talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa

07/05/2010 | 2:37 chiều | 94 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Tôn giáo
Thẻ: >

Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi. Phần lớn những phản hồi này (hơn 200 bài /12 bài) chỉ lặp đi lặp lại ý kiến của vài độc giả về một vài ý niệm của đạo Phật Đại thừa như Vô minh, Vô thức, Vô ngã… hiểu theo chữ Hán, lại mang nhiều tính cách tranh cãi cá nhân, trở thành lạc đề, không giúp ích gì cho những độc giả muốn hiểu biết đạo Phật một cách sâu rộng và chín chắn.

Tôi xin nhắc lại là đạo Phật Đại thừa vào Trung Quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên nhưng lần lần bị Hán hoá khi phải pha trộn với đạo Lão, đạo Khổng. Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế  kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Ra đời một ngàn năm sau đạo Phật Nguyên thủy (khi Phật còn tại thế), Thiền Trung Quốc chỉ còn giữ lại một vài ý niệm triết  học của Phật giáo hiểu theo nghĩa Trung Quốc. Mang sắc thái Trung Quốc, Thiền đạo đã chói sáng trong 2 thế kỷ thứ VII, thứ VIII và trở thành gần như là đại diện duy nhất của Phật giáo Trung Quốc.

Để chứng dẫn, tôi xin kể lại là nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus: “Thiền tông có người cha  Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn  hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.

Thiền đạo vào Việt Nam dưới đô hộ Tàu rất sớm (594?) và giữ nguyên tính cách Thiền Tàu, khác với Cao Ly và Nhật Bản: Khi tới Cao Ly thế kỷ thứ IX, tự sáp nhập vào Phật giáo Cao Ly có từ thế kỷ thứ IV. Thế kỷ thứ XII-XIII, thiền sư Nhật Dogen (Đạo Nguyên) phổ biến thiền Tào động dưới  hình thức Toạ thiền (Zazen).

Thiền đạo với đặc thái Trung Quốc mất dần tính cách đạo giáo theo đúng nghĩa của nó và trở thành một nền triết lí, một nhân sinh quan, một lối tu không tùy thuộc nơi chốn (tu tại gia). Đạo Phật chính thống nay gọi là Nguyên thủy, là đạo Phật ở những nước mà 90% người dân là Phật tử  như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào. Nguồn gốc của đạo Phật là Ấn giáo Vệ đà.  Vì vậy muốn hiểu thấu đáo những ý niệm của đạo Phật bắt buộc phải hiểu theo nghĩa trong kinh Vệ đà của Ấn giáo.

Tôi xin chia bài trình bày dưới đây làm 3 phần:

1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.

2. Lí do Phật tách khỏi Bà La môn giáo.

3. Ý niệm Chúa Sáng tạo của đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của Ấn giáo Vệ đà.

1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo

Ấn Độ, dịch từ chữ Ba Tư Hindu, chỉ sông Indus mà tiếng Phạn gọi là Sindhu, đất 7 nhánh sông (Sapta Sindhu), của người Aryens (phiên âm chữ Hán là Nhã lộ an) mà Đức Quốc Xã  cũng như người Ba Tư (Iran), đều coi là thủy tổ. Đây cũng là một điểm rất quan trọng giải thích một phần nào nguồn gốc chủng tộc, tiếng nói, văn hoá, đạo giáo của người Âu Châu.

Ấn giáo là đạo cổ xưa nhất của Ấn Độ. Gọi theo tiếng Phạn là Sanatana dharma (Pháp trường tồn) hay “Trật tự vũ trụ trường tồn”. Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống, một lối suy nghĩ dựa trên Vệ đà Thiên thư (Rig Veda). Nền tảng của Ấn giáo là kinh Vệ đà nên cũng được gọi là Vệ đà giáo. “Trật tự vũ trụ” trong Vệ đà giáo có lẽ đã gợi cho Einstein ý tưởng về đạo Vũ trụ (Religion Cosmique với nghĩa Kosmos là Trật tự trong tiếng Hi Lạp).

Ấn Độ giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa.

Đây là định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966:

1) Chấp nhận những ý niệm Vệ Đà là thẩm quyền cao hơn hết trong mọi lãnh vực đạo giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ.

2) Phải có óc khoan dung và thiện tâm thiện ý vì Sự thật có nhiều hình thức biểu lộ.

3) Chấp nhận 6 hệ thống (Lục hệ) trong triết học Ấn Độ và nhịp điệu thế giới diễn tiến theo nhiều chu kỳ gọi là du già (yuga). Mỗi chu kỳ qua từng thời, sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt, tiếp nối nhau không bao giờ ngừng (luân hồi).

4) Chấp nhận sự tin tưởng là có tái sinh và có đời sống trước.

5) Công nhận là có rất nhiều phương cách đi đến giải thoát (Moksha).

Căn bản của Ấn giáo là kinh Vệ đà được truyền khẩu từ 5000 năm cho tới 1500 năm trCN. Theo truyền thuyết, Brahman (Phạm Thiên, Chân Như) đã thần khải Kinh Vệ đà cho các vị hiền giả (Rishi). Trời trong Vệ đà Thiên thư là Brahman, Đấng Tuyệt đối tạo ra vạn vật.

Hai ý niệm nòng cốt của Ấn giáo cổ xưa (thời kỳ Vệ đà giáo) là:

1. Đại ngã (ParamAtman) Brahman: là Một, là Hiện thực duy nhất, là Linh hồn tuyệt đối của vũ trụ, là Tuyệt đối, Siêu nghiệm, Bất biến, Vô hình thể, Trường tồn, Vĩnh hằng, Quán thông mọi chuyện, có mặt mọi nơi chốn, là nguyên lí của vũ trụ không có khởi đầu không có tận cùng. Là Sự Thật tuyệt đối, thế giới chỉ là hư huyền.

2. Tiểu ngã (atman), một phần đồng nhất của Bản thể Brahman. Không có linh hồn cá biệt phải được hiểu là sau vòng luân hồi tiểu ngã sẽ trở về đồng nhất với Bản Ngã Brahman.

2. Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn

– Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như

Để trả lời các giáo sĩ Bà La môn muốn chỉ trích Phật là không biết Trời, Phật dạy “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”

Sở dĩ Phật ít nhắc tới Brahman là vì Phật muốn mọi người hiểu Brahman theo nghĩa Vệ đà kinh để xa lánh các giáo sĩ Bà La môn đã phân Brahman ra làm 33 vị thần mà 3 vị thần chính là Brahma, Visnou và Shiva, để lôi kéo tín đồ đem lợi lộc và đặc quyền thờ phụng cho đẳng cấp Bà la môn. Tôi cũng xin nhắc lại là Bà la môn giáo chỉ ra đời trước Phật chừng khoảng 100 năm (thế kỷ thứ VI-V trCN).

Phải hiểu là khi Phật dạy “sinh ra từ Niết bàn” chứ không phải “ở” Niết bàn là Phật có ý nói Niết Bàn không phải là nơi chốn mà Niết Bàn cũng là Chân Như: Niết bàn không thể là nơi chốn được vì Chân Như, Đấng Vĩnh hằng ở ngoài không gian và thời gian, hiện diện khắp mọi nơi.

Hiểu theo đạo Phật Nguyên thủy Chân Như, Niết Bàn, Phật tính, chỉ là Một.

– Đạo Phật Nguyên thủy không phủ nhận ý niệm tiểu ngã của kinh Vệ đà:

Đạo Phật cấm sát sinh vì mọi sinh vật đều là anh em cả, đều mang trong mình tiểu ngã (soi, self, selbst) một phần của Đại Ngã (le Soi). Ý niệm “tiểu ngã” cũng là ý niệm về phần Phật tính bất biến trong mỗi sinh linh, sợi dây kết tụ nghiệp quả của mỗi sinh linh qua vòng luân hồi để trở về với Bản thể Phật tính hay Đại Ngã Chân Như (Atman, Brahman). Theo trường phái triết học Vệ đà Vedanta, tiểu ngã là nguyên lí tự tại, siêu nghiệm (principe  immanent et transcendant) độc nhất của mỗi sinh linh đi từ kiếp này qua kiếp khác. Theo định nghĩa  này, tiểu ngã có thể được hiểu là sinh linh mỗi con người trong vòng luân hồi trước khi nhập vào Đại Ngã hay Vô ngã (cái Ngã chân thật, không riêng biệt). Tiểu ngã khác với “cái tôi” (le moi) mà nhiều triết gia Tây phương cũng coi là không có thực chất, phiến diện, hay thay đổi (vô thường) vì phụ thuộc vào những trạng thái tâm lí, cảm xúc, hoàn cảnh và sự vật.

Bản thể Phật tính cũng là Bản thể Brahman nên có sự nhất tính giữa Phật và chúng sinh như băng đá với nước trong thuyết “Vạn vật đồng nhất thể” của Ấn giáo.

Tôi cũng xin nhắc lại là Hội Nghị Phật giáo thế giới năm 1956 công nhận đạo Phật Tiểu thừa là thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy và như vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.

3. Có thể suy luận là những ý niệm về Trời Sáng tạo của các đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của kinh Vệ đà

Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) ít nhất là 1000 năm, nên có thể coi Ấn Độ giáo là đạo xưa nhất.

Ý niệm Trời Brahman cũng là ý niệm Trời (Éternel) trong Thánh kinh (Bible) của Do Thái giáo. Đứng về phương diện lịch sử, Ki tô giáo và Hồi giáo cùng tin ở Thánh kinh, nên có thể coi 2 đạo này chỉ là tông phái của một đạo Thiên Chúa duy nhất là Do Thái giáo. Brahman, Jehovah, Phạm Thiên, Chân Như, Chúa, Allah… chỉ là cách gọi Trời khác nhau.

Theo cuốn Giáo lí (Catéchisme) được soạn thảo sau Hội nghị các giám mục toàn thế giới kỳ 2, Công giáo định nghĩa về Trời như sau: “Trời là Nguyên nhân đầu tiên Tự tạo, Tự tại, Tự tồn tạo ra không gian thời gian nên lúc nào, chỗ nào cũng có Trời (Dieu est universel).” Như vậy Trời cũng là Thiên Đàng và trở về Thiên Đàng là trở về Tình yêu của Chúa, trở về Lòng Chúa như những người Ki Tô giáo mong ước, và cũng là mong ước của những người Phật tử muốn được giải thoát khỏi vòng luân hồi để trở về Niết Bàn hay Bản thể Phật tính Từ bi hỉ xả vậy. Brahman vô hình vô thể nhưng cũng có thể biểu hiện dưới hình thức một Trời có ngã vị (un dieu personnel) gọi là Ishvara và sau này trong Bà La môn giáo, dưới biểu hiện Brahma, Visnou, Shiva mà theo Dumézil (1898-1986), đó cũng là biểu hiện Tam thể Trimourti, trong Ấn Độ giáo, “Ba thân” trong đạo Phật, “Ba Ngôi” (Trinity) trong Ki Tô giáo.

Trong cuốn Sáng tạo và giao lưu, do nhà xuất bản Giáo dục in tháng 12- 2007, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư, tác giả nhiều bài tham luận về văn học và về nhà khoa học nhân văn Nga Bakhtin đăng trên talawas bộ cũ, người mới được giải thưởng Phan Châu Trinh về dịch thuật, có nói nhiều về luận thuyết Thần – Nhân loại (Divino-Humanité, Théandricité) của nhà hiền triết Nga Vladimir Solowiev (1853-1900). Nhà thần học Kitô giáo và hiền triết lớn nhất nước Nga này bị quên lãng dưới thời cộng sản Liên Xô, nay là niềm tự hào của nước Nga trên trường quốc tế. Những trước tác của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt của Phạm Vĩnh Cư. Tôi xin nói qua về quan niệm Thiên Chúa của Solowiev qua cuốn sách của Phạm Vĩnh Cư:

Theo thuyết Thần-Nhân loại của Solowiev, Chúa Trời sáng tạo tất cả để cuối cùng vì Tình yêu, hoá thần tất cả khiến thế giới trở thành một tha thể (thể khác) của Thiên Chúa mà không có nó thì Chúa không tồn tại vì Chúa sống trong nó và vì nó. Không còn sự khác biệt ngay cả về bản chất giữa Đấng Sáng tạo với tạo vật đồng nhất thể với Chúa (vsejedinstvo, tiếng Nga), khiến Tạo hoá và tạo vật không còn là hai bản thể riêng biệt như theo thuyết nhị nguyên luận của Descartes: bản thể quảng tính (Res extensia) vật chất và bản thể tư duy (Res cogitans) tinh thần. Quan niệm của Solowiev về Chúa, Đấng Sáng tạo vì tình yêu này tương đồng với quan niệm Đấng Tuyệt đối Brahman “Vạn vật đồng nhất thể” trong Ấn Độ giáo, nên Solowiev hồi ấy bị những người Ki tô giáo đạo Chính Thống (orthodoxes) trách cứ là sa vào thuyết Phiếm thần (Panthéisme) và cùng một tư tưởng với Spinoza (1632 – 1677), người đã đồng nhất Thượng đế với thiên nhiên. Những người này đã tỏ ra không hiểu “Thần – Nhân” là giáo thuyết đẹp nhất trong Ki Tô giáo: Giêsu Kitô con của Chúa Trời đã nhập thể thành người để chuộc tội cho loài người. Đó cũng là ý tưởng Bồ Tát trong đạo Phật.

Trong cuốn sách tiếng Anh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Living Buddha, living Christ dịch tiếng Việt là Bụt trong ta, Chúa trong ta do nhà xuất bản Riverhead Booking in năm 1995, thày Thích Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm với Solowiev là Trời, Phật ở trong ta: “Chúa Ki Tô vừa là con Trời vừa là con Người (Le fils de l’homme) và Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bất nhị nên con người cũng là một với Thượng đế… Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như và sẽ quy về với Chân Như.”

Khi Solowiev phân tích phạm trù “Cái Tuyệt đối” (Thiên Chúa), ông xác định ý niệm “hư không” trong đạo Phật: “Cái Tuyệt đối vừa là cái thoát li mọi thứ, lại vừa là cái mang mọi thứ trong mình. Nó vừa là cái tịnh không, vừa là hữu thể viên mãn nhất, hoàn bị nhất, toàn vẹn nhất… Nó là thể thống nhất của mình với cái phủ định mình“.

Ý niệm “Vô Ngã” trong đạo Phật cũng được Solowiev hiểu theo nghĩa Siêu Ngã để nói về bản tính Chúa Trời: “Ngài là Sinh linh Siêu Ngã vừa là mình lại vừa là tất cả… Là Một – và – Tất cả”. Ý niệm Siêu Ngã này làm cho ta hiểu ý niệm Tam vị Nhất thể (Trinité) trong Ki Tô giáo.

Vòng sinh tử trong đạo Phật là nghĩa sự phục sinh của Chúa Ki Tô cứu rỗi loài người  thông qua cái chết: Chúa phục sinh là cái hứa hẹn và bảo đảm sự tái sinh của nhân loại trong sự sống hoàn toàn bất tử.

Kết luận

Sự tin tưởng vào một Sinh linh tối cao đều có trong mỗi con người và nằm ở tầng sâu nhất của tâm thức. Đấng sinh linh Tối cao biểu hiện trong các đạo giáo dưới những hình thức khác nhau hay được hiểu khác nhau nhưng tựu chung vẫn chỉ là Một. Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.

Theo kinh sách Vệ đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật. Những người Ki tô giáo đích thực cũng cùng một quan điểm: Giáo hoàng Jean Paul II đã luôn mở cửa nhà thờ mời Đức Đạt lai Lạt ma làm lễ. Có 84 ngàn pháp môn nên những người không theo đạo nào cả cũng có thể mở một cánh cửa đi tới Trời.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

94 Comments (bài “Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa”)

  1. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Phong Uyên viết “Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.”.

    Lối nghĩ này thường gặp ở nhiều người Thiên chúa giáo phương Tây khi mới tiếp xúc với đạo học Đông phương. Họ muốn nhìn thấy tất cả, ở mọi nơi, thể hiện theo đúng ý Chúa rộng khắp, và các “thánh nhân” ở Đông phương cũng là những vị “tiền hô” (đi trước báo hiệu Chúa sắp đến) như Giăng Baptist trong Tân Ước. Đến Trung Hoa, các vị thừa sai khi thấy Khổng Tử nói về thiên mệnh, tức tuân theo ý Trời, đã tưởng đang gặp một ông Giăng khác, và tặng cho Khổng Tử một cái tên Latin rất trang trọng là Confucius. Nếu lúc đó họ biết tới Mặc Tử (Mặc Địch) chắc hẳn mừng hơn vì Mặc Tử suốt đời tuyên bá không mệt mỏi thuyết Kiêm Ái, gần giống thuyết Bác Ái của đạo Thiên chúa. Sau này, họ ca tụng, dịch kinh và giảng về Lão Tử, vì coi “đạo” trong Đạo Đức kinh có chỗ giống nghĩa với “logos” (tiếng Hy Lạp có nghĩ là lời nói) trong Tân Ước của Giăng được dùng chỉ Ngôi Lời (Jesus). Nhưng Lão Đam cũng viết một câu nghe chói tai “Thiên điạ bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu” (Ông Trời thật bất nhơn lấy vạn vật làm con chó rơm).

    Đạo Phật thoát thai từ truyền thống văn hoá và tôn giáo ở Ấn Độ cách nay hơn 2500 năm, nên những điều Thích Ca giảng dạy cho tín đồ tất vẫn trong nếp nghĩ quen thuộc, gần với tập tục tin thờ lâu đời của người Ấn thời đó. Nhiều đại đệ tử của ngài (như Xá Lợi Phật, Mục Kiều Liên) trước theo đạo Bà la môn, có người theo đạo Bái Hỏa, tu khổ hạnh hay nhiều đạo giáo khác lúc đó, nhưng dòng tư tưởng chính vẫn là Bà la môn. Khi họ tin theo Thích Ca họ dẫn cùng theo với họ hàng trăm, hàng ngàn đệ tử trước kia của họ. Muốn các môn đồ này nghe hiểu, dễ chấp nhận thuyết lý mới Phật đã dùng nhiều ngôn từ, khái niệm quen thuộc với nhiều người trong Bà la môn. Như tôi có dịp nói như đó là những quan niệm về Nghiệp (Karma), luân hồi (Samsara). Còn về Niết bàn (Nirvana) tôi vừa đọc lại thấy đây là từ Ấn giáo về sau này mượn của Phật giáo (Nirvana có trong ngôn ngữ Ấn trước Phât giáo, nhưng không có trong kinh điển Bà la môn trước thời Phât, như Áo nghĩa thư). Nhưng nếu xét khi Tiểu ngã lìa xác về quy thuộc Đại ngã, thì theo quan điểm của Bà la môn lúc đầu không thể gọi đó là Niết bàn. Sau này họ mới mượn ý tưởng nhập Niết bàn của đạo Phật.

    Nói như cách của ông Nguyễn Hữu Liêm, Thích Ca là người “canh tân” Bà La môn cũng không đúng, mà phải là cách mạng, vì ngài lật đổ ngôi vị chủ tể của Brahma, và xoá bỏ hình ảnh Atman. Trong nhiều kinh Phật (viết sau này) kể chuyện sau khi Thích Ca đắc đạo, Phạm Thiên (Brahma) đến gặp Phật và yêu cầu ngài truyền giảng pháp giải thoát cho thế gian, sau vài ngày Phật nhận lời, và cũng nhiều kinh kể chuyên Phạm Thiên từng đến nghe Phật thuyết pháp.

    Thích Ca nói ngài chủ trương Trung đạo, không chấp thường kiến hay đoạn kiến, hiểu là không nghiêng về duy tâm (duy thần) hay duy vật. Cũng hiểu là không cần thiết phải (lớn tiếng) bài bác bên nào.

    Xin nói thêm, khi đã chấp nhận thuyết luân hồi đạo Phật cũng chấp nhận quan niệm về tam giới, tức ba cõi, của Bà la môn đã có từ trước, gồm dục giới, sắc giới, và vô sắc giới. Dục giới là cõi loài người, A-tu-la (nửa thần), địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, và sáu cõi Trời. Cõi Sắc giới gồm 18 cõi Trời của Phạm thiên, sau cùng là cõi Vô sắc. Thiền định Phật giáo, nhất là của Nam tông, cho cõi Sắc giới thuộc Tứ Thiền (người nhập Tứ thiền vào cõi sắc giới được), vẫn cần phải vượt qua, đến cõi Vô sắc, sau đó mới vào được Niết bàn. Tôi nghĩ nóí về các cõi này nên hiểu theo nghĩa ẩn dụ. Trong Thiền (tông Thiên Thai) có câu nói “Nhất niệm Tam thiên”, nghĩa là trong một niệm chứa được cả ba ngàn thế giới, tức khắp các cõi (xảy ra trong tâm ý, không phải bên ngoài).

  2. Lê Quốc Trinh viết:

    Bác Nguyen Mai Linh thân mến,

    Bác muốn bàn sâu thêm về Đạo Phật, tôi rất vui lòng hầu tiếp bác, chỉ ngại mỗi một điều là chủ nhà (Phong Uyên) không mấy hài lòng, và diễn đàn Talawas lại cho rằng chúng ta cố tình dẫn dắt nhau đi xa chủ đề.

    Quan điểm của bác về hai chữ Dục và Duyên rất hay, nhưng tôi đề nghị chúng ta dừng tạm một tý, hớp một ngụm trà ướp hoa sen thơm phức và chờ cho mọi người đóng góp ý kiến đã nhé.

    Mến chào bác,

  3. nguyen mai linh viết:

    Nhân Duyên, Nhân Quả, Trùng Trùng Duyên Khởi, Vô Thường, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Vô Ngã, Sắc Sắc Không Không, Luân Hồi, Từ Bi Hỷ Xả. Bao nhiêu đó đủ làm nên một kho tàng trí tuệ (Trích từ bài phản hồi của bác Lê Quốc Trinh)

    Theo tôi thì mọi trí tuệ của đạo Phật như đã dẫn ở trên đều quy về chữ Dục, và chữ Duyên. Ở đó, Dục (Lòng ham muốn) là cội nguồn của mọi sự khổ đau trên đời. Duyên, theo tôi, nôm na là cơ hội hay là chất xúc tác.

    Chữ Dục khi đức Phật đi tìm ra căn nguyên của khổ đau, sinh lão bệnh tử. Chữ Duyên, theo tôi, được các đệ tử dùng để giải thích trong việc hoằng pháp, sau khi đức Phật viên tịch. Chữ Duyên gần gũi với đời thường hơn, còn chữ Dục đi kèm với chữ Diệt, Diệt Dục là phương cách tiêu trừ mọi khổ đau, có vẻ xa rời thực tế, chỉ thích hợp cho những người quyết chí tu tập, quên đi sự đời. Tôi thích hai chữ Duyên và Tùy Duyên để giải thích mọi chuyện, và theo tôi, mọi trí tuệ của đạo Phật đều quy tất cả vào chữ Duyên, và chính chữ Duyên là cội nguồn của mọi sự mọi việc trên cõi thế này.

    Nói dông dài như thế, để tóm lại cái kho tàng trí tuệ đạo Phật vào một chữ: DUYÊN.

  4. Trương Đức viết:

    @bác Hòa Nguyễn,
    Bác nói: “Nhưng trích gì thì trích vẫn phải đặt câu trích dẫn vào đúng ngữ cảnh phát sinh ra nó, có khi là cả một quyển sách, hay trong bối cảnh câu đó được nói lên, như thế câu trích mới đủ ý nghĩa. Thường người chỉ “trích” không tránh được cái lỗi này.” Tôi đoán rằng, hình như vì từ “chỉ trích” mà bác nghĩ rằng tôi “ám chỉ” (trích) bác, cho nên bác vẫn cố “bắt lỗi” cho được tôi thì thôi!:) Hàhà, như tôi đã nói trong phản hồi trước của mình: do kiến thức của mình có hạn, nên chắc chắn, khi phát biểu về điều gì đấy, tôi sẽ “vấp” phải những “lỗi”, “lạc” với chủ đề của bài viết. Và tôi cũng sẵn sàng công nhận những “lỗi” “lạc” với chủ đề của bài viết ấy của mình với tinh thần học hỏi. Nhưng với “cái lỗi này” của bác, tôi xin không thể “công nhận” được. Đó là bởi vì: tôi đã “đặt” điều tôi “trích” là “Điều 1 và Điều 5” vào đúng “ngữ cảnh” của chúng đấy chứ, đó chính là “Mười bốn điều răn của Phật” đấy. Tôi đã viết rõ ràng là: “tôi lấy ví dụ là “Mười bốn điều răn của Phật””. Hay bác nghĩ đó không phải là “ngữ cảnh” của chúng? Vậy thì, tiện đây xin bác vui lòng cho biết cái “ngữ cảnh” của chúng ở đây là gì? Còn cái “bối cảnh câu đó được nói lên” của chúng, thì do tôi nghĩ BBT talawas sẽ không đăng những phản hồi “huyên thuyên xích đế lạc đề”, nên tôi đã không ghi rõ kèm theo. Nhưng nếu BBT talawas cho phép, thì tôi xin ghi ra đây cho bác vậy: Tôi nghe chúng “được nói lên” ở… Chùa Hương trong một dịp đi tham quan Chùa Hương cùng bạn bè vài năm trước đây. Bọn tôi mỗi đứa cũng đã mua cho mình một tấm phách “Mười bốn điều răn của Phật”. Còn về việc bác cho rằng, chúng (Mười bốn điều răn của Phật) không phải là những điều “răn” thì ý kiến của tôi là: “răn” ở đây, không phải là “răn đe” như bác hiểu, mà là “răn dạy”, kiểu như “những điều triết lý của nhà Phật” vậy. Tương tự như thế, cái “ngữ cảnh” của những lời kinh tôi trích ở “trong đạo Thiên Chúa giáo” là Kinh Thánh, khi tôi viết: “Kinh Thánh “phán”…”. Nói tóm lại, tôi không có ý “ám chỉ” (trích) bác về điều gì cả. Nhưng tuy vậy, cũng xin cám ơn bác về những góp ý của bác dành cho tôi!

    @bác Lê Quốc Trinh,
    Xin cám ơn bác về phản hồi của bác và bài thơ “Kẻ Thù Ta” mà bác có nhã ý ghi tặng tôi. Tiện đây, xin chia sẻ với bác vài suy nghĩ tiếp theo của mình như thế này: Liên hệ với tình hình đất nước của chúng ta, giá mà độc tài đang cầm quyền ở VN, tức là ĐCSVN, hiểu được những lời “răn dạy” của đạo Phật, thì tốt đẹp biết bao! “Mọi sự do Tâm tạo”!

  5. Lê Quốc Trinh viết:

    Mỗi lần nghe ông Anh Dũng lên tiếng tôi bật cười thầm, ông nói (Quote):

    …”Rõ ràng là Thích Ca ít nhất cũng đã có một LỜI NÓI ( ý phủ định ). Nhưng ngoài lời phủ định ấy ra thì kinh sách cũng chép cả những lời của Thích Ca trước đó nữa. Cho nên, hoặc Thích Ca là một kẻ tráo trở ( may cho Thích Ca là ngày xưa chưa có thiết bị ghi âm)”…
    _______________________________

    Tôi sực nghĩ đến tình trạng xã hội VN bát nháo như hiện nay, mấy cái trò đạo văn, đạo nhạc, đạo sách, đạo tranh …ôi chao ! Sao mà nó lộng hành phổ biến tràn lan, ông Anh Dũng chắc biết rõ hơn tôi hỉ ?

    Vậy thì bọn con buôn đâu cần biết “sáng tạo” là gì, hễ thấy tác phẩm của ai có giá trị là họ sẵn sàng “đem luộc nguyên con”, sách giáo khoa bị “luộc” dài dài. Bản nhạc nào của Nhật Bản, hoặc của Nam Hàn thấy hay hay là “bê nguyên con” đem vô tác phẩm của mình rồi đem ra chợ quảng cáo, ông Anh Dũng biết chớ.

    Đức Phật Thích Ca tiên đoán trúng phong phóc mấy cái mánh mung con buôn thần thánh, cho nên Ngài mới cảnh cáo rằng: ” Suốt 45 năm nay ta không nói một lời nào”, ý Ngài muốn nói chúng sinh nghe Ngài giảng phải hiểu ý để tu hành chứ đừng có nhắm bắt từng câu từng chữ rồi đem ra hù hoạ người khác. Ngài đâu có nói sai, ngàn năm sau đã có kẻ dám đem tên tuổi Ngài ra bảo kê cho hình tượng Phật A Di Đà, rồi tung hô hình ảnh, kinh sách và đúc tượng ào ào. Thay vì đi vào Tâm bên trong để tu sửa, thì họ lại quay ra ngoài mơ tưởng đến hình tượng ảo ảnh và một thiên đường cực lạc xa xôi.

    Kết án Đức Phật Thích Ca là tráo trở thì Ngài chỉ cười khì, không chấp. Bởi vì mỗi người đều có một vị Phật sáng ngời bên trong Tâm, không biết đi vào bên trong để lau chùi đánh bóng vị Phật đó thì nói chuyện với Phật Thích Ca cũng vô ích.

  6. Anh Dũng viết:

    Thứ nhất, ông Kim Sinh lại bịa đặt:
    http://www.talawas.org/?p=17073#comments
    Định nghĩa: Đạo Phật là một hệ tư tưởng do Thích Ca Mâu Ni xây dựng.

    Như vậy là cái định nghĩa “Đó là toàn bộ những lời Phật Thích Ca nói” là định nghĩa của ông Kim Sinh chứ không phải của tôi.

    Thứ hai: “kinh sách chép vào cuối đời Phật lại nói “Suốt 49 năm ta chẳng nói một lời nào””

    Rõ ràng là Thích Ca ít nhất cũng đã có một LỜI NÓI ( ý phủ định ). Nhưng ngoài lời phủ định ấy ra thì kinh sách cũng chép cả những lời của Thích Ca trước đó nữa. Cho nên, hoặc Thích Ca là một kẻ tráo trở ( may cho Thích Ca là ngày xưa chưa có thiết bị ghi âm ), hoặc có thể cộng cả cái lời phủ định ấy cùng với “nhiều lời” ( Thích Ca không bị câm, vẫn đối thoại ngon lành cơ mà ) trước đó để định hình một cái hệ tư tưởng chung.

    Tóm lại, cả ông Kim Sinh và Thích Ca đều thích chơi trò nhào lộn ngôn ngữ.

  7. Quý vị gì đó nói với tôi về chuyện Tịnh độ cũng là “1 phát ăn ngay”, và Lê Quốc Trinh đã có lời phản biện lại quý vị.

    Tôi nói vậy luôn, cố gắng cô đọng nhất: Tạm chưa bàn chuyện như Lê Quốc Trinh nói, cứ cho tất cả các Tông phái hiện nay (được nhà nước công nhận) của Phật giáo là Phật hết, theo tình thần khế lý khế cơ mà ra vậy, Tịnh độ tông cũng vậy, và “1 phát ăn ngay”. Này nhé! Tịnh độ đâu có công nhận là linh hồn con người chỉ được thổi vào khi người mẹ mang thai bởi do 1 đấng quyền năng tạo ra linh hồn người đó, rồi chỉ 1 lần làm người duy nhất trên cõi đời nay, rồi khi chết chỉ có 1 trong 2 con đường: THIÊN ĐÀNG không thì ĐỊA NGỤC. Mà, Tịnh độ khi nói VÃNG SANH CỰC LẠC cũng mắc nhiên thừa nhận là CHÚNG SANH TU NHIỀU KIẾP TÍCH ĐỨC mới được làm người, nhiều kiếp mới đựơc nghe Phật pháp, rồi nhiều kiếp mới tin Phật pháp, rồi nhiều kiếp nữa mới có DUYÊN để thành Phật tử dù là Phật tử danh nghĩa hay tại tâm.

    Rõ ràng là Tịnh độ đâu có 1 phát ăn ngay mà cũng phải trải qua vô lượng kiếp, hằng hà sa số Phật.

    Nghĩa là tôi đã đúng khi cho rằng Phật giáo có Luân Hồi; khác với các Tôn giáo khác, để nói với Phong Uyên rằng đã lấp đầy chỗ khác biệt giữa các tôn giáo đi đã rồi hãy đưa nó về 1 mối.

    Tôi đồng ý với bất kỳ ai có ý tưởng và có quá trình xây dựng đoàn kết các tôn giáo, trên cơ sở nhiên cứu tìm ra những cầu nối, những mục đích chung.

    Song, không nên lộ rõ hay ẩn ý chính trị muôn lôi kéo các tôn giáo khác về với tổ chức tôn giáo người trần mắt thịt lòng tham vô đáy mưu đồ cướp linh hồn mọi người phục vụ cho đế chế ngàn năm xâm lược của mình; bằng cách gây chia rẽ đạo Phật Bắc Tông và Nam Tông.

    Quý vị cũng chỉ là những học giả, đem cái hữu hạn ra để đánh giá cái vô hạn (Phạm Thiên, Bụt, Chúa cha, Allah…) thì làm sao dám nói đâu là Chính tông, đâu là Ngụy.

    Với những ai có lòng đoàn kết dân tộc, cũng hãy biết rằng, trong đa số bà con Công giáo người Việt trong ngoài nước, bộ phận nhỏ thiểu số đang âm mưu lập lại thời kỳ Ngô trị, nhưng lại gặp phải sự phản đối của nhiều phía, trong đó đáng gờm nhất là hơn 45 triệu Phật tử trong nước (số liệu của trang phattuvietnam.net cuối năm 200), nên họ âm mưu chia rẽ Bắc Tông Nam Tông.

  8. Hoangnguyen viết:

    Tôi cũng nghi nghi giống dukkhakarma cách tiếp cận tri thức và cách phát biểu muốn chứng tỏ tính “hàn lâm” “học thuật của một số “thức giả” trên diễn đàn này. Tôi không dám nói ra vẻ quả quyết và am hiểu như các “thức giả” đó, nhưng tôi đoán hầu hết kiến thức (có đúng, có sai, có khi cố tình viết sai) mà một số “thức giả” luận bàn về Phật giáo hoặc các tôn giáo khác đều lấy từ ý kiến hoặc ý tưởng của các vị thức giả nhiều năm chuyên tâm nghiên cứu trong lãnh vực Phật giáo hoặc các tôn giáo khác (cũng có khi các ông chỉ nghe một vài kiến thức đó thoang thoáng đâu đó trong không gian thôi). Mà đã lấy từ ý kiến và ý tưởng của các học giả chuyên môn (mà thực ra trong số các học giả được cho là chuyên môn đó, cũng có người được tạo ra để chuyên tung “hỏa mù” nhằm gây hận thù và chia rẽ giữa các tôn giáo thôi), thì mong một số “thức giả” trên diễn đàn Talawas tôn trọng tài sản tri thức của người khác. Là người trí thức mà không biết tôn trọng tri thức của người khác thì phải xem lại tư cách trí thức của mình? Dựa theo quan điểm và ý kiến của người khác, rồi nói lại (không trích dẫn, rồi cho là của mình), chẳng cần biết primary sources đúng sai thế nào, là cách nói “leo”, nói leo vô trách nhiệm.

    Nhân đây, tôi mách cho các ông một cách, lần sau, có viết tiếp về đề tài Phật giáo (cho dù để xuyên tạc hoặc gì gì cũng được), nếu khôn, các ông nên mượn lời các học giả trong sách mà nói lại (xin nhớ là trích dẫn rõ ràng), để đúng sai gì mấy ông đó chịu. Chứ viết kiểu phán phán ngang ngang (giống bà đang làm tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích), và lâu lâu có vài câu bỏ trong ngoặc kép mà lại chẳng ghi nguồn, thì chẳng phải là cách viết của thức giả.

    Xin thưa thêm với các ông, ông bà ta có dạy, cái gì mình biết chắc và biết rõ thì mới “thốt” ra lời, còn cái gì chưa biết hoặc chỉ biết sơ sơ, nếu có tâm muốn học hỏi thì đặt câu hỏi và “dựa cột” mà nghe người biết hướng dẫn hoặc chỉ dạy; đừng nên thể hiện ta biết nhiều thứ như vậy. Cách thể hiện đó, người tri thức cười chê đấy.

  9. @Anh Dũng
    @Trưng Nữ Hoàng :

    Mấy ngày nay không vào Talawas, đúng như 2 bạn nói, tôi nhầm tên nhà bác học, sự kiện khách quan tôi muốn đề cập là đúng như Anh Dũng đã nói, thành thật xin lỗi, dù chi tiết rất nhỏ; điều tôi muốn so sánh với tác giả Phong Uyên không phải là tên nhà bác học mà là KHÁCH QUAN HAY LÀ KHÔNG.

    Còn lại, nội dung khác trong những lời thảo luận của tôi tôi vẫn giữ nguyên.

  10. Kim Sinh viết:

    Bạn Trương Đức nói : “Tôi đã phát hiện ra, có một “mâu thuẫn chung” của tất cả các tôn giáo trên Trái Đất này, đó là: chỉ có một “Đấng Toàn Năng”, nhưng lại có đến ti tỉ thứ tôn giáo khác nhau, và tôn giáo nào cũng cho rằng, “Đấng Toàn Năng” ấy là của mình, duy nhất của mình!”

    KS: Tôi cũng phát hiện ra một điều là từ khai thiên lập địa đến nay con người cứ tìm kiến một đấng toàn năng, nới thì bảo đó là thượng đến, nới thì bảo đó là đại ngã, nơi thì bảo đó là chân như…
    Lạ nhỉ, tại sao như vậy ? Bộ có cái ông Thượng Đế đó thì ta sống tử tế hơn, hạnh phúc hơn hay sao ? Không có ổng thì ta buồn hơn, đau khổ hơn hay sao ? Hay là tin có ổng ta cầu xin ổng mới cho và ngược lại ? Liệu ổng hiện ra giữa trời thì cuộc sống trái đất này sẽ khác ư ?
    Tôi nghĩ, thay vì vậy tại sao chúng ta không chuẩn bị mình cho thật tốt, tốt đến mức có ổng hiện ra giữa trời thì cũng có thể choàng vai ổng mà đi uống cà phế thay vì sụp lạy hoặc sợ hãi, hoặc nếu như đến ngày 30 tháng chạp, khi nhắm mắt mà biết là sẽ rơi vào chô rỗng không hư vô thì cũng không sợ hãi mà tiếc nuối cái thế giới này.
    Rõ ràng con người ta có nhiều thứ để làm, để lo lắng chuẩn bị hơn là bận tâm về cái ông “chẳng làm gì mình cả” vậy mãi hay không ?

  11. Kim Sinh viết:

    Trong diễn đàn này cách nay chưa lâu, khi thấy bạn Anh Dũng phê phán Phật giáo là “hoàng tưởng” tôi đã hỏi lại, bạn định nghĩa Phật giáo như thế nào mà phê phán vậy. Anh Dũng trả lời “Đó là toàn bộ những lời Phật Thích Ca nói” .
    Tôi trả lời là “Ui, nếu vậy thì càng khó, vì kinh sách chép vào cuối đời Phật lại nói “Suốt 49 năm ta chẳng nói một lời nào” thì bạn Anh Dũng biết bám vào đâu để dịnh nghĩa Phật giáo để đưa ra kết luận ấy ?
    Tiếc là đến khi enter gởi thì topic hết thời hạn tranh luận. Nay nhân dịp này, cũng lại xin hỏi bác Phong Uyen, bác định nghĩa Phật giáo là gì và như thế nào để bác đưa ra cái bài viết này vậy ? Nó là duy tâm hay duy vật, nó là thờ thần hay vô thần, nó là luân lý dạo đức hay nó là triết lý nhân sinh, thế giới này là có thật hay không có thật, linh hồn là có hay không có, đạo Phật cần con người ta hiểu cái gì ? Nó cần nhận thức hay không cần nhận thức ? Nó cần hiểu biết hay không cần hiểu biết ?…
    Có lẽ như bất cứ chuyện gì khác, ta cần phải đặt tên, định nghĩa đối tượng trước khi bảo nó là gì, có ích hay không. Bác Phong Uyên làm chuyện này được không, định nghĩa Phật giáo là gì ?
    Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ tôi biết bác không làm nổi chuyện này. Ngay chuyện Thiền Tông mà bác bảo là sản phẩm của Trung Hoa thì bác đã bị những định kiến có trước che lấp mọi sự khách quan rồi. Nói bác hay Trung Hoa họ không chịu tôn thờ ai là thầy họ đâu một khi họ không thừa nhận tâm phục khẩu phục chuyện đó. Toàn bộ giáo lý từ lý thuyết đến thực hành của Thiền Tông đều là những kinh sách phát xuất từ Ấn Độ, trong đó phần chính nhất là những bộ kinh được cho là do chính Phật thuyết của Phật giáo Nguyên Thủy đàng truyền thừa.
    Nói khó bác vậy thôi chứ tôi nghĩ việc bác làm vẫn có ích cho một số người mới tìm hiểu Phật giáo, chỉ có điều, bác đừng tự tin rằng những điều bác hiểu đó là tuyệt đối đúng và đã hết. Phật giáo còn một mớ chuyện để chúng ta lao vào tìm hiểu, bác ạ.
    HTT

  12. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Tôi rất đồng cảm với những ý kiến của các anh Hoangnguyen và dukkhakarma.
    Một bài viết ôm đồm tham vọng quá lớn, nhưng nội dunng thì, xin lỗi, không hiểu được những ý tưởng đơn giản nhất của đạo Phật.
    Tôi sẵn sàng đối thoại với tác giả Phong uyên.

  13. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Trương Đức viết: “khi bàn đôi lời về tôn giáo, tôi chỉ “trích” các lời kinh của các tôn giáo thôi, chứ không dám “chỉ trích” tí gì các tôn giáo cả!”

    Nhưng trích gì thì trích vẫn phải đât câu trích dẫn vào đúng ngữ cảnh phát sinh ra nó, có khi là cà một quyển sách, hay trong bối cảnh câu đó được nói lên, như thế câu trích mới đủ ý nghĩa . Thường người chỉ “trích” không tránh được cái lỗi này.

    Theo tôi nghĩ, với đạo Phật, câu 1 và câu 5 do ông Trương Đức trích không có gì mâu thuẫn, mà chỉ nhìn vấn đề ở nhiều mặt nên tất nhiên thấy khác. Tôi cũng hiểu đó không phải là “điều răn” (nếu cho là điều “răn” có thể vô tình làm hiểu sai đạo Phật).

    Về chuyện Chúa Jesus chết để “cứu chuộc tội lỗi loài người” tôi nghĩ được giải thích thông suốt theo đúng giáo lý Thiên Chúa giáo, dựa vào một số tiền đề, và chắc khác cách hiểu đơn giản của ông Đức. Nhưng hãy để vị nào đó lên tiếng.

  14. Lê Quốc Trinh viết:

    Chào ông Trương Đức,

    Ông nêu thắc mắc (Quote):

    …” trong đạo Phật: tôi lấy ví dụ là “Mười bốn điều răn của Phật”. Điều 1 nói: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”. Điều 5 nói: “Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình”. Tôi mới nghĩ: Mình đánh mất cái “kẻ thù lớn nhất” của đời mình là một “sai lầm lớn nhất”, vậy thì cái “đúng đắn lớn nhất” của đời mình là gì? Là giữ lại, là “sống chung” với “kẻ thù lớn nhất” của đời mình? Tôi thấy, trên đời này chưa có ai lại “ngu ngơ” như thế cả!”…
    _______________________

    Đáng lý phải để cho tác giả Phong Uyên lên tiếng giải đáp, nhưng tôi có cảm tưởng người trách nhiệm ra chủ đề đang lúng túng. Thôi thì cho phép tôi đóng góp với ông Trương Đức đôi lời.

    Đạo Phật đưa ra nguyên tắc Tu Tâm Sửa Tánh, hướng dẫn chúng sinh đi vào bên trong tâm thức để tự tìm hiểu mình và quan trọng là nắm quyền kiểm soát ba nguồn gốc gây “Nghiệp” đó là: Thân, Khẩu và Ý. Trong đó kiếm soát Ý là khó nhất vì tư tưởng là nơi xuất phát mọi “vấn đề”. Khi mà ý tưởng bị cảm xúc nhất thời ảnh hưởng (Ý Nghiệp) mất suy nghĩ sâu xa thâm trầm, thì đưa đến Khẩu Nghiệp (buông lời nặng nề, xúc phạm mọi người xung quanh), xa hơn nữa là hành động (Thân Nghiệp) có thể gây tội ác. Do đó mới có câu “Mọi sự do Tâm tạo”, kẻ thù trước tiên cũng ở trong nội tâm ta, người bạn thân thiết cũng nằm trong Tâm ta, chính ta phải tu tỉnh để làm thân với anh bạn lương tâm trong sạch và xa lánh kẻ thù lắm thủ đoạn. Đó chính là đường lối tu hành theo Bát Chánh Đạo, trước hết là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, đi dần đến Chánh Ngữ.

    Tiện đây tôi xin trích tặng ông bạn Trương Đức bài ca “KẺ THÙ TA” của Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của thiền sư Thích Nhất Hạnh:

    Kẻ Thù Ta

    Kẻ thù ta đâu có phải là người
    Giết người đi thì ta ở với ai ?

    Kẻ thù ta tên nó là gian ác
    Kẻ thù ta tên nó là vô lương
    Tên nó là hận thù
    Tên nó là một lũ ma…thế thì…

    Kẻ thù ta đâu có phải là người
    Giết người đi thì ta ở với ai ?

    Kẻ thù ta mang áo mầu chủ nghĩa
    Kẻ thù ta mang lá bài tự do
    Mang cái vỏ thật to
    Mang cái rổ danh từ
    Mang cái mầm chia rẽ chúng ta…thế thì…

    Kẻ thù ta đâu có phải là người
    Giết người đi thì ta ở với ai ?

    Người người ơi thương xót người nhỏ bé
    Người người ơi thương xót người ngây thơ
    Thương xót người bị mua
    Thương xót người bị lừa
    Thương xót người thương xót ta… thế thì…

    Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
    Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai ?

    Kẻ thù ta tên nó là vu khống
    Kẻ thù ta tên nó là vô minh
    Tên nó là lòng tham
    Tên nó là tị hiềm
    Tên nó là sự ghét ghen …thế thì…

    Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
    Nó nằm đây nẵm ngay ở mỗi ai ?

    Kẻ thù ta trong mắt thèm lơ láo
    Kẻ thù ta trong góc đầu tự kiêu
    Trong cõi lòng quạnh hiu
    Trong óc hẹp tiêu điều
    Trong giấc mộng xâm chiếm nhau…thế thì…

    Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
    Nó nẵm đây nẵm ngay ở mỗi ai

    Người người ơi yêu mến người mãi mãi
    Người người ơi yêu mến người không nguôi
    Yêu mến người đầy vơi
    Yêu mến người đêm ngày
    Yêu mến người ta nắm tay…thế thì…

    Kẻ thù ta đâu có phải là người
    Giết người đi thì ta ở với ai ?
    Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
    Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai !

  15. xyz viết:

    Ui, tui mê cái kiểu hý luận của nhà Phật học Lê Quốc Trinh liền đó: “Kinh sách Phật Giáo ấn tống tràn lan từ hơn hai ngàn năm nay, từ truyền khẩu cho đến truyền tai, tín đồ chư tăng cứ việc phóng tay sáng tác, tán dương hết ông Phật này (Phật A Di Đà, Phật Di Lạc) rồi đến Bồ Tát khác (Quan Thế Âm, Đia Tạng Vương, Phổ Hiền) làm gì có cơ quan nào dám đứng ra kiểm tra và kiểm duyệt hở ông (bà) XYZ ?”, rồi tới: “Còn quý vị A Di Đà, Di Lặc sao mà sướng thiệt, tự dưng buông lời thệ nguyện hứa hẹn hàng chục chuyện rồi được mang danh hiệu Phật quá ư dễ dàng. Ông Phật A Di Dà chỉ hứa dẫn dắt linh hồn tín đồ Tịnh Độ chỉ sau khi họ chết mà thôi, chớ lúc còn sống nhăn răng thì “ráng mà chịu cực khổ trăm bề”. Nhưng có ai đã dám thử “chết đi” để kiếm chứng lời hứa hẹn “vãng sanh miền Tây Phương Cực Lạc” không? Internet bây chừ phát triển rộng khắp, vào You Tube là biết liền hà !” Vậy té ra 80-90% Phật tử trên thế giới đều bị ăn quả lừa cả hàng ngàn năm nay của chính các đồng đạo đáng kính của họ với sự tiếp tay của cái gọi là “ngành in ấn” hay “truyền thông đại chúng” chi chi đó? Cũng có nghĩa đức tin Phật giáo đại đa số đều dựa vào tà thuyết cả eng Quốc Trinh hí? Nghĩa là gọi là “mê tín dị đoan” hay “thuốc phiện mê dân” đó hỉ? Cái vụ phát hiện này lớn à nghe. Vậy là trước hết nên đóng cửa gần hết các chùa chiền ở đây nì, rồi tới các trang thuvienhoasen.org, quangduc.com, tangthuphathoc.com, phatgiaovnn.com, daitangkinhvietnam.org, phatviet.com, lotusmedia.net, buddhanet.net này nọ trên Nét tề, eng hí? Tui cũng cám ơn eng Trinh nhiều, may nhờ eng chỉ đường cho không thì tui xém nữa đòi vô đạo Phật rồi, mà nhào vô đó có nghĩa là nhào vô tông Tịnh Độ, chớ tông Thiền với tông Mật cao siêu quá căn cơ thấp lùn như tui mần răng mà rớ tới cho nổi? A mà tui quên, tông Thiền (http://www.quangduc.com/coban/25phpt05-6.html) hay Mật (http://www.quangduc.com/coban/25phpt05-7a.html) chi đó nghe biểu cũng dính dáng tới Đại Thừa, nghĩa là Phật giáo phát triển đó mà, nghĩa là cũng sản phẩm của ba cái ông “tín đồ chư tăng cứ việc phóng tay sáng tác”, không có ai “dám đứng ra kiểm tra và kiểm duyệt” hết trọi, tin mần răng cho nổi, eng Trinh hí? Chừ tui thành khẩn hỏi eng Trinh nì, trong tất cả các món thiên kinh vạn quyển của nhà Phật, có món mô mà eng cho là “thứ thiệt”, khôông phải do thiên hạ chế ra, đặng tui biết mà tìm đọc chừ hè?

1 2 3 4 5 … 7
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>