talawas blog

Chuyên mục:

Heinz Schütte – Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (8)

13/05/2010 | 7:03 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Heinz Schütte – Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (8)

Tác giả: Heinz Schütte

Category: Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm
Thẻ: >

Bản dịch của talawas

8. Nhân văn

Ngày 20 tháng 9 năm 1956, tờ báo tư nhân mang tên Nhân văn ra số đầu tiên ở Hà Nội (hồi đó báo tư nhân còn được phép xuất bản, bên cạnh báo nhà nước). Chủ nhiệm báo là Phan Khôi, một người rất có uy tín và tên tuổi của ông mang lại sức nặng cho tờ báo – Phan Khôi khi đó đang có một hợp đồng dịch Lỗ Tấn với sự trợ cấp kinh phí của chính phủ.[1] Nhà văn, họa sĩ Trần Duy (sn. 1920) đảm nhiệm chức vụ thư kí tòa soạn. Trong một cuộc trò chuyện với tôi vào tháng 10 năm 2000 ở Hà Nội, một trong những nhân vật chính của Nhân văn miêu tả: “Tờ báo là một công cụ hết sức quan trọng cho cuộc đấu tranh vì tự do và chống lại sự nô lệ hóa về tinh thần, vì dân chủ và chống lại sự độc tài mang danh chuyên chính vô sản.” Có lẽ cái mục đích chính trị được diễn đạt rõ ràng và thẳng băng ra như thế vào năm 2000 đã hoàn toàn không tương đồng với những mục đích vốn có tính bộc phát của Nhân văn vào thời 45 năm trước, giữa cái mùa Đông đầu tiên sau Điện Biên Phủ và 1956/57.

Người thực chất đứng sau dự án Nhân văn là nhân vật đã được nhắc đến nhiều lần ở trên: nhà báo, nhà xuất bản, nhà chính trị Nguyễn Hữu Đang. Trong kháng chiến, ông từng là cộng sự thân cận của Tổng Bí thư Trường Chinh – hai người có quan hệ với nhau từ thời Mặt trận Bình dân những năm 1930. Năm 16 tuổi (1929), chịu tác động của các sự kiện chính trị nóng hổi trong nước, và mặc dù chưa hiểu biết gì về chủ nghĩa Marx, Nguyễn Hữu Đang đã gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, một tổ chức do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Trung Quốc. Sau một năm hoạt động bí mật, ông bị Pháp bắt và nhốt vào tù, nhưng vì còn ở tuổi vị thành niên, ông được Pháp thả cho về quê. Ông đã tìm thấy ở chủ nghĩa cộng sản con đường giải phóng dân tộc; chủ nghĩa cộng sản, như ông tự diễn giải, là phương tiện để đạt được mục đích.[2] Cùng với Trường Chinh trong ban biên tập tờ báo Tin tức của Đảng, ông có nhiệm vụ thuyết phục giới trí thức đi theo cách mạng. Theo sự ủy nhiệm của Hồ Chí Minh, ông đã tổ chức Lễ Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945[3] – giờ phút của định mệnh mà ở đó “những người An-na-mít… đã trở thành những người Việt Nam”, như Rudy Schröder (tức Lê Đức Nhân) đã miêu tả sau này.[4] Ông trở thành Bộ trưởng Bộ Thanh niên đầu tiên trong chính phủ Hồ Chí Minh. Tháng 11 năm 1946, ông đã lãnh đạo việc tổ chức Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc lần thứ nhất ở Hà Nội (hội nghị bị rút ngắn do kháng chiến sắp bùng nổ). Như đã nói ở trên, Nguyễn Hữu Đang đã đảm nhiệm chức vụ Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ trong kháng chiến. Cũng vậy, như đã nói, đầu những năm 1940, ông vẫn được Trường Chinh tin cẩn giao nhiệm vụ, thông qua Hội Văn hóa Cứu quốc, huy động trí thức và văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến.[5] Tuy nhiên sau nhiều năm song hành cùng Tổng Bí thư Đảng tại những vị trí then chốt trong chính sách văn hóa, Nguyễn Hữu Đang dần trở thành một đối thủ cạnh tranh quyền lực và là một người đối lập về tư tưởng với Trường Chinh. Những gì diễn ra trong những năm sau Điện Biên Phủ cho thấy, những hình dung của Nguyễn Hữu Đang và Trường Chinh về một xã hội mới cũng như vai trò của văn hóa-văn nghệ trong xã hội ấy đã trở nên đối nghịch nhau. Thực ra, sự đối lập này có lẽ đã xuất hiện từ Đại hội Văn hóa Toàn quốc năm 1948. Khi hồi tưởng lại, Nguyễn Hữu Đang cáo buộc Trường Chinh ngày đó đã quá đặt nặng “vai trò của tư tưởng Mác-Lê để hạ thấp truyền thống tiếp nhận văn hóa từ hàng nghìn năm của Việt Nam”. Ít lâu sau đó, trong một tập san nội bộ của Đảng, ông bị Trường Chinh phê phán là “thiếu kiên định tư tưởng”.[6] Theo nhiều nguồn kể lại, từ đó Nguyễn Hữu Đang đã không còn giữ vị trí nào trong kháng chiến nữa mà rút lui về nông thôn cùng người bạn Trần Thiếu Bảo – người sau này sẽ trở thành giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức.[7] Chỉ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Nguyễn Hữu Đang mới quay trở lại chính trường. Tuy nhiên khi được hỏi, ông luôn từ chối nói về những năm tháng này.

Những mâu thuẫn cơ bản của Nguyễn Hữu Đang giờ đây mới được thoát ra và chúng tìm được mảnh đất xã hội màu mỡ ở báo Nhân văn. Ông tóm tắt mục đích của mình với tờ báo như sau: “Đấu tranh cho dân chủ, chống lại chế độ chuyên chế kiểu Stalin và Mao Trạch Đông, nghĩa là, chống lại xu hướng toàn trị; tự do văn nghệ chỉ là một mảng trong cuộc đấu tranh bao quát nhiều lĩnh vực này.” Ba đòi hỏi chính trị đặc biệt được Nguyễn Hữu Đang miêu tả như sau: “Đòi quyền tự do dân chủ cho toàn thể nhân dân; Đòi quyền tự do cá nhân cho mọi công dân phù hợp với nhu cầu từng người; Đòi chính trị phải tuân thủ luật pháp, bao gồm việc tái thực hành Hiến pháp 1946, vốn đã bị tạm đình chỉ hiệu lực do hoàn cảnh kháng chiến.”[8] Nếu như trước đây, có lúc ông còn những ảo tưởng nào đó thì bây giờ, ông dồn tất cả cho mục đích: tập hợp giới trí thức văn nghệ sĩ để chống lại khuynh hướng toàn trị của cách mạng và chủ trương đơn nhất hóa của các cựu đồng chí của ông. Phải chăng Nguyễn Hữu Đang đã thực sự tin rằng ông có thể thắng trận chiến này? Liệu ông có ý thức được rằng ông đang phải đối diện với những lực lượng nào hay không? Những người quy tụ quanh ông ở Nhân văn có vẻ đều tin tưởng ở ông và đi theo ông với tất cả sự hứng khởi… “Il faut développer à l’outrance l’individualisme”, Nguyễn Hữu Đăng tuyên bố[9] – và Lê Đạt đòi hỏi: “Un poète doit garder jalousement sa singularité”. Có nghĩa là, nhà thơ phải cảnh giác trước các nhà chính trị, những kẻ luôn lợi dụng thơ ca cho mục đích của họ.[10]

Sau Điện Biên Phủ 1954, Nguyễn Hữu Đang đã chuyển sang giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp chính trị của ông: sự nghiệp đấu tranh vì dân chủ, dân quyền và nhân quyền. Ông coi mình như một thành viên của giới trí thức trưởng thành từ “trường học của Cách mạng Pháp 1789”.[11] Với tư cách một nhà tổ chức dày dạn kinh nghiệm, Nguyễn Hữu Đang đã quy tụ giới  văn nghệ sĩ, như các nhà thơ quân đội Trần Dần và Hoàng Cầm, cũng như Lê Đạt, Trần Duy, và giới học giả, như nhà cựu học uy tín Phan Khôi, học giả Đào Duy Anh (1904-1988), triết gia Trần Đức Thảo và luật sư kiêm giáo sư văn chương Nguyễn Mạnh Tường[12], xung quanh tờ báo Nhân văn để làm một cuộc đột phá mới.[13] Tất cả các nhân vật chính của Nhân văn ở cả hai nhóm đều thuộc giới trí thức vốn quen biết nhau từ trước: họ cùng đi học với nhau, sống gần nhau, thậm chí có quan hệ cọc chèo với nhau. Để làm tờ tạp chí, Nguyễn Hữu Đang đã nhắm tới Hoàng Cầm, Trưởng đoàn Kịch Quân đội, “thầy giáo tư” của tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà thơ của quần chúng (“Nhân dân yêu tôi lắm”, Hoàng Cầm tự nói về mình với chút châm biếm), bạn thân của Trần Dần, người đã từng trình bày bản Dự thảo đề nghị 32 điểm với tướng Thanh.

Tuy nhiên, khác với Giai phẩm, Nguyễn Hữu Đang không có ý định làm Nhân văn trước hết như một tạp chí văn học, mà ưu tiên cho các chủ đề về thời sự chính trị Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Từ số đầu tiên cho tới số cuối cùng với kết cuộc cay đắng, câu hỏi tờ báo nên nghiêng nhiều hơn về văn nghệ hay nghiêng nhiều hơn về chính trị đã luôn gây tranh cãi trong nội bộ ban biên tập, giữa một bên là nhóm các văn nghệ sĩ và bên kia là Nguyễn Hữu Đang, nhà chính trị và nhà tuyên truyền. Các văn nghệ sĩ rõ ràng muốn đấu tranh cho tự do biểu đạt trong văn nghệ, nhưng đồng thời họ cũng cảnh báo nhóm kia đừng tấn công trực diện vào chính trị.[14] Song lúc này, ngay cả các văn nghệ sĩ cũng đã sẵn sàng chống lại hệ thống chuyên chế, hệ thống không cho con người cá nhân một không gian tự do nào, không cho phép bất kì cái gì khác Đảng, bởi vì các phương pháp trong Cải cách Ruộng đất giờ đây đang được thực hành trong lĩnh vực văn nghệ, và giới trí thức văn nghệ sĩ ý thức được rằng, những phương pháp và mô hình tổ chức xã hội mà họ chứng kiến trong quá trình Cải cách Ruộng đất sẽ trở thành mô hình tương lai cho toàn thể Việt Nam. Cải cách Ruộng đất là biểu hiện bệnh hoạn của hệ thống chuyên chế và Nguyễn Hữu Đang đã xuất hiện đúng lúc, Lê Đạt giải thích, bởi phong trào ly khai đã bùng phát do thái độ cứng nhắc của Đảng, và nếu không có Nhân văn thì chắc chắn sẽ có cái gì khác tương tự. Đòi hỏi về tự do văn nghệ đã không thể kìm hãm lâu hơn được nữa.[15]

Những hoạt động chuẩn bị cho báo Nhân văn của Nguyễn Hữu Đang đã không thể qua mắt giới lãnh đạo Đảng và Chính phủ. Những người này đã tìm cách phân hóa nội bộ các trí thức văn nghệ sĩ, bằng cách ngăn cản các cộng tác viên tiềm năng tham gia Nhân văn. Như đã nói ở trên, đại tá Lê Liêm, Tổng cục phó Tổng cục Chính trị Quân đội dưới quyền tướng Nguyễn Chí Thanh, đã nhân danh Bộ Chính trị thực hiện vài cuộc nói chuyện với các văn nghệ sĩ vào tháng 6.1956, vài tuần trước khi số báo đầu tiên ra mắt. Lê Liêm khẳng định sự trân trọng của ông cũng như của các vị lãnh đạo khác với văn nghệ sĩ và ghi nhận đóng góp to lớn của văn nghệ sĩ với cách mạng. Như Hoàng Cầm nhớ lại[16], Lê Liêm cũng thừa nhận rằng, những đòi hỏi của các văn nghệ sĩ là hết sức chính đáng, và những “sai lầm” của Đảng trong chính sách văn nghệ là do trình độ yếu kém của các cán bộ văn nghệ, và nhìn chung thì Đảng đồng ý với nhiều điểm trong các đòi hỏi của các văn nghệ sĩ. Lê Liêm nhấn mạnh rằng văn nghệ sĩ là bạn (chứ không phải kẻ thù) của Đảng, và chính vì thế họ cần có sự cảm thông chia sẻ với Đảng và tha thứ cho những sai lầm của Đảng. Giới lãnh đạo cao nhất sẵn sàng lắng nghe ý kiến văn nghệ sĩ, tất cả đều có thể được thảo luận và xem xét, nhưng phải tuân thủ hai điều: thứ nhất, họ phải chấm dứt cộng tác với Nguyễn Hữu Đang, bởi vì, như Lê Liêm giải thích, mục đích của Nguyễn Hữu Đang không phải là đấu tranh cho việc nới lỏng trí thức văn nghệ sĩ, mà Đang có tham vọng chính trị với mục tiêu lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, các văn nghệ sĩ không nên công khai những đòi hỏi của mình bằng các bài viết đăng báo mà nên gửi kiến nghị tới lãnh đạo. Việc này cần phải giải quyết nội bộ (cũng như Đảng chỉ có thể thừa nhận những sai lầm của mình trong phạm vi nội bộ), bởi còn có vấn đề miền Nam và thống nhất đất nước.[17] Vì những lí do đó, văn nghệ sĩ trước hết cần phải đặt trọn niềm tin vào Đảng, bởi Đảng là lực lượng duy nhất có thể thống nhất đất nước. Trong hoàn cảnh hiện nay, mọi sự tự do đều phải đặt dưới kỉ luật Đảng, và chỉ có tuân thủ kỉ luật tư tưởng và kỉ luật đời sống mới mang lại tự do đích thực, trong đó có tự do văn nghệ. Ngược lại, nếu các văn nghệ sĩ công khai những đòi hỏi của mình trên báo chí thì quần chúng nhân dân miền Nam sẽ mất niềm tin vào Đảng. Phụng sự cho sự nghiệp của Đảng cũng đồng nghĩa với phụng sự cho sự nghiệp thống nhất đất nước (và hoàn thành mục tiêu cách mạng).[18] Thơ ca cần có tinh thần chiến đấu, nhà thơ cần phục vụ Đảng; thơ ca là vũ khí tuyên truyền[19], hội họa là vũ khí cổ động.

Các văn nghệ sĩ đã không từ chối trực tiếp đề nghị này của Lê Liêm, mà họ đưa ra một số đề nghị ngược lại. Họ đồng ý sẵn sàng chấm dứt hợp tác với Nguyễn Hữu Đang, nếu giới lãnh đạo đồng ý kỉ luật những người chịu trách nhiệm trong vụ bắt Trần Dần và xin lỗi công khai về những sai lầm đã mắc phải từ trước đến nay trong chính sách văn nghệ. Nếu điều này không xảy ra, thì họ sẽ tự thực hiện bằng tờ báo sắp ra mắt. Trên thực tế, những đề nghị này không những đe dọa con người đầy quyền lực Tố Hữu mà còn đòi Đảng phải công khai xin lỗi. Nhưng đây lại chính là hai điểm không thể nào có thể thảo luận được. Báo Nhân văn phê phán giới lãnh đạo văn nghệ:

[…] còn một số người lạc hậu mang nặng tàn tích đế quốc và phong kiến, tuy đứng trong hàng ngũ cách mạng, nhưng vì quyền lợi, địa vị cá nhân, nên có hành động hoặc lời nói vu cáo, đe doạ định bóp nghẹt dân chủ bằng những phương pháp khi lén lút, khi trắng trợn… […] báo Nhân văn bao giờ cũng đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, kiên quyết đấu tranh cho thống nhất đất nước và dân chủ thực sự […][20]

Ngay cả trong thời gian báo Nhân văn đã hoạt động vẫn có những cuộc đàm phán giữa những đại diện cao nhất của giới lãnh đạo với các thành viên Nhân văn. Trần Duy kể lại rằng, sau khi Nhân văn số 4 ra mắt, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho mời ông lên nói chuyện và lưu ý ông không được quên “tình hình đất nước” và mục tiêu dân tộc, và đừng làm gì ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Phạm Văn Đồng đề nghị Trần Duy từ giờ nếu có kiến nghị gì thì cứ việc liên hệ trực tiếp với ông, và ông hứa sẽ đề đạt lại với Bộ Chính trị, ngoài ra ông còn cho biết sẵn sàng ủng hộ toàn bộ chi phí cho việc in ấn báo Nhân văn. Khi Trần Duy kể lại việc này, những người chủ trương Nhân văn đã cáo buộc ông bắt tay với chính quyền. Dù sao về phần mình, sau cuộc gặp gỡ này, Trần Duy quả thực cho rằng nên dừng Nhân văn (“vì tất cả đều quá mệt mỏi, mà chúng tôi đều không được chuẩn bị cho cuộc chiến đấu này”). Có vẻ như sau đó còn có những cuộc gặp giữa Trần Duy, Văn Cao phía bên này với Trường Chinh, Nguyễn Đình Thi phía bên kia. Nguyễn Đình Thi nói với Trần Duy: “Mình rất quí cậu, sao cậu lại làm chuyện rắc rối này, cậu là một họa sĩ, nghề của cậu là vẽ…”. Và Trường Chinh thì nói: chúng ta đã có tất cả các tờ báo cần thiết rồi, tại sao các cậu lại phải làm một tờ báo như thế. Và Trần Duy cho rằng cách bày tỏ thái độ của Trường Chinh như thế là “très, très raisonnable” (hết sức hợp lý), bởi vì “kẻ thù” sẽ lợi dụng, và Nhân văn sẽ phá hoại nền độc lập và sự nghiệp thống nhất đất nước. Theo Trần Duy thì Bộ Chính trị đã làm hết sức để can ngăn ông và những đồng sự của ông.[21] Như vậy, rõ ràng trong nhóm những nhà ly khai cũng có sự bất đồng và các quan điểm mâu thuẫn nhau; mối nghi ngờ của một số văn nghệ sĩ với Trần Duy, người bị họ coi là đầu hàng và thỏa hiệp, vẫn còn kéo dài cho đến nay.[22]

Nhân văn được xuất bản dưới hình thức báo và thoạt tiên được thực hiện từ tiền túi của các thành viên chủ trương. Tờ báo đã gặt hái thành công vượt bậc, gây chú ý và sợ hãi. Chỉ vài ngày, báo đã bán được 6.000-7.000 bản, một con số rất lớn ở Hà Nội hồi đó.[23] “Chúng tôi ngồi trên lưng hổ – nếu chúng tôi đứng im, con hổ sẽ hất chúng tôi xuống; nếu chúng tôi nhảy xuống, con hổ sẽ ăn thịt. Vậy là chúng tôi cứ bị đẩy đi”, Trần Duy nhớ lại.[24] Nhân văn số 1 đăng một bài viết dài của Hoàng Cầm kể câu chuyện bi kịch của Trần Dần. Bài viết có nhan đề “Con người Trần Dần” với một bức minh họa của Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần với vết sẹo ở cổ từ lần (giả vờ) tự tử – một bằng chứng hùng hồn tố cáo giới lãnh đạo văn nghệ. Trong Nhân văn số 3, nhà thơ Chu Ngọc tuyên bố: “Chúng tôi chỉ muốn thực hiện đúng phương châm trong việc phê bình của chúng ta là: Nói thẳng, nói thật, nói hết.”[25] Nhưng, như Trần Duy đã viết trong bài “Phấn đấu cho trăm hoa đua nở” in ở trang đầu báo Nhân văn số 2 ngày 30.9.1956: “Thực tế ở xã hội chúng ta, vấn đề thực hiện trăm hoa đua nở không phải là một việc đơn thuần dễ dàng. Một khẩu hiệu không thôi, không đủ sức mạnh để khai thông tất cả những đầu óc bảo thủ, quan liêu, đã quen với những tác phong lãnh đạo lỗi thời, chỉ lăm le buộc văn học, nghệ thuật vào những khẩu hiệu khô khan, những chính sách cùng những nguyên tắc máy móc về kinh tế và xã hội.”[26] Còn Lê Đạt tuyên bố: “Người công an đứng ngã tư đường phố… rất cần cho việc giao thông… Nhưng đem bục công an… đặt giữa tim người… có thể gây rất nhiều chua xót…”.[27]

Các đòi hỏi ngày càng vượt ra khỏi lĩnh vực văn nghệ và lan sang các chủ đề chính trị-xã hội, như các thảo luận về tính chính danh của chính quyền, về nhân quyền và dân chủ, nghĩa là đòi canh tân hệ thống – và như vậy nghĩa là đòi có đa nguyên chính trị (dù chỉ úp mở). Ngay cả những người vốn né tránh hoạt động chính trị mà chỉ giới hạn hoạt động của mình như những trí thức hoặc văn nghệ sĩ  thuần túy cũng không thể che giấu đòi hỏi này, nhất là sau các sự kiện ở Moskva, Hungary và Ba Lan (và dĩ nhiên cả những sự kiện ở Đại lộ Stalin ở Berlin tháng 6.1953). Báo Nhân văn số 5 có bài viết kí tên Người quan sát: “Bài học Ba Lan và Hungari”. Nhiều người ở Hà Nội cả quyết với tôi rằng tác giả bài viết đó là Lê Đạt. Trong bài viết này, tác giả phân biệt giữa dân chủ với nhân dânchuyên chính với kẻ địch. Tác giả đòi hỏi phải nhanh chóng sửa chữa những sai lầm đã mắc phải, nâng cao mức sống nhân dân và mở rộng các quyền tự do dân chủ. Tác giả viết, ở Ba Lan và Hungary, “sự tôn sùng Sta-lin, và những sai lầm của Sta-lin ảnh hưởng sâu xa đến một số đông những đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, đã vi phạm nghiêm trọng đến đời sống và quyền tự do của con người”.[28] Chủ trương hộc tiến lên chủ nghĩa xã hội, quá coi trọng công nghiệp nặng, coi thường nông nghiệp và tiểu thủ công đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của nhân dân. Lý luận sai lầm cho rằng càng tiến tới chủ nghĩa cộng sản thì đấu tranh giai cấp càng quyết liệt đã dẫn tới áp dụng chuyên chính với cả đảng viên và quần chúng và vi phạm trầm trọng nền pháp trị xã hội chủ nghĩa.[29]

Bài viết “Cần phải chính quy hơn nữa” của Nguyễn Hữu Đang đăng ở trang đầu báo Nhân văn số 4 ngày 5.11.1956 đã đi quá giới hạn chịu đựng của Đảng. Nội bộ nhóm biên tập đã tranh cãi quyết liệt vì một số người cho rằng bài báo quá trực diện chính trị, và nếu cho in thì chính quyền có thể cho đóng cửa tòa báo. Nguyễn Hữu Đang viết: “Vì lòng khinh bỉ của chúng ta đối với pháp lý tư sản lớn quá đến nỗi ở một số đông người nó đã trở thành lòng khinh bỉ pháp lý nói chung. Vì trong cuộc kháng chiến kéo dài và gian khổ, chúng ta đã quen giải quyết mọi công viêc to nhỏ trong không khí gia đình, với tinh thần tuỳ tiện. Chúng ta đã quen dùng cái linh động để gỡ cho công việc trôi chảy được mỗi khi vấp phải điều quy định chính xác. Chúng ta đã quen dùng cái lập trường để thay cho luật lệ cụ thể […] Trong Cải cách Ruộng đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tù, xử bắn, tịch thu tài sản, hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây đến làm chết đói những thiếu nhi vô tội trong các gia đình địa chủ (hoặc chính là nông dân mà bị quy sai thành phần), không phải chỉ hoàn toàn do sự lãnh đạo kém cỏi mà còn do thiếu chế độ pháp trị hẳn hoi.”[30]

Tiếp theo, Nguyễn Hữu Đang bàn về nhân quyền trong bài trang Nhất báo Nhân văn số 5 với nhan đề “Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào?”. Nguyễn Hữu Đang viết rằng, do hoàn cảnh chiến tranh, Hiến pháp 1946 đã tạm thời bị hoãn thi hành, nhưng nay tình hình miền Bắc đã dần trở lại bình thường, vì vậy cần cấp thiết xem xét thực hiện Hiến pháp, đặc biệt là Điều 10, quy định về các quyền tự do dân chủ của nhân dân. (Điều 10 Hiến pháp 1946: Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản; Tự do tổ chức và hội họp; Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra ngoài nước.)[31] Bản can của số báo này (cũng như các số trước) được các cán bộ của xưởng in, vốn là những đảng viên đầy tinh thần kỉ luật, chuyển tiếp cho lãnh đạo Đảng, và số báo đã bị cấm ngay tập tức.[32] Trong một báo cáo gửi từ Hà Nội, phóng viên hãng thông tấn CHDC Đức (AND) Erwin Borchers (tên Việt Nam là Chiến Sĩ) viết: “Quan điểm chung là không thể để những kẻ phá hoại này tiếp tục lộng hành nữa […] và đã đình chỉ hai số báo”.[33]

Nhân văn số 6 đã lên khuôn và đang chuẩn bị in thì bị chặn lại. Ngày 15.12.1956, Ủy ban Hành chính Hà Nội đã ban lệnh đình bán và cấm lưu hành báo Nhân văn với lý do Nhân văn đã có những bài viết: “xuyên tạc sự thật, gây hoang mang chia rẽ trong dư luận, gieo rắc sự nghi ngờ vào chế độ dân chủ nhân dân, dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, phá hoại trật tự và đời sống yên bình của nhân dân thành phố.”[34]

(Còn tiếp)


[1] Theo báo cáo của Đại sứ quán CHDC Đức chuyển về Berlin thì Phan Khôi được coi là một “kiện tướng ăn nghệ” và giải thích thêm rằng danh hiệu này là do Đảng phong cho ông và Phan Khôi được “cấp lương 60.000 nghìn đồng và sở hữu một phòng riêng”. Đại sứ quán CHDC Đức, Hà Nội, 27.3.1958, gửi Bộ Ngoại giao, Berlin, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.000065.

[2] Trò chuyện với Nguyễn Hữu Đang ở Hà Nội 21.5, 24.5 và 3.6.1999

[3] Mặc dù trong quá khứ thuộc địa, đây là nơi đặt Phủ Toàn quyền Đông Dương – một biểu tượng của đế quốc Pháp (xem Meyer, 1985, tr.192) – nhưng vì là nơi diễn ra Lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945, Quảng trường Ba Đình vẫn được chọn là biểu tượng của nhà nước mới, và dường như để nhấn mạnh điều này, sau này người ta đã cho xây lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đây.

[4] Schröder, bản thảo chưa công bố, tại: FMS, xem Schütte 2006

[5] Hội Văn hóa Cứu quốc tồn tại tới 1948 thì bị thay thế bởi Hội Văn học và Nghệ thuật.

[6] Khi được hỏi về chuyện này, Nguyễn Hữu Đang nói với tôi: “Có sự bất đồng giữa ông ấy (Trường Chinh) và tôi, nhưng vì những lý do khác, ví dụ như việc phân công công tác cách mạng, những việc ông ấy quyết định mà tôi cho là không thỏa đáng; hồi đó tôi đã có cảm nhận rằng mình sẽ phải gánh chịu những kết cục không lành. Tôi rất đau khổ vì có quá ít những thay đổi hợp lý. Sau này thì ông ấy đã thừa nhận những sai lầm của mình. Thực ra hồi đó tôi đã từ bỏ con quái vật chính trị để giành sức lực cho (cũng như quay lại với) công việc văn hóa. Rốt cuộc tôi đã tìm được vị trí của mình trong vai trò Trưởng Hội truyền bá Quốc ngữ để xóa nạn mù chữ cho nhân dân.” Trò chuyện với Nguyễn Hữu Đang ở Hà Nội, 30.10.2000.

[7] Trò chuyện với Hoàng Cầm ở Hà Nội, 23.11.1998. Trong giới văn nghệ cũng như chính trị ở Hà Nội có rất nhiều tin đồn khác nhau về chuyện này, tuy nhiên đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy bằng chứng cụ thể. Trong những buổi trò chuyện với Nguyễn Hữu Đang, ông luôn từ chối nói về chuyện này. Báo Nhân văn được in ở nhà xuất bản Minh Đức với trụ sở ở số nhà 25 đường Phan Bội Châu.

[8] Trò chuyện với Nguyễn Hữu Đang ở Hà Nội, 24.5.1999

[9] Trò chuyện với Hoàng Cầm ở Hà Nội, 14.6.1999 và với Nguyễn Hữu Đang, 3.6.1999

[10] Trò chuyện với Lê Đạt ở Hà Nội, 4.10.2000

[11] Trò chuyện với Nguyễn Hữu Đang ở Hà Nội, 30.10.2000

[12] Nguyễn Mạnh Tường 1992

[13] Đại sứ CHDC Đức ở Hà Nội hồi đó miêu tả và đánh giá nhóm Nhân văn như sau: “Nhóm này có xu hướng và nội bộ không thống nhất. Một bộ phận, bộ phận phản động nhất, đã nhân danh chống bệnh sùng bái cá nhân để chống Chính phủ và Đảng Lao động. Bộ phận khác là những kẻ có tư tưởng lệch lạc, hoặc tự cho mình là đại diện cho ‘chủ nghĩa Mác chân chính’, hoặc đòi hỏi tất cả những ‘quyền tự do dân chủ’ nào đó, giống như những quyền ở những nước tư bản. […] Do những sai lầm của Đảng và Chính phủ, không chỉ trong lĩnh vực văn nghệ (ví dụ sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, vi phạm các quyền tự do dân chủ), nhóm này tụ tập lại thành một đám bất mãn đủ kiểu và đòi Đảng và Chính phủ phải quan tâm tới họ.” Đại sứ Pfützner, Phong trào đối kháng của văn nghệ sĩ…, 11.1956, PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.034.

[14] Trò chuyện với Hoàng Cầm, 13.11 và 2.12.1998, và Trần Duy, 17.10.2001

[15] Trò chuyện với Lê Đạt ở Hà Nội, 11.10.2000

[16] Điểm này và những điểm sau: Trò chuyện với Hoàng Cầm ở Hà Nội tháng 11.1998, tháng 6.1999 và tháng 9.2000; Theo đó, những điểm này đã được Nguyễn Chí Thanh nói trước đó khi ông đến thăm Trần Dần nằm viện trong vụ (giả vờ) tự tử.

[17] Ví dụ về việc tình hình miền Nam hồi đó được chăm chú theo dõi thế nào, có thể đọc báo cáo của Đại sứ quán Úc tại Sài Gòn gửi về Canberra 1956/57; tham khảo Memo. No.287 – File NV. 201/2/1, Australian Embassy on Secretary, Department of External Affairs, Canberra, 11.4.1957, tại: NAA, A463/17.

[18] Lê Đạt cho rằng, thực ra Đảng không bao giờ muốn chia sẻ quyền lực, không bao giờ chấp nhận khác biệt, và luôn luôn chuyên chế – tình hình miền Nam chỉ là cái cớ tốt nhất hồi đó. Nếu không có cái cớ này thì Đảng sẽ lại tìm ra cái cớ khác mà thôi. Trò chuyện với Lê Đạt, 11.10.2000.

[19] Đây là một giai đoạn rất đáng chú ý: thực tế, người ta có thể tranh luận mọi chuyện trong phạm vi nội bộ, bởi luôn có những quan điểm khác nhau. Tuy nhiên đưa các ý kiến ra công luận thì lại vượt quá ranh giới cho phép.

[20] Về tình hình văn hóa (Zur kulturellen Situation), PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.024

[21] Trò chuyện với Trần Duy ở Hà Nội, 17.10.2001

[22] Ngược lại, Nguyễn Hữu Đang nói về Trần Duy ngày 30.10.2000 như sau: “Trần Duy là thư ký tòa soạn, rất hăng hái, can đảm, trung thành với anh em, với mục tiêu dân chủ”.

[23] Đại sứ Pfützner, Phong trào đối kháng của văn nghệ sĩ…, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.034. Những người tham gia Nhân văn ở Hà Nội nói số đầu in 1.500 bản và tới số 5 thì in 20.000 bản.

[24] Trò chuyện với Trần Duy ở Hà Nội, 17.10.2001

[25] Trích dẫn theo Boudarel 1990, tr.164

[26] Trích dẫn theo báo cáo Về tình hình văn hóa (Zur kulturellen Situation), PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.024. Bài xã luận “Những người khổng lồ” của Trần Duy trên Giai phẩm mùa Thu tập 2 được Đại sứ Pfützner tóm tắt như sau: “Đất nước bị đám ma vương quỉ dữ hành hạ và cai trị. Những người khổng lồ xuất hiện và dũng cảm chiến đấu chống lại những kẻ cai trị và rốt cuộc đã chiến thắng. Nhưng họ đã không để ý đến những người bị trị và trong cuộc chiến đấu đó họ đã giết chết luôn cả tình yêu và tình người.”, xem tại: Phong trào đối kháng của văn nghệ sĩ…: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.033. Tuy nhiên bản thân Trần Duy thì cho rằng ông bị hiểu lầm. Ông muốn người ta phải phân biệt giữa những người khổng lồ không tim và những người khổng lồ có tim; “những người có tim là Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, những người không tim là Tố Hữu, Trường Chinh…”. Trò chuyện với Trần Duy ở Hà Nội, 17.10.2001.

[27] PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.033. Có thể tham khảo một bản dịch khác về bài thơ của Lê Đạt tại Nguyen Dang Thuc 1958, tr.69: “Placing police stations and machinery in the center of the human heart, / Forcing feelings to be expressed according to a set of rules romulgated by the government.“

[28] Xem: Hoa Mai o.J., tr.130

[29] Nt, tr.131.

[30]Nguyen Huu Dang, It Is Necessary To Have A More Ordered Society, Nhân văn, 5. November (1956), xem: Hoa Mai o. J., S. 101-104.

[31]Nguyen Huu Dang, How Are Democratic Freedoms Guaranteed By The Vietnamese Constitution Of 1946, in: Nhân Van, November 20 (1956), trích dẫn theo: Hoa Mai o. J., S. 127-129.

[32] Trò chuyện với Nguyễn Đình Thi ở Hà Nội, 26.3.2002

[33] Nguyễn Chiến Sĩ, Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại trong văn nghệ ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội 29.7.1958, tại: Lưu trữ Liên bang (BArch), Lưu trữ của Đài AND, SAPMO, DC 900-926; về việc tiếp cận tư liệu này, tôi xin cảm ơn đồng nghiệp Martin Grossheim ở Berlin. Thời gian ngắn sau khi Chiến Sĩ gửi báo cáo này thì người phiên dịch của văn phòng Đài AND ở Hà Nội, Tran Anh Do, bị Bộ An ninh Hà Nội cáo buộc “có liên hệ với các phần tử chống đối và nhóm phản động chống chính quyền Nhân văn-Giai phẩm những năm qua” cũng như đã từng có mặt ở “một quán cà phê đáng ngờ ở Hà Nội”. Đại sứ quán Đức ở Hà Nội được Cơ quan An ninh Việt Nam yêu cầu hãy đặc biệt lưu ý tới đồng chí Chiến Sĩ trong các báo cáo mật, và không tiết lộ với Chiến Sĩ về việc điều tra đang tiến hành với phiên dịch viên Tran Anh Do. Tham tán Kittler, phụ chú hồ sơ số 51/60, Hà Nội, 20.3.1960, tại: PolA, AA, MfAA/A 8563. Trụ sở của Đài AND, nơi Borchers (Chiến Sĩ) từng trú ngụ và làm việc, là nơi lui tới của “nhiều trí thức Hà Nội”, những người, theo lời Borchers, “mong có nhiều điều lệ tự do hơn trong Đảng của họ”. Pommerening, Hà Nội, 10.11.1961, tại: BArch, Lưu trữ của đài AND, DC 900-296a. Tham khảo thêm: Schütte 2006, tr.272-274.

[34] Quyết định của Ủy ban Hành chính Hà Nội về việc đình chỉ và cấm lưu hành báo Nhân văn, kèm theo thư của Đại sứ quán Đức ngày 7.1.1957gửi Bộ Ngoại giao ở Berlin, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.026.

Bình luận

Không có bình luận (bài “Heinz Schütte – Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (8)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>