talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Huỳnh Thái – Miền Tây mùa sông khô kiệt

09/05/2010 | 7:00 sáng | 6 Comments

Tác giả: Nguyễn Huỳnh Thái

Category: Kinh tế - Môi trường
Thẻ: >

Khi mà ngoài kia, miền Bắc, con sông Hồng khô kiệt oằn mình vắt những giọt nước chập chờn do con đập thuỷ điện chắn ngang; thì trong này, miền Tây – Nam sông Hậu – lại là các con đập thuỷ điện trên thượng nguồn Mekong từ nước lạ, những dòng sông kênh rạch lần đầu tiên rơi vào một kỷ lục buồn hiu, mực nước cạn queo, sông không còn là sông, kênh không còn là kênh, rạch không còn là rạch.

Bây giờ, cũng sắp tháng Tư. Theo lẽ trên cánh đồng phía Nam tỉnh Hậu Giang, phía tây tỉnh Sóc Trăng, phía Bắc tỉnh Bạc Liêu những cây lúa kịp lớn lên tươi non, mơn mởn chờ đón cơn mưa đầu mùa mát rượi. Nông dân hồ hởi đợi một vụ lúa bể bồ, nôn nả chờ trả bớt khoảng nợ mình vay mượn; rôm rả tiếng cười khi được bữa ăn ngon, khi mua tấm áo tấm quần coi được. Nhưng trong tầm mắt tôi, trên cánh đồng kia, cây lúa èo ọt khi ruộng đồng khô cạn, đám lúa cỗi cằn trong nắng gắt chang chang. Những chiếc máy bơm rị mọ phun phì phèo chút nước được chắt mót từ dòng kênh. Vài ba bác nông dân nhễ nhại mồ hôi ngó cánh đồng mình xót ruột, mỏi mòn đợi con nước chảy về, thèm con nước lé đé tràn bờ như vào tháng Bảy, tháng Tám.

Cũng từng lớn lên bênh cạnh dòng sông ngọt nước, với tôi khái niệm về sông là con nước đầy lênh láng, là vị nước mát lành trong trẻo, là tiếng con bìm bịp kêu chờ con nước lớn dâng bờ, là đôi mái chèo khua kẽo kọt trên sông chiều lấp loá. Vậy mà trí nhớ kia cũng phải chèn thêm những dòng sông trơ bãi chỉ còn chút nước phèn vàng kịt, những tiếng lội lõm bõm bắt cá giữa lòng sông, những chiếc xuống chiếc ghe nằm chỏng chơ trên bãi vắng, những tiếng í ới bên này gọi bên kia sông khi chiếc xuồng cũng trở thành vô dụng. Người ta ngác ngơ, đây đâu phải miền Tây mà mình biết: khi sông không còn là sông, cây lúa không thành cây lúa.

Lại là bác Ba Tàu hảo hữu. Liệu có phải rằng thiên la địa võng đã giăng thì dân ta có chạy trời cũng không thoát? Những cái đánh chặn, những cái cướp giật ngoài đại dương mênh mông cũng chưa đủ làm anh Ba hả dạ; nay anh còn quyết tâm vắt kiệt dòng Mekong đến khi nào dân Việt rã rời, tan tác mới chịu buông tay chăng? Cứ ước gì dân mình là dân Thái hay quan mình như quan Thái để bà con khỏi tủi thân, để bà con khỏi nghẹn ngào, để còn biết mình sống ở đâu, để mường tượng được cái gì gọi là Nhà nước. Để bà con hiểu vì sao mấy ổng sốt sắng cho dự án chống nước biển dâng vài mươi năm nữa, nhưng hôm nay lại lặng im khi nhìn những dòng sông dần khô kiệt do tác hại từ những đập Mekong nằm ở thượng nguồn. Nhưng hình như đấy là hai chuyện tách rời, hai mối quan tâm riêng lẻ, hai dự án khác nhau?

Vào đầu mùa, lời khuyến cáo của chính quyền “nông dân không nên trồng lúa khi không đủ nước”, không làm dân e ngại. Nói thì dễ. Nông dân không trồng lúa thì còn biết làm gì hơn: nợ nần, chi tiêu hằng ngày, chi phí con cái học hành, đau bệnh… trăm chuyện đều đổ lên đầu cây lúa. Thành thử họ phải liều. Gieo sạ mà trong lòng thấp thỏm, cầu trời khấn Phật mong cho nước về hoặc là mưa xuống. Hạt lúa ì ạch nảy mầm nhưng khát khô đợi nước vật vờ, rồi ngả màu, rồi héo queo; rồi cả cánh đồng xanh rì trở thành phơ phơ bạc phếch. Mọi biện pháp cứu lúa đều vô vọng. Kể cả sáng kiến khoan giếng nước ngầm, đưa nước ngọt lên ruộng của những anh Hai Lúa – do mạch nước ngầm bị tụt không bơm lên được.

Lúa chết. Chỉ hai từ thôi mà làm người dân đau điếng. Vụ lúa bị phá sản, nợ chồng lên nợ. Lòng tin đổ rạp, cái nghèo đói, khắc khổ được dịp leo lên.

Rồi người ta lại buộc phải chứng kiến nhiều kỷ lục từ cha sanh mẹ đẻ đến giờ chưa thấy: sông cạn kiệt nước; những vụ “thu hoạch” bất ngờ vài chục tấn cá trê, cá lóc, cá rô trên dòng kênh chỉ còn chút nước. Không thấy ai mừng. Vì nó không khoả lấp được nỗi buồn xác xao, lại cồn lên cái lo nếu ngày mai nông dân chỉ có thể trồng lúa vào mỗi mùa mưa; rồi nông dân sẽ sống bằng gì, rồi nông dân còn có tương lai gì không?

Những cái lắc đầu ngác ngơ nhìn lúa đầy bồ không tìm được người mua do sông cạn không ghe tàu nào vào được. Những khuôn mặt chán chường, đau đáu khi phải thuê xe Honda vận chuyển từng bao lúa từ ruộng về nhà với giá bằng năm sáu ký lúa. Những bước chân hì hục đẩy bộ chiếc máy tuốt lúa từ cánh đồng này sang cánh đồng kia, giá công tuốt cũng từ đó mà tăng theo. Những dáng người khi trời sáng mờ mờ ra mé sông ngóng nước chảy về, nhưng không thấy nước cao lên mà mỗi ngày mỗi cạn.

Giờ trưa hoang vắng trong trời nắng cháy, tôi nghe con bìm bịp kêu lạc loài rưng rức. Tội nghiệp con bìm bịp hình như khản cổ, đợi lâu rồi mà không thấy con nước dâng cao. Nó bước ra bờ sông, thẫn thờ nhìn dòng sông cạn đáy; rồi buồn hiu ngả nghiêng bước chân trở về mà lo, chắc mai mốt tiếng kêu của mình rồi cũng trở thành chuyện xưa tích cũ:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi,

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.

Bỗng nhiên thấy thảng thốt. Nhưng cũng chưa thể hình dung nổi viễn cảnh toàn miền Tây chằng chịt sông ngòi kia sẽ ra sao khi con nước ngọt phù sa từng đi vào thơ, đi vào nhạc; chảy vào những cánh đồng, ôm ấp nuôi nấng cây lúa; giải toả những cơn khát, mang lại niềm tin sống cho bao con người đột nhiên dứt hẳn. Thay vào đó là dòng nước mặn đìu hiu chảy xiết, đám lục bình khờ khạo rồi cũng không còn chỗ chen chân, tụi cá lóc hụt hơi nổi đầu chối chết… Mới nghĩ tới đó thôi đã thấy phía xa mù mù một màn thâm u, không chút gì hi vọng.

Rồi lại thấy ba hình nhân đại diện: tình người, dã tâm, trách nhiệm cứ vòng vo nhảy múa. Cái nào sẽ lên ngôi? Lòng dân đành thấp thỏm chờ trông.

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt, khóc người một con.

Chợt nhớ đến hai câu thơ Bùi Giáng mà buồn gục mặt; và ước gì các vị quyền cao chức trọng của ta “còn hai con mắt” như thiên hạ. Ước gì.

© 2010 Nguyễn Huỳnh Thái

© 2010 talawas

Bình luận

6 Comments (bài “Nguyễn Huỳnh Thái – Miền Tây mùa sông khô kiệt”)

  1. Trung Nu Hoang viết:

    Phản hồi của bác Phùng Tường Vân, dẫn thêm bài thơ của Tô Thuỳ Yên, nghe như đâu đây có tiếng chim bìm bịp kêu khi nước lớn, thật hết ý , khiến tôi không dằng được “hứng khởi” để ghi những dòng này.

    Thành thật mà nói, bài viết của Nguyễn Huỳnh Thái đọc thấy “sướng” (nhại Võ Phiến), về mặt văn chương cũng như nội dung, đậm đặc tình cảm với đồng bằng sông Cửu Long. Nó vừa tạo cho người đọc cảm giác day dứt trước cái khốn cùng của nông dân nghèo khó trong vùng, trước tình hình dòng sông Cưủ Long bị “nghẹn” (“trăng nghẹn” vừa kết thúc, nay đến “nước nghẹn”) – không có đủ nước ngọt để làm ruộng, trong khi đó nước mặn xâm lấn sâu vào nội địa. Khổ nạn này chắc chắn do “nguyên nhân chính” ở một loạt nhiều hồ chứa từ lớn đến cực lớn trên sông Lang Cang (tức thượng nguồn sông Cửu Long, Mêkong) của “nước lạ” gây nên. Sự việc quá to lớn, vượt khỏi tầm tay của người nông dân cũng như của nhà nước Việt Nam. Sự việc coi như định mệnh đã an bài, câu hỏi đặt ra là phải làm gì đây để cứu hàng chục triệu nông dân của ta thoát khỏi cơn nguy khốn lớn lao này? Bỏ đồng ruộng để trồng loại cây khác cần ít nước ? Tập làm quen với khô hạn trong mùa nắng mà vẫn phải tiếp tục sống chung với lũ trong mùa mưa, khi “nước lạ” xã lũ trên các hồ thượng nguồn ào ạt chảy xuống? Lắm điều khó giải quyết vô cùng, không phải một sớm một chiều và đơn lẽ một quốc gia mà làm được, trong khi vấn đề liên quan đến nhiều nước, mà Việt Nam ta nằm dưới cùng, nên phải chịu thiệt thòi nhiều nhất (do hạn và cả mặn). Trong khi đó nông dân miền Tây vẫn cần có cơm ăn, áo mặc, con cái học hành, chi phí bệnh viện … muôn ngàn thứ đều phải nhờ đến hạt lúa. Cuộc sống của họ rồi sẽ ra sao đây ?? Nhà Nước đã làm gì để giúp họ thoát khỏi cơn nguy khốn này, trước mắt cũng như về lâu về dài?

    Các dòng sông “liên quốc gia” như Mêkong dù đã có Ủy Ban phối trí của LHQ, mà thành viên gồm các nước VN, Thái Lan, Campuchia, Lào, nhưng khốn nổi UB này không có Trung Quốc, một nước lớn nằm ở thượng nguồn. Họ thường cậy thế ở đầu nguồn, đông người và sức mạnh quân sự cũng như chính trị,kinh tế, ngoại giao… nên tỏ ra thiếu tinh thần hợp tác, thậm chí hành động ngang ngược, không chịu cung cấp các tài liệu liên quan đến việc tích lũy nước trong mùa khô, xã lũ vào mùa mưa… khi họ xây dựng các hồ chứa.

    Hết việc này đến việc khác, “nước lạ” đã liên tiếp gây cho ta nhiều khó khăn tày trời ở cả bốn mặt: Bắc (lấn chiếm biên giới) – Đông (dành giựt ngư trường và hải đảo) – Tây (khai thác quặng bauxite mang về TQ) và Nam (gây nên khô hạn, thiếu nước). Nghĩ xa hơn một chút, thật sự không khỏi lo ngại, khi các hồ nước thải đỏ au (chứa đầy chất độc sau công đoạn xả rửa để lấy quặng) ở Tây Nguyên bung ra do “ý đồ thâm hiểm” của họ, nếu họ muốn, vùng Đông Nam Bộ kể cả TP Sàigòn rồi sẽ phải hứng chịu tai họa như thế nào nữa đây?

    Có phải tất cả việc làm trên là ý đồ của anh “đại bá” luôn luôn mở miệng “hữu hảo”, muốn dạy cho đứa em ngỗ ngáo một thời (với Lê Duẩn, nay thì không dám), thêm bài học khác nữa, sau khi bài học 1979 không mấy thành công nên chưa “nư cơn giận” của thiên triều? Nghĩ mà lo và càng nghĩ càng lo.

  2. Trần Quốc Việt viết:

    Tôi cảm ơn tác giả Nguyễn Huỳnh Thái về một bài viết đáng đọc và nên đọc này. Và tôi cũng cảm ơn Lê Quốc Trinh về phản hồi cho bài chủ. Tôi không ngờ có người đề nghị “đào bới đồng bằng sông Hồng để khai thác than đá (250 tỷ tấn)” Than thổ phỉ ở Quảng Ninh chảy về TQ không đủ sao? Nước cạn kiệt, tài nguyên mất dần để làm giàu cho một thiểu số đứng đầu của một đảng cầm quyền. Hậu quả muôn đời con cháu gánh chịu!

    “Bây giờ mực nước sông Mekong không phụ thuộc vào mùa nữa, mà phụ thuộc vào lượng nước Trung Quốc muốn và cần.” Đấy là câu kết của một bài phóng sự quan trọng về ảnh hưởng tai hại của việc xây dựng các đập của Trung Quốc và Lào đối với lượng phù sa và nước dùng cho nông nghiệp ở Thái Lan, đặc biệt Việt Nam. Xem đường dẫn bài của tác giả Thomas Fuller
    http://www.nytimes.com/2009/12/18/world/asia/18mekong.html

  3. Lê Quốc Trinh viết:

    Cám ơn những đường link do ông Nguyễn Huỳnh Thái cung cấp,

    Cách đây năm tháng tôi đã nêu vấn đề khô hạn của hai đồng bằng lúc gạo sông Hồng và sông Cửu Long, trên Trang mạng BauxiteVietNam, sau đó thì Website này bị tấn công tới tấp, người trách nhiệm bị điều tra, theo dõi. Thực sự chuyện sông Hồng kho hạn đã làm tôi “sốc” khi về tham quan đất nước đầu năm 2008. Tôi đề cập sự kiện này với nhiều người trong nước và bạn bè hải ngoại, vẫn thấy họ thờ ơ, lạnh nhạt. Khi tôi viết bài lên BVN tôi cần nhiều dữ liệu khoa học trong nước để dẫn chứng thì gặp khá nhiều khó khăn, từ đó tôi hiểu rằng người ta đã và đang tìm cách ếm nhẹm sự kiện, có lẽ ngại đụng chạm với “ông láng giềng to đầu” chăng?

    Tôi thường hay vào báo chí “lề phải” online để lưu trữ những bằng chứng về “nạn khô cạn sông ngòi”, trùng hợp những đường link do anh Thái cung cấp. Bây giờ thì sự thật hiển lộ, đại hoạ đang xảy ra trên mảnh đất quê hương, có trễ hay không khi gióng chuông báo động?

    Theo thiển ý, đất nước đang đứng trước hai đại hoạ:

    1)- Gần nhất là hạn hán: thiếu nước ngọt tưới đồng lúa, hoa màu, vườn tược và nhu cầu căn bản của con người. Thứ nữa là nước biển mặn xâm nhập vào sông ngòi, đồng ruộng, giết thuỷ sản nước ngọt (ngành nuôi tôm, nuôi cá tra, cá sấu đang chết dần mòn). Sau này khó mà khử được độ mặn ngấm sâu vào lòng đất;

    2)- Xa hơn nữa là lũ lụt: nếu tất cả mọi đập thuỷ điện xây trên tượng nguồn (TQ) là nguyên nhân dẫn đến thiếu nước (hạn hán) dưới hạ lưu (đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long) thì đến mùa mưa bão, người ta phải mở hết mọi cửa đập để điều tiết khối lượng nước vĩ đại. Lúc đó hạ lưu sẽ gánh chịu hết mọi thảm hoạ khủng khiếp, bằng chứng là cơn bão nhỏ năm ngoái gây lụt lội cho các tỉnh miền Trung vì sự đồng loã của các đập thuỷ điện trên cao.

    Nghi vấn lớn của tôi là tại sao chính quyền CS VN không hề có một động thái nào tìm cách giải quyết vấn đề tận nguồn? chắc chắn trong hàng ngàn ông tiến sĩ khoa học, giáo sư hay phó giáo sư, phải có ít nhất vài người lương tâm sáng suốt để nhìn thấy vấn đề và can thiệp với Nhà Nước. Vấn đề nổi lên từ vài ba năm trước khi ông láng giềng đưa ra hàng trăm dự án xây cất đập thuỷ điện tràn lan trên thượng nguồn, thế mà chính quyền CSVN vẫn ngồi im nhìn, không có lấy một động thái dè chừng hay lên tiếng ngăn cản?

    Trong bài phản biện tôi viết trên BVN, tôi đã đặt vấn đề thẳng với ông NguyễnThanh Sơn, Tổng Giảm Đốc công ty Năng Lượng Sông Hồng, ông lên tiếng ủng hộ Nhà Nước cho dự án “đào bới đồng bằng sông Hồng để khai thác than đá (250 tỷ tấn)”, ông Sơn đánh giá như thế nào giữa “cái đói khát trước mắt vì thiếu nước nguồn” và cái “giàu sang sau này khi khai thác than đá”, lấy đất đâu ra để lấp cái lỗ trống vĩ đại đó?

    Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời của ông Sơn !

  4. Nguyễn Huỳnh Thái viết:

    Chào anh Lê Quốc Trinh!
    Dưới đây là đường link bổ sung thêm thông tin:

    Đồng bằng sông Cửu Long: Thiếu nước gay gắt – http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=188704&ChannelID=2

    Hậu Giang: 12.000 ha đất ruộng bị xâm nhập mặn – http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Khoa-hoc-moi-truong/371652/Hau-Giang-12000-ha-dat-ruong-bi-xam-nhap-man.html

    Báo động nước mặn tấn công ĐBSCL – http://vietnamnet.vn/xahoi/201002/Bao-dong-nuoc-man-tan-cong-DBSCL-896389/

    ĐBSCL: thừa nước mặn, thiếu nước ngọt – http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/309177/DBSCL-thua-nuoc-man-thieu-nuoc-ngot.html

    Sóc Trăng: Thi nhau khoan giếng ngầm cứu lúa – http://agriviet.com/nd/2905-soc%20trang:%20thi%20nhau%20khoan%20gieng%20ngam%20cuu%20lua/

    Miệt sông cạn nước, ghe thuyền “chết khô” – http://vietnamnet.vn/xahoi/201003/Miet-song-can-nuoc-ghe-thuyen-chet-kho-900441/

  5. Phùng Tường Vân viết:

    Đốt Lò Hương Cũ

    Đọc hết bài viết của ông, buồn quá ! Ông lại dẫn câu Lý Bìm Bịp…nên càng thấy thương nhớ sông nước miền Tây vô hạn, ông Tô Thùy Yên có mấy câu thơ :

    Ly rượu rót mời xin uống cạn
    Bài ca ta hát đến đâu rồi
    Xin hát tiếp còn đi kẻo muộn
    Cho úp ly bóng xế đường dài

    Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn
    Đi đi đâu chèo chống mỏi mê…

    những câu thơ như toát lên cái hào sảng của những khách thương hồ một thời xuôi ngược trên sóng nước Cửu Long, có lẽ rồi cũng chỉ còn là hình ảnh của những hoài niệm buồn bã khi mà,như mọi năm xưa, mùa nước về miền Tây lại chỉ còn là một miền tây, mùa sông khô kiệt !

    Nhớ Trần Tế Xương, với bốn câu hoài cảm bất hủ “Vịnh Sông Lấp” (Nam Định), xin có mấy vần phỏng thơ của tiên sinh, thời tuy có khác nhưng cũng xin học đòi tiên sinh ghi một tấc lòng thương cho “mệnh nước nổi trôi” !

    Cửu Long Cạn Giòng

    Sông kia rầy đã khô giòng
    Chỗ trơ thân đước chỗ nồng bùn than
    Đêm nghe bìm bịp kêu khan
    Giật mình còn tưởng nước giàn năm xưa

    Mong sao cho trước sau, đó chỉ là một cơn mộng dữ !

  6. Lê Quốc Trinh viết:

    Đề nghị tác giả cung cấp vài đường link từ báo chí hay chính phủ VN đang báo động về tình trạng khẩn cấp này, và cho xem vài hình ảnh đồng bằng Cửu Long để mọi người nắm vững vấn đề.

    Cám ơn nhiều,

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>