồn tư liệu và một phương tiện để tra cứu và trao đổi thông tin hay để tranh luận, đối thoại? Theo tôi, không nên quá cực đoan trong bất cứ vấn đề gì, bởi vì vấn đề chính vẫn là phương pháp xử lý tư liệu.

Nhân nói về vấn đề xử lý tư liệu, tôi cũng xin góp ý với anh Trương Nhân Tuấn: nên cẩn thận hơn trong khi sử dụng một số tư liệu để làm bằng chứng. Các tấm ảnh mà anh giới thiệu về ngọn núi “có một công sự trên đỉnh” còn khá mù mờ, không thể xác định rõ nằm ở đâu, nếu nằm ở khu vực Nam Quan thì nằm ở hướng nào, lại càng không thể xác định công sự ấy có phải là công sự mang tên Kouei Tao hay không. Sử dụng chúng để làm bằng chứng, theo tôi là hơi vội vàng, thiếu thận trọng. Ngay cả tấm ảnh của Lancelot vẽ theo một bản phác thảo của ông Aumoitte (Cua-Ai: – Porte frontière du Tong-King et du Kouang-Si), cũng chưa thể coi đó là Ải Nam Quan. Bởi vì vào năm 1881, người Pháp chưa chiếm được Bắc Kỳ, người dân thường chưa chắc đã được phép đi qua Ải Nam Quan, mà phải đi qua Ải Du. Hơn nữa, như bác sĩ P. Néis đã viết, trên vùng biên giới Bắc Kỳ – Quảng Tây không phải chỉ có Ải Nam Quan được gọi tên là “Porte de Chine”, trong khi tấm ảnh trên chỉ ghi là “cửa ải – porte frontière”. Do đó, không nên vội kết luận đó là ảnh của Ải Nam Quan, nhất là khi chúng ta đã có trong tay những ảnh chụp vào đầu thế kỷ 20.

Riêng về các trang web SinovietChinAsean thì lại liên quan đến một vấn đề khác. Có lẽ anh Trương Nhân Tuấn vì mải mê nghiên cứu trong các thư khố của nước Pháp nên ít để ý chuyện ngoài đời, chưa thấy rõ nhà cầm quyền Trung Quốc đã sử dụng Internet như một phương tiện để thực hiện mưu đồ bành trướng lãnh thổ như thế nào. Nếu có thể bớt chút thời giờ để vào xem trang Bauxite Vietnam và các trang blog độc lập khác ở Việt Nam hay ở hải ngoại (hiện nay thường được gọi là báo chí “lề trái”), anh sẽ thấy đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt. Các trang web và trang blog yêu nước đã và đang phải đấu tranh trong tư thế “châu chấu đá xe” để bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Một số trí thức lớn trong nước trước đây chỉ chuyên tâm nghiên cứu trong các viện nghiên cứu hay các trường đại học nay cũng phải thường xuyên ghé mắt nhìn vào các trang web đủ loại của Trung Quốc để xem họ viết lách, tuyên truyền thế nào và cần phải phản ứng cách nào để bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Anh viết: “Trang nhà www.vn.sinoviet.com hay các trang khác mà anh Mai Thái Lĩnh đã dẫn, theo tôi thì ai cũng có thể lập ra một trang nhà có ‘chấm com’ phía sau với cái tên miền giật gân như thế. Đâu phải lấy cái tên miền ‘sinoviet’ như vậy rồi nó có được cái uy tín của hai nước Việt-Trung? Anh còn dẫn tên miền ‘ChinAsean’. Tất cả đều không có ý nghĩa gì cả. Người ta có thể lấy nhiều tên miền hấp dẫn hơn. Quan trọng là cái nội dung của nó. Tôi đã vào trang nhà này và không thấy gì là đặc sắc.”

Có lẽ do đã sống ở nước ngoài quá lâu và được hưởng đầy đủ các quyền tự do cơ bản của các quốc gia phương Tây cho nên anh Trương Nhân Tuấn đã nhầm lẫn khi cho rằng “ai cũng có thể lập ra một trang nhà có “chấm com” phía sau với cái tên miền giật gân như thế”. Trong thực tế, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, không phải ai cũng có quyền lập ra những trang mạng như thế, lại càng không thể nhân danh “tình hữu nghị Việt-Trung”. Nếu có ai dám cả gan làm điều đó, họ sẽ lập tức bị cơ quan công lực (thường gọi là bộ máy chuyên chính) chú ý và “xử lý” thích đáng.

Nếu tìm hiểu nguồn gốc của hai trang mạng hợp tác này, chúng ta thấy chúng không phải là sản phẩm của “bất cứ ai”. Như tôi đã trình bày trong bài viết trước, hai trang mạng Sinoviet ChinAsean này là công trình hợp tác của hai cơ quan GXSTI (tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc) và VISTA (Việt Nam). Về phía Trung Quốc, có lẽ họ coi Việt Nam chỉ ngang hàng một tỉnh nên giao việc hợp tác cho một cơ quan cấp tỉnh mang tên GXSTI (Guangxi Science and Technology Information Network Center, Trung tâm mạng thông tin khoa học và công nghệ Quảng Tây). Trang mạng chính của cơ quan này có tên http://www.gxsti.net. Lý do tại sao không có chữ “gov” phía sau, tôi không rõ lắm, nên tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia về Internet. Nhưng về phía Việt Nam, VISTA là mạng do NACESTI quản lý. NACESTI (National Centre for Scientific and Technological Information) là tên giao dịch tiếng Anh của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, cơ quan đầu ngành về thông tin khoa học công nghệ trực thuộc Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam. Website của cơ quan này có tên là http://www.vista.gov.vn, nghĩa là có chữ “gov” ở phía sau. Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương trực thuộc Trung tâm này có nguồn gốc từ Thư viện của Học viện Viễn đông Bác cổ do Pháp thành lập năm 1901. Từ năm 2005, khi Việt Nam gia nhập vào mạng lưới ISSN quốc tế, Trung tâm này được chỉ định là Trung tâm ISSN quốc gia,  trực tiếp tổ chức và thực hiện việc đăng ký và cấp Mã số chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN) trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đây cũng là cơ quan đầu mối quốc gia về đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Giám đốc của Trung tâm do Bộ trưởng Bộ KH-CN trực tiếp bổ nhiệm. Thử hỏi: một cơ quan quan trọng như thế, ai dám mạo danh?

Giả định rằng các trang mạng “hợp tác” đó do Trung Quốc tự ý lập ra, không có ý kiến của phía Việt Nam, thì Trung tâm NACESTI và Bộ Khoa học Công nghệ có trách nhiệm phải lên tiếng phủ nhận và chính thức yêu cầu phía Trung Quốc xóa bỏ các trang mạng đó. Làm sao giải thích được tình trạng các trang web đó vẫn tồn tại công khai trong nhiều năm, không có cơ quan nào lên tiếng phản bác, trong khi các trang web như Bauxite Vietnam, talawas, X-café và nhiều trang khác ở hải ngoại liên tục bị đánh phá?

Riêng cá nhân tôi, tôi tin rằng các trang mạng đó tồn tại hoàn toàn hợp pháp (hiểu theo nghĩa được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền nhà nước hiện tại) – ít nhất là về phía Trung Quốc. Còn về phía Việt Nam, có thể các cơ quan của Việt Nam đã bị lợi dụng danh nghĩa nhưng không dám lên tiếng vì một lý do nào đó. Những người chưa từng làm nhà giáo có thể không hiểu được nỗi đau khi thấy thế hệ trẻ bị đầu độc. Nhưng bất cứ ai đã kinh qua nghề dạy học không thể không bức xúc trước tình trạng Trung Quốc đã và đang lợi dụng các diễn đàn Internet đủ các loại để đầu độc giới trẻ nước ta – nhất là khi họ lợi dụng danh nghĩa “hợp tác”. Đó chính là lý do tôi nêu ra vấn đề này trong các bài viết của mình. Có lẽ anh Trương Nhân Tuấn vì chỉ chú trọng đến những gì mang “tính hàn lâm” nên không quan tâm lắm đến những vấn đề thuộc lĩnh vực giáo dục.

Cuối cùng, tôi xin phép độc giả được tạm thời ngưng cuộc tranh luận về chủ đề này cho đến khi tìm ra được những bằng chứng mới có thể giúp làm rõ vấn đề. Tôi tin rằng anh Trương Nhân Tuấn cũng sẽ đồng ý với đề nghị này, bởi vì qua các bài phản biện vừa rồi, tôi nhận thấy anh cũng chưa có được những bằng chứng gì mới hơn. Nếu tiếp tục tranh luận về những điểm không phải là trọng tâm của đề tài sẽ không giúp làm sáng tỏ vấn đề mà đôi khi còn đưa độc giả lạc vào một thứ mê lộ không có lối ra, như vậy sẽ làm phiền đến diễn đàn và độc giả.

Tôi rất cảm ơn những lời khuyên răn của anh Trương Nhân Tuấn về việc giữ gìn tư cách độc lập của người trí thức (mà anh gọi là “thái độ riêng” hay “bản sắc”). Nhưng xin anh cứ yên tâm. Bản thân chúng tôi là trí thức trong nước, sống trong một hoàn cảnh không được tự do như các anh chị ở hải ngoại, cho nên mỗi khi phát biểu về một vấn đề nào đó, chúng tôi đều phải thận trọng từng chữ, từng lời. Đối với một người ở nước ngoài, mỗi khi phát biểu một điều gì không đúng, chỉ cần có đủ lòng tự trọng và sự can đảm để thừa nhận sai lầm là có thể giải quyết một cách đơn giản bằng một câu xin lỗi. Còn đối với chúng tôi, nếu có phát biểu điều gì chưa đúng (thậm chí đúng nhưng chưa thật chính xác 100%) thì không phải chỉ khiêm tốn nhận lỗi là xong. Một chút sơ sẩy trong lời ăn tiếng nói (nhất là sai sót về luận điểm, chứng cứ) cũng có thể dẫn đến những sự quy chụp nặng nề và những biện pháp xử lý đủ các loại: nhẹ thì cắt điện thoại hay bị canh gác thường xuyên, nặng thì bị truy tố, quản thúc, hay tù tội. Trong hoàn cảnh đó, không ai dại gì chạy theo chuyện “giật gân” hay cốt để “ăn khách”. Có thể anh đã nhầm lẫn giữa khái niệm “ăn khách” của các chính trị gia và giới báo chí ở nước ngoài với khái niệm “ăn đòn” mà những người đấu tranh cho tự do, dân chủ ở những nước như Việt Nam hay Trung Quốc đã và đang được hưởng? Ở nước ta hiện nay, muốn câu khách hay làm chuyện giật gân thì người ta thường lảng tránh sang các vấn đề khác – như tình dục (sex), thời trang, văn nghệ, thế thao hay “nghiên cứu văn hóa thuần túy” chẳng hạn. Không ai dại gì đụng đến những chuyện chính trị hay những vấn đề “nhạy cảm” để chịu ăn đòn.

Nhưng tôi thật sự cảm thấy băn khoăn về câu viết của anh: “Theo tôi, người trí thức không thể cùng lúc phục vụ cho một mục tiêu chính trị và bảo vệ chân lý”.

Tôi xin phép được phản biện đối với suy nghĩ này. Tôi không rõ anh Trương Nhân Tuấn hiểu “mục tiêu chính trị” theo nghĩa nào. Nhưng nếu hiểu mục tiêu chính trịđấu tranh cho một xã hội dân chủ bảo đảm được các quyền tự do căn bản, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, thì người trí thức vẫn có thể vừa phục vụ cho mục tiêu chính trị, vừa bảo vệ được chân lý. Vì hai mục tiêu này không hề mâu thuẫn mà còn tương hỗ với nhau, cho nên không nhất thiết là cứ tham gia chính trị thì buộc phải từ bỏ nhiệm vụ bảo vệ chân lý. Trong trường hợp ngược lại, nếu vì quá đề cao tính “độc lập, hàn lâm” của mình mà sao lãng hay gây phương hại cho những mục tiêu cao cả và khẩn thiết của đất nước thì theo tôi, người trí thức chân chính không nên làm như vậy.

Dưới mỗi chiếc áo trí thức đều cần có tấm lòng của một công dân. Thiếu tấm lòng của  công dân, chiếc áo trí thức chỉ còn là một thứ hàng trang sức xa xỉ!

Đà Lạt, 14.5.2010

© 2010 Mai Thái Lĩnh

© 2010 talawas


[i]Trương Nhân Tuấn, “Trao đổi thêm với anh Mai Thái Lĩnh về Ải Nam Quan”, talawas 11.5.2010: http://www.talawas.org/?p=20116

[ii]Về bản đồ, tôi dựa vào bản đồ do tác giả Nguyễn Ngọc Danh giới thiệu qua bài viết “Ải Nam Quan còn thuộc Việt Nam hay không?” của Nguyễn Ngọc Danh (VPS, 14.3.2002): http://www.vps.org/article.php3?id_article=617). Theo ông Danh, bản đồ này được trích từ bản đồ Lạng Sơn Tây (số 28 Tây) liên quan đến vùng ải Nam Quan, nhưng được phóng to để có thể nhìn thấy rõ hơn. Nguồn gốc của nó là các bản đồ của Sở Ðịa Dư Ðông Dương với tỷ lệ 1/200 000 và 1/100 000. Như vậy, căn cứ để quy chiếu không khác với bản đồ SGI mà anh Trương Nhân Tuấn sử dụng. Bản đồ 249 C chỉ được sử dụng để làm rõ các phát biểu của Bộ Ngoại giao Việt Nam vì không phải là bản đồ chính thức và không theo đúng tiêu chuẩn quốc tế.

Bình luận

3 Comments (bài “Mai Thái Lĩnh – Trao đổi tiếp về chủ đề “Ải Nam Quan trong hiện tại””)

  1. Nhuoc Bang viết:

    Những tranh luận chi tiết về sử liệu, về học thuật thuần túy xin giành cho các nhà nghiên cứu, nhưng tôi xin chia sẻ về tâm trạng.

    Ông Trương Nhân Tuấn nói:
    Nghĩa nguyên của « chính trị » bao hàm những việc tốt đẹp. Nhưng thực tế hàng trăm năm nay của Việt Nam đã làm tôi thất vọng. Do đó tôi luôn mang tâm trạng hoài nghi về bất cứ những gì thuộc về « chính trị ». Hiện nay tại Việt Nam, có những gì là tốt đẹp đến từ các việc có dính dáng đến « chính trị » ? Không có gì cả, ngoài một tập lịch sử đen tối (vài chục nghìn trang) chưa viết hết của dân tộc.

    Tôi hoàn toàn chia sẻ tâm trạng vật vã này.
    Thực tế trên trên sàn đấu Việt Nam thì :
    – Viễn kiến thua thiển cận
    – Lý tưởng thua thực dụng
    – Trí thức thua đám đông
    – Quân tử thua Chí Phèo
    – Khoa học thua ngụy biện
    – Trăn trở bi quan thua lạc quan “makeno”…
    (Coi chừng sắp tới sẽ có : Yêu nước thua bán nước !)

    Nhưng cái “đám đông, thiển cận, thực dụng, Chí Phèo, ngụy biện, makeno” ấy vẫn sống dài dài và hãnh tiến vì những kẻ bại trận “Viễn kiến, Lý tưởng, Trí thức, Quân tử, Khoa học, Trăn trở” kia không bao giờ chết hẳn, mà phải sống lay lứt để nuôi những “kẻ thắng trận” kia, bù trừ cho những khoảng tối của chúng!
    Tôi nhớ một bài nào đó, Hà Sĩ Phu đã mô tả đại ý “Việt Nam là dân tộc tiến hóa bằng cách chuyên chọn sai đường” vì yếu tố phản diện luôn KÝ SINH được vào những yếu tố chính diện…
    Cục diện đau lòng ấy soi bóng vào tâm hồn những trí thức Việt Nam, nên trong lòng lòng họ chứa đầy đủ những nét giằng xé ấy. Tôi có trò chuyện với một vài nhà Trí thức đang có vai trò tích cực, thì biết tận sâu bên trong họ đều phải giấu kín nỗi bi quan. Vậy phải chăng lạc quan hay bi quan, nhập thế hay xuất thế, cũng chỉ là những trạng thái khác nhau của cùng một con người trong cõi người vật vã ấy?

  2. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi chỉ dẫn lại nguyên văn (một cách đầy đủ) những gì tôi đã viết trong bài :
    « Người trí thức có thể có một thái độ riêng, tức cái «bản sắc» của mình, trong việc hướng dẫn «dư luận». Nhưng khi người trí thức bị chi phối bởi các «tin đồn», sử dụng các tin này mà một cách máy móc không kiểm chứng, thì người trí thức đã bị dư luận hướng dẫn. Bằng không, người trí thức đã bỏ áo trí thức để dấn thân vào chính trị. Theo tôi, người trí thức không thể cùng lúc phục vụ cho một mục tiêu chính trị và bảo vệ chân lý. »
    Dĩ nhiên trong đoạn văn này tôi không đặt nội dung của « mục tiêu chính trị » như trong kết luận của anh Mai Thái Lĩnh : « mục tiêu chính trị là đấu tranh cho một xã hội dân chủ bảo đảm được các quyền tự do căn bản, là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia,… »
    Theo tôi việc « đấu tranh cho một xã hội dân chủ bảo đảm được các quyền tự do căn bản, là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia… » là những hành động yêu nước, đến từ động lực « yêu nước » của mọi người dân.
    Nghĩa nguyên của « chính trị » bao hàm những việc tốt đẹp. Nhưng thực tế hàng trăm năm nay của Việt Nam đã làm tôi thất vọng. Do đó tôi luôn mang tâm trạng hoài nghi về bất cứ những gì thuộc về « chính trị ». Hiện nay tại Việt Nam, có những gì là tốt đẹp đến từ các việc có dính dáng đến « chính trị » ? Không có gì cả, ngoài một tập lịch sử đen tối (vài chục nghìn trang) chưa viết hết của dân tộc.
    Do đó nên tránh nói về chính trị (để khỏi phí phạm nhân sự) mà nên nói và làm như những người yêu nước. Và người trí thức, tức những người có một vốn liếng hiểu biết nhứt định, nên hướng dẫn dư luận, hướng dẫn người dân về những mục tiêu tranh đấu tốt đẹp đó. Nhưng việc hướng dẫn chỉ có thể thuyết phục (và không phí phạm nhân sự) nếu người trí thức nói bằng tiếng nói của sự thật.

  3. Thái Hữu Tình viết:

    @ Trương Nhân Tuấn
    (Đọc các comments cuối bài trước mới biết tin ông HSP và nhóm của ông, tất nhiên có ông MTL vừa bị triệt điện thoại và Internet!)
    Nhân có bài này của ông MTL, xin trao đổi tiếp vài dòng với ông Trương Nhân Tuấn:

    Mừng rằng cuộc tranh luận trong bài vừa rồi, giữa mọi người chúng ta đã có phần bổ ích. Tuy sự khác nhau là điều dễ hiểu, song đã dần dần có thể chia sẻ, vì mọi người đều nhận ra rằng muốn góp sức cùng nhau thì ngoài mục đích trong sáng, và biết ra khỏi “tháp ngà”, còn phải tránh được 2 “kẻ thù”: tránh tính cá nhân bản vị quá cao và tránh những chủ trương cực đoan về phía này hoặc về phía khác.

    Bạn có đề cập đến phương pháp, nên tôi mạo muội bàn một chút như sau.
    Tôi nghĩ, có hai tiên đề không thể bác bỏ:
    – Nếu không có sự hợp đồng , không có tổ chức, thì không có sức mạnh để làm nên điều gì hết. Cá nhân trí thức đơn lẻ chẳng những không làm nên cái gì mà còn bị bẻ gẫy ngay.
    – Nhưng mặt khác, đúng như bạn nói, hiện nay chỉ cần tập hợp thành một tổ chức dân sự nằm ngoài bàn tay của Đảng cũng bị dập ngay, chứ đừng nói là tổ chức chính trị. Các bài học sờ sờ ra đấy.

    Có con đường nào lách giữa 2 tiên đề , cùng lúc thỏa mãn cả 2 tiên đề ngược nhau ấy không? Ấy chính là đáp số : Vẫn có sức mạnh của sự hiệp đồng, mà không cần xuất hiện như một tổ chức chính trị!
    Trong sự nghiệp ấy, một “tập thể” trí thức cũng chỉ là con “chip” nhỏ châm ngòi và định hướng thôi.
    Tôi cũng là kẻ chẳng có tài cán gì, có vài ý nghĩ trong đầu thì cứ mạnh dạn trao đổi với nhau thế thôi.
    Mong rằng giữa những năng lực cá nhân trí thức chỉ là những dấu CỘNG, đừng là những dấu TRỪ, phải không thưa bạn? .

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>