talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn – Trao đổi thêm với anh Mai Thái Lĩnh về Ải Nam Quan

11/05/2010 | 1:00 sáng | 70 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung
Thẻ:

Sau bài «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh Mai Thái Lĩnh đăng trên talawas ngày 12 tháng 3 năm 2010, tôi có viết bài «Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết ‘Ải Nam Quan trong hiện tại», đăng trên talawas ngày 22-3-2010.

Tiếp theo, tác giả Mai Thái Lĩnh có bài «Trao đổi ý kiến về Ải Nam Quan trong hiện tại», đăng trên talawas ngày 14 tháng 4 năm 2010, phản biện lại một số ý kiến của tôi. Để tránh những ngộ nhận của độc giả, tôi viết thêm trao đổi này.

__________________

1.Về cột mốc 19

Anh Mai Thái Lĩnh viết rằng: ta thấy cột mốc đó phải nằm trên đỉnh của quả đồi ở phía đông của Ải Nam Quan».

Không hiểu anh đặt điểm qui chiếu ở nơi nào để có kết luận như vậy? Thử lấy cổng Nam Quan làm điểm chuẩn, bản đồ SGI làm bản đồ qui chiếu, ta thấy:

Cột mốc 19 ở về phía đông cột 18. Khoảng cách từ mốc 18 đến mốc 19 tương đương với khoảng cách từ mốc 18 đến cổng Nam Quan (khoảng 100m).

Cột mốc 19 cắm trên đỉnh núi phía đông nam của cổng Nam Quan.

Theo bản đồ 249C:

Cột 19 ở phía đông mốc «zéro», phía đông nam thiên nam của cổng Nam Quan, tức ở lệch xa hơn nữa về phía nam. (Việc này cho thấy cột 19 trên bản đồ 249C đã bị dời đi về phía nam.)

Trái núi nào hiện nay ở phía đông nam cổng Nam Quan và có một công sự của Trung Quốc trên đỉnh? Nếu có một trái núi như vậy thì cột mốc số 19 phải được cắm trên đỉnh núi đó. Với những tấm hình vùng Nam Quan đã công bố trên internet, tôi chỉ thấy tấm hình này là hội đủ hai yếu tố đó:

Nhưng nếu cổng Nam Quan đã thay đổi chỗ (sau những lần xây dựng lại), đây là giả thuyết mà tôi đã đặt ra trong các bài viết từ những năm 2002-2003. Giả sử cổng này xây tại cột mốc 18 cũ. Như thế cột mốc 19 sẽ ở về phía đông của cổng Nam Quan. Nhưngviệc đầu tiên phải chứng minh là cổng Nam Quan đã dời chỗ (cho đến mốc 18) với những bằng chứng khoa học, thuyết phục. Đến giờ phút này vẫn chưa ai làm được việc đó.

2. Về tòa nhà kiểu Pháp

Anh Mai Thái Lĩnh viết: « Tuy nhiên, trong bài viết, tôi cũng không hề kết luận rằng hai tòa nhà này là một. Hơn thế nữa, tôi không đưa ra kết luận, mà chỉ đưa ra một cách lý giải khác để thay cho cách lý giải của phía Trung Quốc. Xin trích lại nguyên văn: “… chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích tương đối hợp lý hơn về nguồn gốc của Tòa nhà kiểu Pháp: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940…»

Anh nói là trích «nguyên văn», nhưng thực ra trích như thế không thể gọi là nguyên văn được.

Nguyên văn phải là thế này: «So sánh hai bức ảnh nói trên, chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích tương đối hợp lý hơn về nguồn gốc của Tòa nhà kiểu Pháp: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940…»

Thiếu một mệnh đề quan trọng:  So sánh hai bức ảnh nói trên».

Anh cho rằng anh «không hề kết luận rằng hai tòa nhà này là một», vậy anh dẫn hai tấm hình này ra và so sánh chúng để làm gì? Và câu, phía sau dấu hai chấm: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940… (thiếu khúc này: Sau này, khi xây lại Hữu Nghị Quan, phía Trung Quốc đã dời cửa quan đến một vị trí khác trên lãnh thổ Việt Nam, vì thế tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc) là gì nếu không phải là một kết luận?

Theo tôi mọi so sánh đều có mục đích dẫn tới một kết luận. Trong phần 5 ở dưới, ta sẽ thấy rõ rệt hơn.

Anh Mai Thái Lĩnh viết tiếp: «Điều cần nhấn mạnh là: cho dù hai tòa nhà đó không phải là một, lập luận tôi nêu trên đây vẫn có thể đứng vững

Lập luận «tòa nhà kiểu Pháp là của Pháp, xây trên đất Việt… sau này phía TQ dời cửa quan đến một vị trí khác nên tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc» không hề đứng vững. Đâu phải nhà kiểu Pháp thì nhà đó của Pháp? Tôi đã viết trong bài góp ý trước, không tiện nhắc lại.

Nhưng điều quan trọng là anh Mai Thái Lĩnh nhìn nhận hai tòa nhà không phải là một. Điều này làm cho lập luận của anh bị sụp đổ, vì nó là bằng chứng nền tảng.

Tôi đã viết mở đầu như thế này trong bài góp ý: «Bài viết mang tựa đề «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh Mai Thái Lĩnh vừa đăng trên talawas thật là công phu, kèm nhiều hình ảnh, sự kiện lịch sử rất mới. Theo thiển ý thì các dữ kiện lịch sử sẽ quan trọng, vì chưa có sách vở nào ghi lại, nếu chúng được xác minh thật sự là những « dữ kiện lịch sử». Với tinh thần ham học, cầu tiến, tôi ghi lại ở đây vài ý kiến chủ quan đặt lại vấn đề về các chi tiết lịch sử này, đồng thời đóng góp thêm một vài chi tiết về biên giới Việt-Trung, hy vọng được anh Mai Thái Lĩnh và độc giả đón nhận như là một cái nhìn từ góc cạnh khác.»

Dữ kiện «rất giống nhau» của hai «tòa nhà» là một trong các «chi tiết lịch sử» mà tôi muốn đặt lại vấn đề. Anh Mai Thái Lĩnh đã nhìn nhận «hai tòa nhà đó không phải là một», vấn đề đối với tôi như vậy đã sáng tỏ.

3. Về địa điểm của tòa nhà trong tấm ảnh (quân Pháp đầu hành quân Nhật)

Theo tôi thì tấm hình chụp tại Lạng Sơn vì hai lý do:

– Nhìn kỹ tấm hình, đàng xa, phía sau tòa nhà là một con sông. Lạng Sơn ở kế cận một con sông, bên bở tả ngạn, đó là sông Kỳ Cùng (đối diện với Kỳ Lừa ở bờ hữu ngạn).

– Lịch sử chiến tranh Pháp-Nhật tại Việt Nam chỉ có hai lần. Lần thứ nhứt vào tháng 9 năm 1940, Pháp đầu hàng (chỉ ở) tại Lạng Sơn (và không còn nơi nào khác). Lần thứ nhì vào tháng 3 năm 1945, tại Lạng Sơn quân Pháp chết hơn 1.000 người, không có đầu hàng.

Anh Mai Thái Lĩnh cho rằng «tòa nhà đó vẫn có thể hiện diện ngay tại Đồng Đăng».

Theo tôi thì không. Tại Đồng Đăng không có con sông nào và không hề có việc quân Pháp đầu hàng quân Nhật tại đây.

4. Về cái gọi là «Liên quân Pháp-Việt (Trường Sĩ quan Đồng Đăng)»

Anh Mai Thái Lĩnh viết về việc này như sau: «Về việc có hay không có “trường sĩ quan Đồng Đăng”, tôi xin dành câu trả lời cho tác giả Chân Mây hoặc những người am hiểu về tình hình quân sự dưới thời Pháp thuộc.»

Thì ra anh cũng không biết là «Trường Sĩ quan Đồng Đăng» có hay không. Như đã ghi lại, lý do tôi viết bài góp ý nhằm đặt lại vấn đề về các chi tiết lịch sử dẫn trong bài của anh, sự hiện hữu của «Trường Sĩ quan Đồng Đăng» là một chi tiết. Tôi viết trong bài góp ý như sau: «Để dữ kiện này thành một dữ kiện có giá trị lịch sử cũng như kết luận trong bài có giá trị thì anh Mai Thái Lĩnh cần phải đưa các dữ kiện xác minh việc này.»

Anh đã không đưa được dữ kiện xác minh việc này. Anh lên tiếng kêu cứu tác giả Chân Mây và «những người am hiểu». Theo tôi, việc kiểm chứng tính khả tín của các dữ kiện là bổn phận của tác giả viết bài biên khảo chứ không phải công việc của người nào khác.

5. Về «Liên quân Pháp-Việt (Trường Sĩ quan Đồng Đăng)  – Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật»

Anh Mai Thái Lĩnh viết: “Bây giờ chúng ta tiếp tục xem xét hai tấm ảnh do Chân Mây sưu tầm. Tác giả chú thích ảnh 30 như sau: “Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng). Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)”. Tòa nhà này rõ ràng là của quân đội Pháp. Ảnh chụp cho thấy tù binh người Pháp người nằm kẻ ngồi trong tư thế bại trận. Những người lính đứng gác là người Nhật. Điều rất dễ nhận ra là hình dáng của tòa nhà này rất giống với Tòa nhà Pháp Quốc nằm ở phía sau Hữu Nghị Quan ngày nay.”

Ở đây anh «tiếp tục xét», tức xét đi xét lại nhiều lần, hai tòa nhà trong hai tấm hình (đã nói ở phần 2) và đưa ra kết luận: «Điều rất dễ nhận ra là hình dáng của tòa nhà này rất giống với Tòa nhà Pháp Quốc nằm ở phía sau Hữu Nghị Quan ngày nay».

Từ đó anh đưa kết luận «liên quan Pháp Việt bảo vệ ải Nam Quan».

Đáng tiếc là bằng chứng của anh đưa ra (hai tòa nhà giống nhau) thì đã không sử dụng được. Nhưng anh vẫn cố vớt vát: «nếu bỏ cụm từ “trường Sĩ quan Đồng Đăng” thì câu chú thích sau đây: “Liên quân Pháp-Việt – Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật” vẫn hoàn toàn có ý nghĩa. »

Tôi thấy không có ý nghĩa gì cả.

Quân Pháp-Việt không hề «bảo vệ ải Nam Quan», vì  Nam Quan là của người Hoa, xây trên đất Trung Hoa. Tôi có đầy đủ bằng chứng (xem phần 6) chứng minh quân Pháp không hề đồn trú tại Nam Quan. Quân Pháp từ cảnh sát biên giới, quân đội, quan thuế cho đến đội bảo vệ đường xe lửa… tất cả đều đóng tại Đồng Đăng, cách cổng Nam Quan khoảng 2,5km.

6. Tôi có viết như sau: «Đồng Đăng là một huyện nhỏ, nếu không nói là một làng nhỏ gần biên giới, cách Nam Quan 2km5. Dưới thời Pháp thuộc, Đồng Đăng có một đồn binh gồm vài chục lính biên phòng. Đây là một vùng còn rất nghèo của Việt Nam, huê lợi chính ngày xưa là cây hồi (đinh hương). Dân số phần lớn là người dân tộc gốc Tày, Nùng. (…) Người ta không thể dựng một trường đào tạo sĩ quan, những người chỉ huy tương lai, ở một vùng biên giới cực bắc, đèo heo hút gió, việc tiếp liệu khó khăn, thường xuyên bị thổ phỉ quấy nhiễu

Anh Mai Thái Lĩnh phê bình tôi như sau:

«Đây là một suy luận hoàn toàn mang tính chủ quan. Mặc dù Đồng Đăng chỉ là một làng nhỏ, nhưng ở đó không phải chỉ có “vài chục lính biên phòng”. Làng Đồng Đăng thì nhỏ, nhưng ở đó người Pháp vẫn bố trí một (hay nhiều) trại lính (casernes) rất lớn. Chỉ cần nhìn vào tấm bưu ảnh số 791 của P. Dieulefils (ảnh 10) là có thể thấy điều đó. Cần chú ý là trên bưu thiếp ghi casernes (những trại lính) chứ không phải caserne (một trại lính)».

Tôi nghĩ rằng, trước khi phê bình như thế thì anh cũng cần tìm hiểu các «casernes» trong các tấm hình đó dựng lên từ bao giờ và nhằm vào các mục đích gì? Nếu chỉ dựa vào các trại lính trong tấm hình rồi hình dung ra quân số của trại lính thì tôi nghĩ anh kết luận hơi sớm. Tấm hình không ghi ngày chụp hình, như thế cũng thiếu một dữ kiện quan trọng.

Đoạn tôi viết ở trên tôi đã tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Về mô tả kinh tế nhân văn Đồng Đăng, dẫn từ nguồn: De Ha Noi à la frontière du Kouang-Si, tháng 9 năm 1881, phụ chú thêm tháng 5 năm 1884, của ông Aumoitte, hồ sơ CAOM, mã số Br 1156C.

Từ hồ sơ này tôi lấy được tấm hình vẽ cổng Nam Quan thời còn là bằng gỗ, lúc chưa bị giật sập, đã đăng ở đây:

Về tổ chức quân sự tại Bắc Kỳ vào thời kỳ đầu Pháp thuộc, có nhiều tài liệu viết về việc này, ở đây tôi sử dụng cuốn Au Tonkin et sur la frontière du Qwang Si của Commandant Famin, in năm 1894. Theo mô tả, xứ Bắc Kỳ được chia làm 5 đạo quân binh (territoire militaire), theo nghị định ngày 20-8-1891, theo hình dưới đây:

Vùng Cao Bằng, Lạng Sơn và một phần Tuyên Quang, Thái Nguyên thuộc đạo quân binh thứ hai (2e territoire militaire).

(Đến tháng 8 năm 1896 thì Lạng Sơn thuộc đạo quân binh thứ nhứt gồm Lạng Sơn, Móng Cái và Yên Thế. Đến tháng 6 năm 1905 thì việc bình định đã xong, chế độ đạo quân binh bãi bỏ, Lạng Sơn thuộc quyền hành chánh của dân sự. Nhưng đến tháng 7 năm 1940 thì chế độ đạo quân binh được tái lập tại Lạng Sơn, do tình hình chiến sự. Chế độ đạo quân binh tương tự chế độ quân quản sau 1975 ở miền Nam Việt Nam).

Việc xây dựng các trại lính «casernes»: trang 79, các trại quân to lớn được xây cất ở Đồng Đăng (sau đó là Na Cham) nhằm mục đích «răn đe» quân cướp (kể cả triều đình nhà Thanh), cho những người này biết rằng quân Pháp đã kiểm soát và đóng quân đông đảo tại các nơi đây, nhưng cũng nhằm vào việc trấn an dân chúng trong vùng. Không thấy ghi xây dựng các trại lính chính xác năm nào nhưng có lẽ vào thời đại tá Galliéni chỉ huy đạo đệ nhị quân binh, tức khoảng 1893-1894. Như thế việc xây dựng các trại binh to lớn cũng nhằm mục đích «nghi binh», hay để «thị oai» kẻ địch.

Bản đồ đánh dấu các đồn binh trên vùng biên giới (organisation défensive).

Về quân số: Các đồn binh nhỏ được xây dựng ngay trên đường biên giới, thường đối diện với đồn binh của Thanh Triều, được ghi bằng dấu chấm đen trên bản đồ, gồm có từ 20 đến 25 lính cơ, mộ từ dân chúng trong vùng, thường là người Nùng hay Thổ (trang 97).  Quân Pháp thì chỉ đóng tại các đồn Đồng Đăng, Thanh Moi, Na Cham, Thất Khê, Quảng Yên, Mo Xat, Na Thông, Bac Lan… được ghi bằng chấm đỏ trên bản đồ, quân số từ một «poloton» đến một «compagnie», tức từ một chi đội đến một đại đội (trang 97). Một «poloton» là chi đội, có thể là một tiểu đội hay một trung đội.

Một cách tổng quát, quân số các đồn biên giới chỉ là «vài chục người» đến hơn một trăm người trong thời gian dưới chế độ đạo quân binh, tức thời chiến. Từ năm 1905 trở đi (cho đến 1940), chế độ đạo quân binh hủy bỏ, con số quân đồn trú tại các đồn biên giới càng thấp hơn nữa. Quân đội được thay thế bằng cảnh sát.

Về quân số quân đội đóng tại Đồng Đăng trong khoảng thời gian Thê chiến II : Trong một số tài liệu ở các trang web cựu chiến binh Pháp, lúc đụng độ với Nhật lần thứ nhứt (tháng 9-1940) quân số ở đây là khoảng 80 người. Lúc đụng độ lần thứ hai (tháng 3-1945) quân số gồm 150 người. Trong khi đó quân đội Pháp-Việt tại Lạng Sơn có khoảng 2.000 người. Do Thế chiến II, tình hình chiến sự nóng bỏng do Nhật đã tiến chiếm Hoa Nam và đang lăm le xứ Bắc Kỳ, các tỉnh biên giới chuyển sang chế độ «đạo quân binh – territoire militaire», do đó quân số đóng các đồn biên giới tăng nhiều hơn bình thường. Nhưng dầu vậy ở Đồng Đăng con số này cũng chỉ từ vài chục đến hơn một trăm người.

Như vậy khi tôi viết ở Đồng Đăng có «vài chục người lính» thì không hề đi xa sự thật, kể cả lúc tình hình chiến sự nóng bỏng nhất.

Riêng hai nơi Cao Bằng và Lạng Sơn (trang 98) thì có quân số được mô tả là «đủ để» đối phó các «biến cố». «Đủ» là bao nhiêu? Dĩ nhiên là tùy vào tình hình chiến sự. Lúc chiến tranh với Trung Hoa lần thứ nhứt, đạo quân của tướng Négrier phụ trách vùng Lạng Sơn là một lữ đoàn (brigade). Phụ trách vùng Tuyên Quang là đạo quân thứ hai, quân số một lữ đoàn, do tướng Brière de L’Isle chỉ huy.

Cũng theo Cdt Famin, khi xây dựng đường sắt thì có bổ sung thêm một lữ đoàn lưu động bảo vệ đường sắt, nhưng sau khi xây xong và việc bình định kết thúc thì đạo quân bảo vệ này cũng giải tán.(Việc xây dựng đường sắt chia làm 3 thời kỳ : Hà Nội-Lạng Sơn, Hải Phòng-Lạng Sơn và Hải Phòng-Côn Minh (Vân Nam). Đường xe lửa xây dựng thời kỳ này là Hà Nội-Lạng Sơn. Đường xe lửa Hải Phòng Vân Nam làm từ 1903 đến năm 1910, cần đến 64.000 công nhân, do đó cũng cần đến một đạo quân lưu động lớn để bảo vệ.

Về trạm quan thuế: (Trang 89) năm 1893, 3 trạm quan thuế được dựng lên Na Thông trên sông Bằng Giang (bên Trung Hoa là Thủy Khẩu), Pac Lam trên sông Kỳ Cùng (tức Bình Nhi) và Đồng Đăng. Không thấy trạm quan thuế tên Nam Quan.

Về cảnh sát biên giới: Theo điều 10 của điều luật « Cảnh Sát Biên Giới », các đồn biên giới được thành lập trên các cửa ải (khẩu) sau đây : Theo điều 10 của điều luật « Cảnh Sát Biên Giới », các đồn biên giới được thành lập trên các cửa ải (khẩu) sau đây : (Pháp-Trung Hoa) Móng Cái – Tong hing (Ðông Hưng), Than Puon – Na Luong, Hoành Mô – Lang Dong, Ban Co – Cao Tac, Chí Mã – Ải Điếm, Ðồng Ðăng – Nam Quan, Bình Nhi – Bình Nhi Quan, Tà Lung – Thủy Khẩu, Hà Lang – Ðông Quang, Trà Lĩnh – Binh Mang, Bảo Lạc – Pak Nam, Chang Poung – Tien Fong, Ðồng Văn – Tung Can, Pho Bong – Siao Tchas, Quan Ba – Pan Tze Hoa, Thanh Thủy – Bắc Bảo, Lao Tchay – Mường Tung, Xin Man – Mao Ping, Pha Long – Tong Song Ping, Lào Kay – Ho Kéou, Bát Xát – Pa Sat, Ba Nậm Cúm – Na Fa.

Cũng không có đồn cảnh sát biên giới Pháp tại Nam Quan.

Như thế, theo các dữ kiện trên đây, không hề có quân Pháp đóng tại Nam Quan, từ cảnh sát biên giới cho đến quan thuế hay quân đội. Không có quân đội Pháp-Việt đóng tại Nam Quan thì «liên quân Pháp-Việt» nào bảo vệ Nam Quan?

Tất cả nhân viên quan thuế, cảnh sát biên giới hay quân đội đều đóng tại Đồng Đăng.

Anh Mai Thái Lĩnh cho rằng lý lẽ của tôi là một suy luận hoàn toàn mang tính chủ quan. Thực tế những dữ kiện dẫn ra cho thấy những gì tôi viết đều dựa trên những tài liệu lịch sử có thật và kiểm chứng được.

7. Trong bài viết của tôi có ghi sai một chi tiết về ông Cam Nhữ Lai. Tôi ghi đúng năm, đúng triều vua, nhưng thay vì nhà Thanh tôi lại ghi nhà Minh, cám ơn anh Mai Thái Lĩnh đã nhắc việc này. Đúng là một sai lầm «ấu trĩ»!

Tôi rất đồng ý với anh Mai Thái Lĩnh về nhận định: «Nói chung, phần lớn các tài liệu về lịch sử của Trung Quốc hiện nay đều lẫn lộn thực hư, nhất là khi chúng được dùng để phục vụ cho mục tiêu chính trị, vì thế chúng ta phải cảnh giác, không thể tin hoàn toàn. Điều tôi muốn nhấn mạnh là: không những ghi nhiều điều bịa đặt trong các tấm bia bằng gỗ, đá, xi-măng ở Hữu Nghị Quan, phía Trung Quốc còn đưa lên mạng để tuyên truyền cho người Việt chúng ta». Đây mới chính là điều tôi muốn nói (mà tôi đã nhất mạnh trong phần kết luận của bài góp ý trước). Công việc của chúng ta là phải chứng minh rằng các tài liệu về lịch sử của Trung Quốc thì sai, bằng những bằng chứng khoa học, chứ không phải là thái độ đả phá bằng những «giả thuyết», hay những suy luận chủ quan, thiếu thực tế.

8. Về sự khả tín của các nguồn internet

Tôi thấy anh Mai Thái Lĩnh thường dẫn những nguồn tin internet. Mặc dầu anh đã cảnh giác «phía Trung Quốc còn đưa lên mạng để tuyên truyền cho người Việt chúng ta». Nhưng anh vẫn sử dụng và biện hộ cho sự khả tín của nó.

Trang nhà www.vn.sinoviet.com hay các trang khác mà anh Mai Thái Lĩnh đã dẫn, theo tôi thì ai cũng có thể lập ra một trang nhà có “chấm com” phía sau với cái tên miền giật gân như thế. Đâu phải lấy cái tên miền «sinoviet» như vậy rồi nó có được cái uy tín của hai nước Việt-Trung? Anh còn dẫn tên miền «ChinAsean». Tất cả đều không có ý nghĩa gì cả. Người ta có thể lấy nhiều tên miền hấp dẫn hơn. Quan trọng là cái nội dung của nó. Tôi đã vào trang nhà này và không thấy gì là đặc sắc.

Đối với tôi, những trang nhà có thể tin tưởng, hay có giá trị “tham khảo”,  là các trang mạng có “gov” ở phía sau hay các trang mạng đã có một quá trình hoạt động mà mọi người đều công nhận tính hàn lâm của nó.

Tôi cũng thấy anh Mai Thái Lĩnh trích dẫn một cách rất dễ dãi các dữ kiện chưa được kiểm chứng từ các bài viết khác. Bằng chứng là bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại».

Nhưng đây là quyết định của cá nhân. Anh Mai Thái Lĩnh có toàn quyền trích dẫn bất kỳ dữ kiện nào từ một nguồn bất kỳ nào.

8. Kết luận : vai trò trí thức nhằm hướng dẫn dư luận hay để dư luận hướng dẫn?

Động lực thúc đẩy tôi lên tiếng góp ý với anh Mai Thái Lĩnh trong bài vừa qua là vì trong bài của anh đã có một số kết luận về các vấn đề thuộc về lãnh thổ, một chủ đề trọng đại và tế nhị quan hệ đến cả hai dân tộc Việt-Trung. Trong khi đó các dữ kiện chứng minh của anh đưa ra đều sai, nếu không là không thể kiểm chứng được. Sau khi có góp ý của tôi đăng lên talawas, bài viết này anh Mai Thái Lĩnh có «điều chỉnh» lại, nhìn nhận bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh «chưa thể trở thành một công trình nghiên cứu khoa học mà chỉ có thể được coi như một bài viết thuộc thể loại báo chí». Anh đã nhận ra như thế thì tôi không còn gì để nói thêm và sẽ ngưng lại ở đây, từ nay sẽ không góp ý về bài viết này nữa.

Lời cuối tôi muốn đề cập là, với vai trò người cầm bút, ta có nhiệm vụ hướng dẫn dư luận hay để dư luận hướng dẫn ngòi bút của mình? Bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại» điển hình là một bài viết bị dư luận hướng dẫn. Các chi tiết «rất giống nhau» của hai «tòa nhà», cái sự việc gọi là «liên minh Pháp Việt bảo vệ Nam Quan», cái gọi là «Trường Sĩ quan Đồng Đăng»… được anh Mai Thái Lĩnh trích dẫn từ những nguồn không kiểm chứng được. Cho dầu các tin tức này rất «giật gân», ăn khách, nhưng đều chỉ là tin đồn, hoàn toàn không đúng sự thật. Một người thận trọng, khi sử dụng những nguồn tin của «dư luận» như thế đều phải kiểm chứng lại.

Người trí thức có thể có một thái độ riêng, tức cái «bản sắc» của mình, trong việc hướng dẫn «dư luận». Nhưng khi người trí thức bị chi phối bởi các «tin đồn», sử dụng các tin này mà một cách máy móc không kiểm chứng, thì người trí thức đã bị dư luận hướng dẫn. Bằng không, người trí thức đã bỏ áo trí thức để dấn thân vào chính trị. Theo tôi, người trí thức không thể cùng lúc phục vụ cho một mục tiêu chính trị và bảo vệ chân lý.

15-4-2010

© 2010 Trương Nhân Tuấn

© 2010 talawas

Bình luận

70 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Trao đổi thêm với anh Mai Thái Lĩnh về Ải Nam Quan”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    Đôi Điều Nghĩ Về Một Thái Độ Làm Việc

    Có đến hơn một lần, được đọc những bài viết công phu của các ông Trương Nhân Tuấn, Mai Thái Lĩnh chỉ riêng về truyện Ải Nam Quan, tôi thực tâm tỏ lòng ngưỡng mộ, thán phục và không còn điều gì mong mỏi hơn là được thấy các ông giữ mãi được tấm lòng ấy đối với non nước mà thu hoạch nhiều hơn cho những mùa màng khó nhọc ấy, đến bài viết này của ông Trương với những họa đồ minh họa ngày càng rõ ràng hơn, lòng lại càng thấy mừng hơn, nhưng quả là có chỗ phải khựng lại, khi thấy ông có lẽ để cho sự say sưa khám phá của mình, hoặc là lòng nóng nảy thấy kết quả chưa xứng với tầm mong đợi ở mình, ở người cho nên quả là có những dụng ngữ, câu văn vô tình có vẻ như quá khắc nghiệt, khiến nhiều người như thấy tâm công chính bị xúc phạm mà phải lên tiếng, tôi có vài câu nhẹ nhàng nhắc ông cũng là ở tâm trạng ấy.

    Chúng ta có những khó khăn, ai cũng biết thế. Người láng giềng khổng lồ ở trên đầu thì cực kỳ thâm độc, bất trắc và dã tâm bành trướng của họ là hiểu được, cái logic chiến lược cho sự sống còn của họ là như vậy, còn kẻ cầm quyền trong nước thì từ những sai lầm, nhờ vả to tát trong dĩ vãng để quyết thắng và đã thắng trong cuộc chiến tương tàn bây giờ càng lệ thuộc, hèn mạt hơn; việc nước, việc biên giới, việc lãnh thổ, lãnh hải mà cứ muốn dấu nhẹm nhân dân như mèo dấu cứt, nói năng thì ngập ngọng, bất nhất, không hề có một chiến lược ứng biến nào mà hoàn toàn để bị động rồi bào chữa nhảm nhí, thật khổ tâm và lo lắng vô hạn vào lúc này mà có những kẻ cầm quyền như thế. Các ông tự dấn thân làm cái công việc đáng ra ít nhất phải là có một tổ chức tối thiểu, có một ngân khoản tối thiểu, một mạng lưới phụ trợ tối thiểu…Tất cả dều không mà vẫn kiên nhẫn cặm cụi đào tìm, minh chứng. Kẻ ở trong nước như ông Lĩnh thì lại còn phải đối phó với ngay chính quyền trong nước, sự lui tới đi lại đâu có dễ dàng gì, khó thật, gian nan thật. Cách đây vài năm tôi cũng đã có dịp đến gần sát cái cửa ải lịch sử ấy của dân tộc, đứng ngay ở cái căn nhà có một hàng cây trạng nguyên hoa đỏ (poinsetta) nhìn sang đồn kiểm soát biên giới, lòng bồi hồi nhìn núi đồi trùng điệp, có biết gì mà lần, cho nên ngày nay đọc những tìm tòi của hai vị lòng tôi khâm phục, biết ơn lắm. Dài dòng như vậy để chỉ muốn thưa với hai vị rằng, xin hai vị trong mọi hoàn cảnh giữ được cái tâm quân tử trong nhất cử nhất động như Khổng Tử nói ngắn nhưng đúng là chân lý, đó là HÒA NHI BẤT ĐỒNG ,chúng ta có thể và đôi khi cũng cần nữa có những điểm bất đồng nhưng luôn luôn điềm tĩnh, hòa nhã. Cái khám phá của người này bổ túc cho cái thiếu sót của người khác, cứ như vậy chúng ta tiết kiệm được bao nhiêu lời lẽ. Xin cũng được thưa đôi lời với những vị góp ý này khác, tôi tôn trọng tất cả qúy vị, nhưng chỉ xin quý vị đừng để cho những lý sự vụn vặt, sự tức khí…chẳng hạn xen vào câu chuyện làm mất hòa khí chung, tôi thực tình tiếc lắm. Hãy nhìn những kẻ răm rắp di “bên lề phải”, bọn chúng nhất nhất là cái phường mà Nho gia gọi là “Đồng Nhi Bất Hòa” đấy, chúng không mong gì nhìn thấy chúng ta như thế. Tôi viết những hàng này, lòng thì lo buồn nhưng tâm thì thành thật, mong được đọc và hiểu cho như vậy .

  2. LBS viết:

    Một bài viết của tác giả MTL dù có đăng lại ở nhiều nơi nhưng nội dung giống nhau, xem như chỉ có một bài. Đối với bài của anh cũng thế, nhiều diễn đàn và trang blog khác cũng đăng lại, không ai đặt thành vấn đề. Riêng đối với bài phản biện này, tác giả MTL chưa có ý kiến mà anh lại comment hơi nhiều cho một bài viết vốn đã khá dài.

    Tôi nhận xét anh “giành diễn đàn” (giành chứ không phải là dành) là nói riêng diễn đàn talawas. Anh vừa là tác giả, vừa giành lấy quyền gửi comment, có lúc anh lại gửi comment tới tấp. Đành rằng đây là quyền của anh, nhưng sử dụng quyền nhiều quá có thể thành lạm quyền. Với cái kiểu này, giả dụ (đây là tôi giả dụ thôi) nếu anh muốn “dập” một nhà dân chủ hay bất đồng chính kiến nào đó trong nước, tôi e là người đó sẽ không chịu nổi. Vì các vị đó không sẵn thì giờ, lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc dùng Internet, muốn gửi một bài hay một comment lọt qua tường lửa đâu phải chuyện dễ dàng? Theo tôi, anh là tác giả bài chủ thì cứ đợi độc giả comment một loạt, sau đó anh trả lời bằng một bài “tổng hợp” thì thuận lý hơn.

    Riêng trong bài này, dường như anh muốn tự biện hộ về chuyện gì đó – giữa “làm chính trị” và “làm người trí thức”, cho nên anh viết không được rõ ràng, mới khiến nhiều người phản ứng. Muốn vậy thì anh viết hẳn một bài chuyên về vấn đề đó, sao lại “mượn” tác giả MTL – người mới bị Đảng và Nhà nước chiếu cố tại phi trường hồi năm ngoái, để bày tỏ quan điểm, kiếm cách biện hộ cho chính mình?

  3. Hưng Quốc viết:

    Bạn Trương Nhân Tuấn thật vui tính, trong bài bạn dịch “territoire militaire” là “đạo QUÂN binh” rồi bây giờ trưng ra một “tài liệu” dịch cụm từ đó là “đạo QUAN binh” để hòng chứng minh mình dịch “chuẩn” sao? Có lẽ bạn đang nhập nhèm đánh lận QUÂN/QUAN đen rồi đấy.

    BTW, ” « Từ Điện Biên Phủ đến Genève » sử gia Chính Đạo (Vũ Ngự Chiêu) ” có nguồn gốc từ đâu vậy, bạn có sách thì xin bạn cho một “pô” ảnh làm chứng được không. Tôi rất ngại những trường hợp như “anh Mai Thái Lĩnh thường dẫn những nguồn tin internet. Mặc dầu anh đã cảnh giác «phía Trung Quốc còn đưa lên mạng để tuyên truyền cho người Việt chúng ta». Nhưng anh vẫn sử dụng và biện hộ cho sự khả tín của nó.”

    Vậy là tôi lại thêm một câu hỏi, mong được hồi đáp “chi tiết” như bạn đã hứa. Không dám cảm ơn trước vì chưa chắc bạn đã giả nhời. (Don’t let me down!)

  4. Hưng Quốc viết:

    Bạn Trương Nhân Tuấn,

    1. Tôi cứ nghĩ rằng cá nhân tôi chỉ viết những gì mà mình đã hiểu “hòm hòm” còn những gì “hiểu biết rất ít” thì tôi cũng hết sức “thưa thớt”, song nếu bạn thấy tôi “hiểu biết rất ít” ở điểm nào trong phản hồi vừa rồi xin được chỉ giúp.

    2. Bạn nói ở đây có mùi “máu tanh” xin cho hỏi máu ở đâu, của ai đã đổ ra? Hay bạn là “chủ lò mổ” chăng nên nhìn đâu cũng thấy “máu”? Tôi cứ tưởng “người trí thức” thì lời nói phải “nhã” hơn “đồ tể” chớ. (Nói đến đây tôi bất chợt lại rùng mình với những câu chuyện “máu me” của các nhân vật đặc biệt là anh Tám “giò” trong “Trư cuồng” của Nguyễn Xuân Khánh.)

    3. Bạn nói tôi “đánh hôi”, xin hỏi ai đã đánh ai, vì nếu đã là “đánh hôi” thì chỉ là người đến sau. Vả lại, “góp ý” (bạn ngó lại cái panel Phản hồi mới nhất của độc giả” xem có đúng là “Hưng Quốc góp ý về..” hay là “Hưng Quốc ghé vào đánh hôi về..”) thì liệu có là “đánh” không?

    4. Bạn nói tôi “ăn ké” là ra làm sao? Có gì để ăn, và ai đã ăn? Vì “ăn ké” thì hẳn không phải là “ăn” đầu tiên rồi.

    5. Bạn ngỏ ý sẽ trả lời tôi từng chi tiết một, tôi rất lấy làm vui vì sự nồng nhiệt của bạn (giá như lúc nào bạn cũng như thế này). Mong bạn giả lời tôi 4 điểm nêu trên, nếu bạn nói sai về tôi thì bạn nợ tôi lời xin lỗi (tôi cũng sẵn sàng xin lỗi bạn nếu tôi nói sai).

  5. Trương Nhân Tuấn viết:

    Trong bài « Từ Điện Biên Phủ đến Genève » sử gia Chính Đạo (Vũ Ngự Chiêu) có sử dụng cụm từ « đạo quan binh » để dịch « territoire militaire » : « Năm 1886, vua Hàm Nghi phong cho Đèo Văn Chương (tức Trí), Tri phủ Điện Biên, làm Tuyên phủ sứ, vì có công kháng chiến chống Pháp. Phái đoàn Auguste Pavie Pháp đã đến đây vào năm 1887, nhưng phải tới đầu năm 1888 mới tìm cách tiếp xúc được với Đèo Văn Trí, cố thuyết phục Trí bỏ rơi phong trào kháng Pháp của Hàm Nghi. Nhưng phải tới chuyến đi thứ hai vào vùng 16 châu Thái từ tháng 3-1888 tới tháng 1-1889, Pavie mới thu phục được các tù trưởng thiểu số chấp nhận sự bảo hộ của Pháp từ năm 1890. Năm 1891, đặt vào Đạo quan binh thứ tư (4ème territoire militaire). Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đặt tại đây một viên chức hành chính, lo việc sản xuất và vận chuyển thuốc phiện. »

  6. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi viết sai chữ “militaire”, chỉ có 1 chữ “l”. Trân trọng cáo lỗi.

  7. Trương Nhân Tuấn viết:

    Về góp ý với anh Hoàng Trường Sa về cách dịch « territoire millitaire ». Tôi có dự định đăng bài viết về tổ chức quân sự của Pháp và Trung Hoa trên vùng biên giới Việt Trung vào thời Pháp thuộc do đó không nhắc đến trong các góp ý ở bài này. Tôi dùng chữ « đạo quân binh » để chỉ « territoire millitaire » vì còn các danh từ như sau : « région millitaire » và « cercle millitaire ». Nếu dùng « quân khu » để chỉ « territoire millitaire » thì « région millitaire » sẽ dịch làm sao ? Và « cercle millitaire » thì dịch thế nào ?
    Tôi biết anh Hoàng Trường Sa la một trong những người ở hải ngoại có quan tâm thực sự đến tình hình đất nước và có một kiến thức rất lớn về các vấn đề mà anh đã góp ý. Tất cả các góp ý của anh tôi đều trân trọng ghi nhận. Tôi không hề có ý định bỏ qua các việc này như có người đã nói.
    Về góp ý của bác Phùng Tường Vân, tôi hề không có ý so sánh vụ « Lê Văn Tám » và các bằng chứng sai của anh Mai Thái Lĩnh viết trong bài. Tôi viết ra việc này vì góp ý của bạn Trần Việt và bạn V. Quốc Uy. Bạn Trần Việt viết rằng : « Không hiểu ý nghĩa của từ “chính trị” và “chân lý” mà tác giả TNT định nói đến ở đây là gì? ». Bạn V. Quốc Uy viết rằng : « biên cương, hải đảo của ta đã bị Trung Quốc xâm lấn, nên càng nói được sự thực thì càng bảo vệ được Tổ quốc. Trường hợp này, mục tiêu CHÂN LÝ và mục tiêu CHÍNH TRỊ thống nhất với nhau ». Thí dụ « Lê Văn Tám » ở đây chỉ nhằm giải thích một cách đơn giản và cụ thể ý nghĩa « chính trị » và « chân lý ».
    Tôi cũng nói sơ qua về vấn đề « trí thức » cũng vì do bạn Trần Việt đặt vấn đề : « Kết luận này của tác giả TNT có thể gây hoang mang cho nhiều trí thức mới bắt đầu vượt được sự sợ hãi để quan tâm, can dự vào vấn đề chính trị nhằm bảo vệ đất nước và phản kháng chế độ chính trị độc đoán hiện thời ». Tôi cho rằng sẽ sai lầm nếu trí thức dấn thân vào chính trị (trong thời điểm hiện nay) mà hãy nhìn các thí dụ chuyển hóa sang dân chủ của các nước Châu Âu hay Đài Loan và Đại Hàn.
    Tuy nhiên, nếu việc sử dụng thí dụ « Lê Văn Tám » của tôi trong góp ý trước có làm các bạn phiền lòng thì đây là điều tôi không mong muốn. Tôi trân trọng cáo lỗi.
    Về góp ý của bạn LBS. Bạn nói là tôi « muốn giành diễn đàn! ». Trên Talawas, nếu tôi không lầm, không có điều lệ cấm bạn đọc viết lên các góp ý và trả lời các góp ý. Riêng về tác giả, việc trả lời không còn là « đặc ân » mà là một « quyền ». Tôi có thể sử dụng quyền này (hay không sử dụng quyền này) để trả lời các góp ý. Bạn cho rằng « Người bị phê bình (tác giả Mai Thái Lĩnh) chưa trả lời, sao đã vội có ý kiến? ». Thực ra bài viết này tôi đã gởi cho Talawas từ trung tuần tháng 4 năm 2010. Trong khoảng thời gian này Talawas có chủ đề « 30-4 ». Nhận thấy các góp ý của mình chỉ là các vấn đề « lặt vặt » do đó tôi viết thư làm phiền BBT Talawas lấy bài này ra khỏi lịch trình. Tuy nhiên, gần đây, bài viết của anh Mai Thái Lĩnh được đăng ở diễn đàn khác, do đó tôi có quyết định cho đăng lại bài viết này của tôi nhằm để rộng đường dư luận. Tôi thấy các bài viết của anh MTL phổ biến ở rất nhiều trang web của người Việt, ngoài Talawas. Riêng tôi thì chỉ đăng ở Talawas. Như thế bạn LBS nói tôi « dành diễn đàn » thì cũng hơi oan.
    Riêng về góp ý của bạn Hưng Quốc : tôi thấy bạn hiểu biết rất ít về các vấn đề mà bạn đang nói đến. Vừa không biết chuyện, nhưng lại thích « hóng hớt », nghe có mùi « máu tanh » là ghé vào đánh hôi, « ăn ké ». Phiền bạn đọc lại cho kỹ, hiểu ý người ta viết cái gì, sau đó lên viết góp ý. Tôi sẽ trả lời bạn từng chi tiết một.

  8. Hưng Quốc viết:

    Ông Trương Nhân Tuấn có vẻ rất đề cao trách nhiệm, các phẩm chất đáng có của người của người “trí thức” tôi thấy rất đáng khâm phục nhưng tôi thầm nghĩ “trí thức” phải là người biết nhận cái sai, biết phục thiện thì mới (tạm) hoàn hảo. Hoàng Trường Sa góp ý với ông Tuấn về việc dịch “territoire militaire” thành “đạo quân binh” (tôi thấy nó chả có ý nghĩa gì cả) vậy mà ông không thấy trả lời gì về vấn đề này, chắc ông cho nó nhỏ tí, không đáng quan trọng nhưng tôi thì lại nghi ngờ về vốn tiếng Pháp của ông.

    Chắc hẳn ông đã quên biến câu truyện về hòn đảo Valencia và những luận điệu “gian dối” của ông mà nhiều độc giả đã phải (mất rất nhiều thời gian) để lên tiếng với ông (như Phạm Quang Tuấn, Dương Danh Huy..) nhưng ông cứ thấy sai thì lại mất hút (khó hiểu). Lần này cũng không ngoại lệ, ông lại mải phân trần về cái “tính hàn lâm”, “đặc tính trí thức” của mình mà “quên” mất đi những nhận xét negative về mình. Có vẻ như “có tài” thì nhất định phải “có tật”?

    Ông Tuấn cũng có vẻ rất thích các từ đao to búa lớn như “sự thật”, “chân lý”.. nhỉ, thậm chí lại còn “định nghĩa” cho nó nữa chớ. Tôi thì lại thấy mấy cái khái niệm đó nó thật ấm ớ và dớ dẩn. Cũng như chuyện đảo “chim ỉa”, mấy mảnh đất “chó ỉa” của nhà thờ, của dân có từ hàng bao nhiêu đời thế mà chính quyền CSVN cướp trắng giữa thanh thiên bạch nhật thì “chân lý” nó nằm ở đâu? Hay là cái chân lý “chim ỉa” thì cao hơn, chân lý hơn cái chân lý “chó ỉa”? Hay là cứ phải “sửa người” xong rồi mới “sửa ta”?

    Ông Tuấn liệt kê rất nhiều các hoạt động dân chủ với những đóng góp của họ “mờ nhạt”, “chưa thấy gì cụ thể” là một hành vi “trèo lên vai người khác để đứng cao hơn”. Hay ông nhất thiết phải trải qua tù đày, khủng bố, theo dõi, “mời lên làm việc”..thì mới hiểu được họ? Ông chỉ là một blogger bình thường trên mạng in-tơ-loét, những “công trình nghiên cứu” của ông tôi thấy cũng chưa có gì “rõ nét” và rõ ràng chưa thấy kết quả gì. Có người ngợi ca những vất vả nghiên cứu của ông, và tôi cũng “suýt” nữa làm như vậy nếu không bị chựng lại bởi sự nghi ngờ (và ngày càng được khẳng định) về những “nghiên cứu” của ông chỉ để tôn vinh “tính hàn lâm, tính trí thức” của mình chứ không có cái “tâm” về đất nước về dân tộc. Vì nếu có tâm với nhân dân và đất nước người ta phải bỏ rơi được cái tôi của mình cơ, đằng này ông đâu có chịu lùi lấy nửa bước?

    Với tôi, để có lợi cho nước cho dân thì chả có gì là không thể, kể cả dựng lên một hay cả ngàn “Lê Văn Tám” nữa. Ông đừng mang cái “có nhân cách, bảo vệ chân lý, bênh vực những điều chính đáng..nghĩa khí, quân tử tàu” ra mà “trọe” người (trong khi chính bản thân ông cũng đã thiếu thành thật và sự chân thành), xã hội loài người này, dù bất kể là ở đâu đều khắc nghiệt cả, và để “ăn người”, người ta có thể dùng mọi thủ đoạn.

    Là người Việt với nhau, nếu cùng chí hướng “tìm lại những gì đã mất” của non sông VN thì chúng ta cần đoàn kết, trung thực và thẳng thắn với nhau hơn, đó mới thực sự là khối sức mạnh, nếu không chúng ta chỉ có triệt tiêu lẫn nhau và “mất tiếp những gì chưa mất” mà thôi.

  9. Phùng Tường Vân viết:

    Sự Ngụy Tạo Khác Xa Sự Nhầm Lẫn

    Việc ông Trần Huy Liệu “chế” ra câu truyện “liệt sĩ” Lê Văn Tám là một trường hợp ngụy tạo vì một mục đích tuyên truyền rõ rệt nó khác rất xa với việc nhầm lẫn trong phạm vi nghiên cứu để đi tìm sự thật như sự nhầm lẫn – nếu có – của ông Mai Thái Lĩnh trong việc nhận định, “đọc” các họa đồ, những tấm ảnh cũ… nhằm làm một công việc cũng cao quí, cũng đáng cảm phục như công việc mà ông Trương Nhân Tuấn đã và đương làm là nhặt nhạnh những mảnh vụn của một lịch sử mù mờ hầu chứng minh đường biên giới nhập nhằng giữa Trung Hoa và Việt Nam. Trong trường hợp ông Mai Thái Lĩnh thì còn khó khăn hơn rất nhiều hoàn cảnh của ông Trương Nhân Tuấn, cho nên tôi cũng nghĩ rằng những nhận xét của ông (TNT) là khá khắt khe và nhất là không cận nhân tình vậy .

  10. LBS viết:

    Tôi thấy anh Trương Nhân Tuấn như muốn giành diễn đàn! Người bị anh phê bình (tác giả Mai Thái Lĩnh) chưa trả lời, sao anh đã vội có ý kiến?

    Hơn nữa, câu chuyện “đuốc sống Lê Văn Tám” mà anh nêu ra là sản phẩm của những người cộng sản, đem áp dụng vào trường hợp này e là không phù hợp. Có lẽ anh đem so sánh chuyện Lê Văn Tám với trường hợp nhà cầm quyền Trung Quốc bịa chuyện “Pháp Quốc Lầu được xây dựng từ thời vua Quang Tự” thì phù hợp hơn.

  11. Trương Nhân Tuấn viết:

    Cũng nên định nghĩa thế nào là « chân lý » và thế nào là một « mục tiêu chính trị » đồng thời cũng nên so sánh người trí thức và người làm chính trị để xem sự khác biệt cơ bản như thế nào.
    Thử lấy chuyện « bó đuốc sống Lê Văn Tám » làm thí dụ.
    http://congluan.vn/Item/VN/VanHoa/GS-Phan-Huy-Le:-Tra-lai-su-that-hinh-tuong-Le-Van-Tam/CD6A7BD38EF77E93/
    « Mục tiêu chính trị » là việc ông Trần Huy Liệu « dựng chuyện » Lê Văn Tám.
    « Chân lý » ở đây là vụ « Lê Văn Tám » không có thật. « Chân lý » ở đây đồng nghĩa với « sự thật ».
    Cuối đời, ông Trần Huy Liệu có nhắn nhủ, theo lời của GS Phan Huy Lê, nội dung tóm lược như sau : Vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết chuyện Lê Văn Tám, sau này đất nước yên ổn, các anh là các nhà sử học nói lại dùm tôi…
    Thái độ của ông Trần Huy Liệu lúc cuối đời có thể là hành vi « hối cãi » theo lối « trả lại sự thật cho lịch sử ». Nhưng thái độ của GS Phan Huy Lê là thái độ của một « trí thức ».
    Theo tôi, người trí thức là người có một vốn liếng hiểu biết nhất định, chuộng công bằng, lẻ phải ; có lòng can đảm, có lương tâm và đạo đức. Người trí thức như thế là người vừa có trí tuệ vừa có nhân cách, luôn quan tâm sâu sắc đến những vấn đề xã hội, sẵn sàng dấn thân bảo vệ chân lý, bênh vực những điều chính đáng, cho dầu việc này có thể làm nguy hại đến đời sống của họ. Trí thức không sợ đe dọa của thế lực hung bạo. Nhờ vậy các chế độ hung bạo lần hồi chuyển thành các chế độ có gương mặt nhân bản. Nét chung lịch sử chuyển hóa của các nước Châu Âu là do sự dấn thân của tầng lớp trí thức.
    Còn người làm chính trị, hiểu theo kinh nghiệm sách vở và bản thân, có thể là một người có sự hiểu biết nhất định về một số lãnh vực, đặc biệt về tâm lý và xã hội ; có thể họ rất can đảm, có lý tưởng, nhưng điều phân biệt (cách biệt) lớn lao họ với « trí thức » là người trí thức là một nguời có lương tâm và đạo đức. Người làm chính trị thì không. Để có thể đạt được mục tiêu chính trị, người làm chính trị có khả năng làm đủ mọi chuyện, kể cả chuyện tồi tệ nhất. Người trí thức thì không làm được như vậy.
    Một điều cũng cần nên nói về xã hội VN hôm nay.
    Xã hội VN trong vài năm nay đã có những chuyển hóa theo chiều hướng tích cực, có thể không lâu lắm sẽ có bộ mặt « nhân bản » như các nước văn minh khác. Việc này là do kết quả của nhiều động lực thúc đẩy khác nhau, nhưng lực chính là sự can đảm « dấn thân » của tầng lớp trí thức trong nước. Cái « dấn thân » có nhiều nghĩa. Nói lên sự thật trong tình trạng hiện nay cũng là một thái độ can đảm. Tôi lạc quan cho rằng, cũng như các nước Tây Phương trước đây hay các nước Đại Hàn, Đài Loan gần đây, sự chuyển hóa từ một chế độ phong kiến hay độc tài toàn trị sang một chế độ dân chủ, sẽ được thể hiện theo đà lớn và sự dấn thân của tầng lớp trí thức Việt Nam. Trong quá trình chuyển hóa này, theo tôi, sự góp phần của các « tổ chức chính trị » thì rất mờ nhạt. (Trường hợp của quí anh Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang v.v… trước hết đều là những nhà trí thức và hành động của họ là mang nhiều yếu tố « trí thức », như mong muốn xã hội tốt đẹp hơn, hơn là một động lực chính trị. Thậm chí, trong một chừng mực, một số người trên đây là nạn nhân của các toan tính chính trị của các chính trị gia hải ngoại.)
    Sự đóng góp của các « chính trị gia », các « tổ chức đối lập » trong cuộc chuyển hóa này kết quả đến nay vẫn chưa thấy gì là cụ thể. Chỉ có tiếng nói của trí thức mới ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến các chính sách quốc gia. Đây là một sự thật mà tôi nghĩ các nhà chính trị sẽ không thuyết phục. Nhưng theo tôi, nếu những nhà làm chính trị Việt Nam có lý tưởng thực sự (phụng sự cho một đất nước tươi đẹp), cần phải khiêm nhượng nghĩ lại về chính mình. Việc dễ nhất có thể làm được là ngưng ngay việc trách móc người khác.
    Người trí thức hôm nay có thể làm gì trước những vấn đề của đất nước ?
    Theo tôi, những vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền các đảo, hải phận biển Đông… giữa VN và TQ, thế mạnh của VN trước hết là căn bản lịch sử và cơ sở pháp lý. Khi nói đến « lịch sử » hay « pháp lý » thì không thể dựng chuyện theo lối anh hùng Lê Văn Tám.

  12. Hoàng Trường Sa viết:

    “Điều kiện của một người bất đồng chính kiến như ông MTL khó khăn, eo hẹp, nguy hiểm rất nhiều. Người bên ngoài có điều kiện thảnh thơi nghiên cứu, khi tranh luận xin đừng quên điều đó, xin đừng say sưa tranh cãi mà quên người bạn mình còn đứng trong “bức màn sắt” , cũng là những nhà khoa học trong nước, nhưng điều kiện của người này so với người khác có thể khác nhau rất xa.” (Trích lời bác V. Quốc Uy)

    Đúng vậy. Tôi hoàn toàn chia sẻ với nhận định này của bác V. Quốc Uy. Cá nhân tôi rất trân trọng tấm lòng và những đóng góp của tác giả Mai Thái Lĩnh. Trong điều kiện thông tin thiếu thốn và những nguy hiểm đang rình rập ngày đêm để ập lên mình tác giả bất cứ lúc nào, ông vẫn can đảm, hiên ngang nói lên tiếng nói trung thực của một người trí thức yêu nước. Tất cả chỉ vì ông xót xa, đau đớn trước sự mất mát biên cương và biển đảo của Tổ quốc ta. Xin ông nhận nơi đây lời cám ơn chân thành nhất của tôi.
    Cá nhân tôi cũng rất quý trọng bác Trương Nhân Tuấn cũng vì lý do như đã nói trên đây đối với bác Mai Thái Lĩnh. Chính việc bác Trương Nhân Tuấn, cách đây gần 10 năm, đã đau xót khi biết ĐCSVN nhượng cho TQ nhiều đất đai dọc biên giới phía Bắc, nên đã hy sinh thì giờ bỏ ra nhiều năm lục lọi các tài liệu về các Hiệp định biên giới do Pháp đã ký với nhà Thanh để tìm hiểu sự thật và tố cáo trước công luận sự mất mát lãnh thổ biên cương này, mà tôi đã quý mến bác Tuấn từ đó đến nay. Lòng quý mến này của tôi sẽ còn mãi đối với bác Tuấn.
    Tôi rất buồn trước sự kiện những người Việt cùng chia sẻ với nhau nỗi đau chung của Tổ quốc lại không thông cảm hoàn cảnh của nhau, để cùng khích lệ hỗ trợ nhau trong lý tưởng chung, và bỏ qua cho nhau những sai sót do hoàn cảnh không cho phép có được những thông tin chính xác.

  13. V. Quốc Uy viết:

    – Sự thực to lớn là biên cương, hải đảo của ta đã bị Trung Quốc xâm lấn, nên càng nói được sự thực thì càng bảo vệ được Tổ quốc. Trường hợp này, mục tiêu CHÂN LÝ và mục tiêu CHÍNH TRỊ thống nhất với nhau, thưa ông Trương Nhân Tuấn.
    Nhưng trái lại, nếu nhân danh một chi tiết nào đó của sự thật cốt đề cao tính hàn lâm , thì dù luận điểm ấy đúng với sự thật chăng nữa (cứ giả thiết như thế), nhưng gây bất lợi cho mục tiêu trong sáng và cao cả của dân tộc thì người trí thức không cần làm, vì phía bên kia người ta không ngu dại gì mà bỏ qua cơ hội này, ta đừng lo họ quên nên phải làm giúp họ. Người trí thức phi chính trị thường mắc bệnh “công bằng, cao thượng, đứng giữa” ngớ ngẩn này.
    – Điều kiện của một người bất đồng chính kiến như ông MTL khó khăn, eo hẹp, nguy hiểm rất nhiều. Người bên ngoài có điều kiện thảnh thơi nghiên cứu, khi tranh luận xin đừng quên điều đó, xin đừng say sưa tranh cãi mà quên người bạn mình còn đứng trong “bức màn sắt” , cũng là những nhà khoa học trong nước, nhưng điều kiện của người này so với người khác có thể khác nhau rất xa.

  14. Trần Việt viết:

    Tác giả Trương Nhân Tuấn (TNT) trong bài viết này thể hiện không được bình tĩnh, nhất là trong phần cuối. Người trí thức dù tài trí đến đâu cũng vẫn có thể có sai lầm và cũng khó tránh được mọi ảnh hưởng, tác động của môi trường (“dư luận”). Việc tác giả TNT nhắc nhở “khi sử dụng những nguồn tin của «dư luận» như thế đều phải kiểm chứng lại.” là điều đúng đắn nhưng ông dùng những từ như “giật gân”, “ăn khách”, “tin đồn” để ám chỉ bài viết của tác giả Mai Thái Lĩnh là không công bằng và làm giảm đi sự nghiêm túc trong lập luận của mình.

    Tôi thấy khó hiểu với kết luận cuối của tác giả TNT: “Theo tôi, người trí thức không thể cùng lúc phục vụ cho một mục tiêu chính trị và bảo vệ chân lý.” Không hiểu ý nghĩa của từ “chính trị” và “chân lý” mà tác giả TNT định nói đến ở đây là gì?

    Kết luận này của tác giả TNT có thể gây hoang mang cho nhiều trí thức mới bắt đầu vượt được sự sợ hãi để quan tâm, can dự vào vấn đề chính trị nhằm bảo vệ đất nước và phản kháng chế độ chính trị độc đoán hiện thời.

    Theo tôi “chính trị” và “chân lý” không đối lập với nhau. Có thể có những người hoạt động chính trị hay có chế độ chính trị không phù hợp cho việc kiếm tìm hay bảo vệ chân lý nhưng không thể kết luận: “người trí thức không thể cùng lúc phục vụ cho một mục tiêu chính trị và bảo vệ chân lý.”

    Ủng hộ cho một thể chế chính trị tiến bộ không phải là để bảo vệ chân lý tốt hơn sao?

  15. Hoàng Trường Sa viết:

    Cám ơn bác Trương Nhân Tuấn đã cung cấp thêm vài chi tiết về tổ chức quân sự tại Bắc Kỳ vào thời đầu Pháp thuộc (qua cuốn Au Tonkin et sur la frontière du Qwang Si của Commandant Famin, in năm 1894). Như bác Tuấn cho thấy, theo mô tả, xứ Bắc Kỳ được chia làm 5 đạo quân binh (territoire militaire), theo nghị định ngày 20-8-1891. Bác Tuấn gửi kèm theo hai bản đồ. Một là bản đồ phân chia 5 vùng quân sự (territoire militaire) mà bác Tuấn dịch là “5 đạo quân binh”. Và tấm bản đồ thứ hai là bản đồ về TỔ CHỨC PHÒNG THỦ của vùng quân sự 2 (ORGANISATION DÉFENSIVE du 2e Territoire Militaire).
    Thật ra, theo tôi, phải gọi là “5 vùng quân sự” (tương tự như 4 vùng chiến thuật của VNCH trước năm 1975) mới đúng, chứ không phải là “5 đạo quân binh”. Vì ở đây là việc chia lãnh thổ ra thành nhiều vùng quân sự (hoặc quân khu) do các đội quân binh khác nhau phụ trách.
    Điều quan trọng nhất đối với tôi là bản đồ thứ hai về ORGANISATION DÉFENSIVE du 2e Territoire Militaire. Nhìn kỹ bản đồ này ta thấy rõ thác BẢN GIỐC nằm sâu trong nội địa VN, trên phần thuộc con sông LỌT HẲN vào lãnh thổ VN. Con sông này trong bản đồ không được ghi tên, nhưng ta biết đó là sông Quây Sơn (hay còn gọi là Quy Xuân, hay Quy Thuận). Do đó, trong Hiệp định biên giới Việt – Trung trên bộ năm 1999, khi nhượng cho TQ hơn nửa thác BẢN GIỐC (phần hùng vĩ và tráng lệ nhất của thác), ĐCSVN đã đồng thời nhượng luôn phần đất nằm trên tả ngạn sông Quây Sơn, chạy từ sông này cho đến đường biên giới (xin mời quý vị xem lại bản đồ này).

1 2 3 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>