talawas blog

Chuyên mục:

Đỗ Anh Thơ – Cây vông nhà thờ hay cây “xư” của Trang Tử

16/05/2010 | 12:42 chiều | 6 Comments

Tác giả: Đỗ Anh Thơ

Category: Tạp văn
Thẻ:

Tôi viết những dòng hồi ức này đúng vào dịp ngày giỗ tổ của họ tôi (5/4 âm lịch) năm Canh Dần 2010 này.

Nhà thờ họ tôi xây dựng từ năm 1940-42, gồm thượng điện, trung điện và bái đường (nhà làm lễ cúng). Bái đường cũ đã bị các cụ trong họ tôi dỡ, đem bán đi sau cải cách ruộng đất, vì sợ mang tiếng là dòng họ phong kiến, lúc tôi còn ở Trung Quốc, chỉ còn lại thượng và trung điện. Năm 1992, quyên góp được một ít tiền của bà con trong họ ở Hà Nội, tôi cùng với người em họ là Nguyễn Đức Uẩn, đại tá quân đội, về trùng tu lại. Nhà bái đường mới, cột được đúc bằng bê tông, chứ không phải bằng lim như khi xưa, dỡ từ nhà thờ cụ Tặng (tức Nguyễn Đức Tân- bố cụ Nguyễn Đức Đôn) ở dưới làng đưa lên, năm 1942. Lúc đó vì nó quá thấp nên đã được xây gạch kê cao cột thêm khoảng 1 mét. Nay làm lại, theo ký ức chúng tôi. Nó có vẻ như vẫn mang dáng dấp như xưa.

Khi về cùng Uẩn và các chú trong họ trùng tu, tôi đã đi quan sát một vòng, thả hồn trở về thuở ấu thơ, 50 năm trước, để phục chế lại như nguyên mẫu những gì của cha ông.

Tôi trở về với ký ức của một thằng bé đầu to quá cỡ, đẻ thiếu tháng, ốm yếu và rất bướng bỉnh, nhưng lại rất sợ một ông cụ trong họ là tú tài Nguyễn Đức Đồng, anh cụ Nguyễn Đức Đôn, ông nội của tiến sĩ văn học Anh, Nguyễn Đức Nam. Vì thế, cha tôi thường chế tôi với mấy câu thơ:

Đầu to chạng vạng,
Mặc áo loang khoang.
Khi đi về làng,
Thì hãi[1] ông cụ.

Tuy vậy, khoảng năm 40 hay 41, khi cụ Nguyễn Đức Đôn làm lễ rước sắc phong, tôi đã được ngồi trên xe kéo, dưới chân cụ Đồng, hình như từ Vinh, vinh quy về quê.

Đến lúc trùng tu, mặc dù có nhiều người muốn dùng câu đối bằng chữ quốc ngữ, nhưng tôi cương quyết phản đối. Lý luận của tôi là chữ Hán không phải của riêng người Tàu, mà là của nhiều dân tộc khác như Triều Tiên, Nhật, Việt Nam… Việt Nam ta đã để mất bản quyền. Tôi đã đọc đi đọc lại lại những câu chữ Hán còn sót ở thượng điện, như

Kỳ lai viễn hĩ bằng tiên trạch 其来 远 奕 凭 先 澤

Vĩnh viết kiên hồ di hậu nhân 永 曰 堅 乎 遺 後 人[2]

và câu Dịch dịch tẩm miếu 奕  奕 寝 庙[3], tôi đã nghe các bậc cao niên kể về xuất xứ dòng họ… để sáng tạo nên các câu đối mới chữ Hán cho tam quan, cuốn thư và bái đường, những dòng như sau:

Nguyễn Đức tộc tẩm miếu (阮 德族 寝 庙)[4]

Nguyễn khởi tại nguyên trinh cựu phân tam lĩnh

Đức tàng ư tâm chí kim hợp nhất nguyên

阮 起 在元 真 旧 分 三 岭

德 藏于心 志 今 合 一源[5]

Bằng tiên di hậu

凭 先遺 後[6]

Bái tổ đường đạo kinh bang tế thế
Khuyến học sảnh đàm văn nghệ từ chương
Minh minh đức khả đồng trị quốc
Tiên tiên trạch năng cộng tề gia.

拜 祖 堂 道 经 邦 际 世
劝 学 厅 谈 文 艺 辞 章
明  明 德 可 同治 国
先 先 泽 能 共 齐 家[7]

Nhà thờ họ tôi vốn được cử nhân Quang lộc tự thiếu khanh là Nguyễn Đức Đôn (chú họ) cùng cha tôi, khóa sinh hỏng tam trường là Nguyễn Đức Tụ (cháu) chủ trương  hợp tự. Cụ Đôn đã bất chấp ý kiến của nhiều bậc cha anh, dỡ nhà thờ chi họ mình (chi 3) ở dưới làng về làm nhà thờ mới, trên nền nhà cũ của cụ tổ. Công lao và viễn kiến đó của cụ đã để lại cho muôn đời con cháu trong họ.

Trước nhà thờ có một cây vông to, dễ thường đến nay đã gần trăm tuổi. Thân nó đầy gai, thân xốp, gỗ không có giá trị làm đồ mộc hay đun nấu gì. Có lẽ nó như cây của Trang tử, 神 木 不 材[8], chính vì thế mà nó mới sống lâu, mới thành cây thiêng trước các đền chùa, nhà thờ quê tôi.

Lúc tôi khoảng lên bốn lên năm, tức là lúc nhà thờ chưa hợp tự, được cha tôi đèo từ quê ngoại về quê nội cúng giỗ, tôi thấy nó đã lớn gần như cây vông trước sân trường huyện.

Vông có lẽ là tên tiếng Việt. Ở Trung Quốc tôi chưa từng gặp cây này, có thể là do mình chưa đi nhiều nơi nên không biết chăng? Tôi cũng chưa biết viết tên cây này bằng chữ Hán như thế nào! Nếu phải viết, tôi đành phải ghép bộ mộc với chữ vong (亡= mất)  hoặc vong (忘 = quên) mà thôi.

Cây vông nằm trực chỉ với cổng nhà thờ, nhưng có lẽ cha tôi và cụ Đôn vốn không tin theo thuyết phong thủy, nên không tránh.

Những năm 50 đến 60 thân nó đã rỗng ruột, trẻ con chăn trâu đã chơi trốn tìm trong đó. Nhưng khoảng gần hai  chục năm trở lai đây, tự nhiên thân nó phát triển đầy trở lại, nay đã tràn trề sức sống.

Các cháu tôi còn mê tín kể rằng, có lần một người đi cày ruộng liền kề đã chặt đi một cành của nó sà xuống đất nhà mình, về nhà liền bị ốm chết. Tôi không tin nó thiêng đến thế. Nhưng tôi vẫn cứ băn khoăn về một ngữ nghĩa, cái tên “vông”. Nó là “vong” là quên hay là mất gốc chăng?

Bởi vì ngày nay hầu hết những người trong họ tôi ly hương ra đi, lập nghiệp, gọi là có chút thành đạt, ở Hà Nội, Sài Gòn hay ở nước ngoài, văn nghiệp dù có lớn, nhưng  không ai có chức quyền gì. Họ có tâm trạng nhớ quê da diết, nhưng ít ai trước khi nhắm mắt, dặn con cháu đưa nắm tro về quê, trừ nhà thơ Thúy Bắc. Đến như tôi, cũng muốn nằm lại cạnh hòn đá mồ côi ở Đồng Mô Ba Vì, như một kẻ bất đắc chí. Họ có phải vì xa ngái hay là vì những nguyên nhân nào khác, buồn vui sau những năm tháng ở quê nhà?

…Mấy ngày nay, trước bái đường nhà thờ họ tôi, để chuẩn bị giỗ tổ, các con cháu trong họ tôi đang dựng một nhà mái tôn như là để khoe cái giàu sang, hiện đại, để đón con cháu, lũ lượt ô tô về với giỗ tổ. Thế nhưng, bên ngoài cái hào nhoáng đó, gia đình, dòng họ tôi, còn có giữ được truyền thống, hiếu học “弃 名 重 才”[9], với những sợi dây đoàn kết, hiếu thuận, cũng như nhiều dòng họ khác, khắp đất nước nữa hay không?.

Nay tôi ngồi buồn ở nơi Sài Gòn xa xôi, tưởng nhớ đến ngày giỗ tổ mà buồn cho cây vông nhà thờ, cây “xư” của Trang Tử, chỉ vài năm một lần, chứng kiến ngày  được treo một lá cờ đại lên trên ngọn, con cháu đứa xênh xang mũ áo tế, đứa đánh trống, đánh cồng… đứa đọc văn… đứa đội mâm cỗ… lại có thêm dăm ba chiếc ô tô đời mới gọi là sang, khoe nhau chức học quan không lấy gì làm cao cho lắm với địa phương?

Ăn uống xong, họ lại ra đi, bỏ lại phía sau, vẫn là chiếc cày chìa vôi,với tiếng tắc rì giọng “cà có cuống cà có đuôi” với đói nghèo.

© 2010 Đỗ Anh Thơ

© 2010 talawas


[1] Nghĩa là sợ.

[2] Đây từ lâu đã là bằng chứng đất tổ xưa , hãy nói một cách kiên định rằng: phải để lại cho con cháu mai sau.

[3] Chữ trong Luận ngữ, nghĩa là miếu mạo nguy nga.

[4] Miếu thờ họ Nguyễn Đức.

[5] Nguyễn khởi từ đầu trung trinh (chiết tự 阮 có chữ 元 nguyên) xưa chia làm ba ngọn. Ám chỉ họ có ba chi, còn có ý nói họ từ phía làng Phượng Lịch (tây bắc thuộc quẻ Càn) đến lập cư.

Đức có chứa chữ tâm (chiết tự, dưới chữ đức có chữ tâm) nay hợp lại một nguồn. Ám chỉ sự hợp tự họ.

[6] Rút gọn câu đối cũ ở thượng điện, nghĩa là bằng chứng xưa, để lại đời sau.

[7] Nhà bái tổ còn là nơi bàn chuyện làm ăn kinh tế/Là nhà khuyến học, là nơi bàn luận văn chương/Biết làm rạng cái đức sáng của tổ tiên thì có thể cùng nhau quản lý tốt đất nước/Biết đặt lợi ích của cha anh dòng họ trên thì có thể làm yên ấm cửa nhà.

Các chữ “minh đức, trị quốc, tề gia’ là lấy trong sách Đại học (tề gia trị quốc bình thiên hạ) của Nho giáo, tác giả chỉ nhấn mạnh thêm nhất là vế sau.

[8] Thần mộc bất tài, nghĩa là cây thần không dùng làm được đồ dùng gì. Đây là một chương trong Trí tuệ Trang tử của tác giả.

[9] Khí danh trọng tài – Bỏ danh trọng tài.

Bình luận

6 Comments (bài “Đỗ Anh Thơ – Cây vông nhà thờ hay cây “xư” của Trang Tử”)

  1. Trần Văn Tích viết:

    Cây vông của tác giả Đỗ Anh Thơ thuộc loại cây to, thân có gai, lá hình quả tim, mép có răng cưa, đầu lá nhọn, dài lối 20-30 cm, rộng chừng 15-20 cm. Hoa đực màu đỏ hay đỏ sậm, mang bông nhiều hoa (multiflores), hoa cái là hoa đơn (fleurs isolées). Quả hình nang, cứng, gồm lối 12 mảnh hình múi (coques), cao 5 cm, rộng 10 cm. Tên khoa học của nó là Hura crepitans L., họ Euphorbiaceae. Nó gốc vùng nhiệt đới Nam Mỹ. Tính từ crepitans mô tả tình trạng trái vông khi chín và khô thì bật vỡ rất mạnh, gần như nổ kêu một tiếng bép, hạt bên trong bị phóng đi khá xa. Hạt cây vông này có chứa tinh dầu mang tính tả dược, là một thứ thuốc hạ, gây tiêu chảy. Các tên khác là : điệp tây, vông đồng, bã đậu tây (gọi thế vì trong Đông y, vị bã đậu là một vị thuốc xổ quen thuộc). Tiếng Pháp gọi cây này là sablier, pet du diable, noyer d’Amérique.
    Vông thực ra có nhiều loại.
    Cây vông nem là cây Erythrina indica Lamk. thuộc họ Papilionaceae. Lá gồm ba lá chét, lá chét giữa rộng hơn là dài, lá gần như có hình quả thận, rụng vào mùa mưa; hoa màu đỏ tươi thắm (rouge écarlate), tụ thành 1-3 chùm dầy. Quả giáp (gousse) dài 15-30 cm, đen, hơi hẹp lại ở gữa các hạt. Mỗi quả có từ 5-8 hạt, hình quả thận (réniformes), đỏ hay nâu, tễ rộng, mang một vành trắng. Tên tiếng Pháp : arbre corail.
    Cây vông không họ hàng bà con gì với cây ngô đồng hết. Cây ngô đồng có tán lá toả ra như dù che, lá xẻ thùy chân vịt, bề ngang lá tới 25 cm, có 3-5 thùy hình tam giác, cuống lá dài hơn phiến lá. Hoa nhỏ màu vàng nhạt. Quả có 5 đại, với 2 hạt hình trứng. Ngô đồng có nhiều tên khoa học : Sterculia platanifolia L., Firmiana simplex Wight., Paulownia imperialis L., Aleurites fordii Hemssley. Do đó ngô đồng thuộc nhiều họ thực vật. Cây ngô đồng là cây của Chinh phụ ngâm : Sương như búa bổ mòn gốc liễu / Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô; của Truyện Kiều : Nửa năm hơi tiếng vừa quen /Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng; Non quê thuần vược bén mùi / Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô; của Bích câu kỳ ngộ :Thoi đưa ngày tháng sương sao / Ngô vừa rụng lá lại đào nẩy hoa; của Quan Âm Thị Kính : Lá ngô lần điểm đốt tay /Thị Mầu đã đủ đến ngày sinh trai. Tất nhiên nó còn xuất hiện trong thơ văn Hán Nôm đời Hồng Đức hay thơ Tương An Quận Vương, Nguyễn Thông v.v..
    Chữ nôm viết chữ vông với bộ thụ bên trái và chữ phong (cây phong, có thảo đầu) bên phải hoặc chữ bồng (tươi tốt, cũng với thảo đầu) bên phải chứ không phải với chữ vong.

  2. Đỗ Anh Thơ viết:

    Tôi rất dốt môn thực vật học nhưng khẳng định rằng cây vông trong hoài niệm cuả tôi hình như là một loại cây di thực. Trước CM tháng 8 nó thường có ở các sân trường, to hơn cây phượng tây nhiều. Các cụ gọi đây là cây vông tây, lá thường xanh, toả bóng khắp sân trường. Tôi không còn nhớ hoa nó ra sao nhưng không đúng là cây ngô đồng (梧 桐)ở Huế. Quả nó khô rụng xuống có khoảng 6 kía trông như một cái bánh xe, nở ra các hạt to bằng đồng xu, chúng tôi thường dùng để đánh đáo. Những cái nửa múi vỏ của nó có những cái gai cứng đen, trông như mỏ chim vẹt, chúng tôi thường dùng để thi chọi, gần như chọi nhị hoa phượng ( chưa nở).Phải bẻ thật mạnh thì nó mới gãy.

  3. Tri Ngộ viết:

    có bài về cây ngô đồng trong link sau:
    http://netcodo.com.vn/chuyende/2005/06/89073/

  4. Phùng Tường Vân viết:

    Còn Cây Vông Này, Chắc Là Cây Vông Cộng Sản .

    Tôi nghe nói đã từng có một thứ cỏ mà sự sinh sôi nẩy nở của nó có nguyên nhân xa gần với hoạt động của Đảng Cộng Sản ở xứ ta, nên được dân địa phương gọi là “cỏ cộng sản”; nay nhân một câu chuyện quê hương, Đỗ Tiên Sinh kể chuyện ngôi tổ đình của dòng họ mình, có nhắc đến một cây vông, nhưng xem “hình tích” mà Đỗ Quân mô tả thì chưa vị nào quyết được nó là loại vông nào, tôi xin thuật một giai thoại về một loại vông mà hoàn cảnh của câu chuyện liên quan sao mà nó giống hệt cái lối phô trương, lố bịch, dốt nát của các quan cộng sản ngày nay, nên nghĩ nó chắc là “Cây Vông Cộng Sản” quá !

    “Vịnh cây vông
    Ra làm quan, Nguyễn Công Trứ (1778-1858) rất bực mình, khó chịu và khinh bỉ những kẻ bất tài, vô hạnh mà ăn trên ngồi trốc, chỉ biết một mục đích là vinh thân phì gia, nạo vét túi lương dân và ăn cắp công sản. Ông cũng ghét độc những thói xu nịnh, lòn cúi của những quan chức thuộc hạ. Một lần, trong triều có viên quan đại thần mở tiệc mừng con thi đỗ cử nhân. Tiệc đông đủ quan khách, và cả những văn nhân tài tử. Tình cờ trước sân nhà viên quan, có một cây vông trổ hoa. Có người nêu ý là làm thơ vịnh cây vông cho vui. Nêu như vậy là dụng tâm tán tụng chủ nhân. Cây trổ hoa thì khác gì người thi đỗ. Trời đã ban lộc, ban phúc cho quan đại thần. Họ ép Nguyễn Công Trứ làm theo đầu đề ấy. Ông không từ chối mà ứng khẩu ngay:

    Biền, nam, khởi tử (*) chẳng vun trồng
    Cao lớn làm chi những thứ vông
    Tuổi tác càng già, già xốp xáp
    Ruột gan không thấy thấy gai chông
    Ra tài lương đống không nên mặt
    Dựa chốn phiên ly chút đỡ lòng
    Đã biết nòi nào thì giống nấy
    Khen cho rứa cũng trổ ra bông!

    Bài thơ như tát vào mặt chủ nhân. Quan đại thần tím mặt không biết xử trí thế nào. Quan khách ngồi quanh đó cũng sượng sùng.”
    __________
    (*)Những giống cây quý.

  5. Trung Nu Hoang viết:

    @ Dinh Le (DL) 16/05/2010:
    ..”Cây vông này người ta còn gọi là vông nem tức là người ta lấy lá của nó để gói nem.
    Cây vông mọc hoang ngoài đồng thì được gọi là cây vông đồng, cây nhỏ và có gai mọc dày hơn vông nhà…” (quote).
    Vông NEM cây nhỏ, lá mỏng, mềm thường dùng gói nem, chứ không thể là cây vông tác giả mô tả trong bài viết .. “” một cây vông to, dễ thường đến nay đã gần trăm tuổi. Thân nó đầy gai, thân xốp, gỗ không có giá trị làm đồ mộc hay đun nấu gì.”” . Theo tôi, đó chính là cây vông ĐỒNG. Hình như bác DL đã nói ngược lại giữa 2 cây này.
    Tôi cũng nghe / biết trong văn học Trung Hoa, cây đó được gọi là “ngô đồng” như bác DL đã nói trong PH với 2 câu thơ khá nổi tiếng: ” Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu”.

  6. Dinh Le viết:

    Cây vông này người ta còn gọi là vông nem tức là người ta lấy lá của nó để gói nem.
    Cây vông mọc hoang ngoài đồng thì được gọi là cây vông đồng, cây nhỏ và có gai mọc dày hơn vông nhà.

    Tôi có nghe nói cây vông ở Việt Nam tức là cây ngô đồng ở bên Tàu : “Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu”, không biết có đúng không?

    Giới bình dân ở Miền Nam có câu ca hơi thô tục một chút nhưng xin dẫn ra đây vì có liên quan tới cây vông: “Má ơi con đà lớn, Má cho con lấy chồng, Nếu không con tự túc, Gốc vông con cứ cà”.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>