Trương Thái Du – Nỗi niềm hòa bình
21/04/2010 | 7:00 sáng | 7 Comments
Category: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ: Hoà bình > Hòa giải > hòa hợp
“Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau. Tay kia cầm sợ dây, dắt theo con cày.” Không lâu sau ngày 30.4.1975 người Sài Gòn đã hát câu ấy. Họ nhại theo giai điệu mà họ Trịnh truyền qua làn sóng phát thanh đến hàng triệu con tim Việt Nam, ngay sau khi tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
Thời điểm ấy y gần bảy tuổi. Chiếc loa công cộng cuối phố vỡ òa ngôn từ chiến thắng và những bản hùng ca. Song, y nhớ chính xác mẹ mình đã ôm chặt ba đứa con, nức nở nỗi niềm “hòa bình”. “Hòa bình rồi các con ơi!”, mẹ y đã thốt lên như vậy. Y tin chắc rằng các bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Nếu không có hòa bình, vài năm nữa thôi, mẹ y lại phải tiễn các con ra trận, như đã tiễn em, tiễn cháu mình và không chảy nổi nước mắt khi nhận những tờ giấy báo tử vô hồn. Đến bây giờ y mới biết rằng “chiến thắng” và “hòa bình” có khoảng cách rất xa, từ “quan nối đời” đến “dân vạn đại”.
Cái giọng Bắc của anh em y, người miền Tây Nam Bộ xác định là giọng Huế, dân Sài Gòn chính xác hơn: “Bắc Kỳ ăn cá rô cây. Ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc Kỳ”. Văn học dân gian gọi đấy là đồng dao chăng? Y không rõ. Đó là bài ca ưa thích của lũ trẻ dưới mái trường XHCN vừa trưng thu từ Nhà thờ Công giáo. Một trong những con chiên của cái nhà thờ ấy, bằng giọng Bắc 1954, đã xui anh em y cứ vui đùa ngoài xa lộ thỏa thích. Xích lô máy và xe lam nườm nượp xuôi ngược đi và đến Bến xe Miền Đông sẽ tự biết đường mà tránh con “cán bộ”!? Y ngạc nhiên lắm, nhưng không thể lý giải logic kì cục kia. Tuy vậy mỗi khi cha y cẩn thận lau chùi khẩu súng lục được phát để phòng thân, y cảm thấy an toàn lắm lắm. Y luôn hoàn thành nhiệm vụ canh gác gian bếp nhìn ra khoảnh giếng trời chung của mấy gia đình. Mẹ y bảo đã có trường hợp hàng xóm bỏ thuốc độc vào nồi canh đang nấu của một nhà “Bắc Kỳ” nọ.
Y có người bạn Nam Bộ đầu tiên sau khi trải qua ba bốn cuộc thư hùng chân tay, u đầu sứt trán vì “bất đồng ngôn ngữ”. Bạn bảo: “Cha tao đang đi học tập mút mùa Lệ Thủy ở quê ngoại mày đó”. Y không thấy chút hận thù nào trong đôi mắt kẻ đồng trang lứa với mình. Chỉ có một câu hỏi ngây ngô bị vo tròn, nổi lềnh bềnh trên nỗi buồn trống vắng tinh khôi. Bảy năm sau y mới gặp cha bạn. “Kẻ thù của nhân dân” ăn chay ngay sau khi được tổ dân phố nhóm họp biểu quyết thuận tình trao quyền “công dân XHCN”, sáu tháng kể từ ngày ông được đoàn tụ cùng gia đình. Ông hiền như bụt, không nửa lời trách vợ có dạo phải son phấn đứng đường. Phải chăng “hòa bình” đã khiến gia đình bạn chịu trăm cay ngàn đắng? Bà mẹ nên được xem như gương tiết liệt?
Sau đôi ba ban học, y đã trở thành người Sài Gòn trăm phần trăm, từ giọng nói đến tác phong sinh hoạt. Y hát tân cổ giao duyên không chê vào đâu được: “Tổ quốc ơi, ăn khoai mì mãi mãi. Từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn bằng mười. Từ trận thắng hôm nay ta ăn độn nhiều hơn…”. Những ngày đói vàng mắt ấy, đến mùi mỡ sa lợn xề hiếm hoi dậy lên lúc ai đó nấu ăn, cũng làm đám trẻ con ham chơi đùa trong khu xóm bâng khuâng và ao ước.
Chẳng biết có phải do kinh nghiệm trùm chăn bông trốn bom B52 vào mùa đông năm nào, y dễ dàng phân biệt được tiếng gầm đại bác từ biên giới Tây Nam với kiểu nổ bùm bụp của lò ngô bung cùng dãy phố. Bà “cố Tàu” cách nhà y một căn lại không được như vậy, mỗi khi nghe tiếng nổ bà lại cuống quít vài câu Việt ngữ ngọng nghịu: “Giặc lùn đến rồi, Nhật đến rồi. Chạy đi, không chết hết!”. Cuối cùng Hội phụ nữ phường cũng mời họ trao đổi gì đó. Gia tộc bà lặng lẽ về Rạch Giá mua thuyền ra biển lớn, đương đầu với sóng dữ và cướp biển. Mười năm sau y mới ngộ ra giải liễn mồ côi nhưng bắt mắt nhất trong nhà bà vốn là hai câu thơ trong bài Thất bộ thi của Tào Thực: “Bản thị đồng căn sinh. Tương tiễn hà thái cấp”.
*
30.4.1975 mãi mãi là một dấu mốc quan trọng trong đời y, còn hơn cả ngày sinh của y nữa. Không phải nó luôn được nhắc đến mỗi khi y làm giấy tờ đi học hoặc đi làm. Lý lịch cá nhân và gia đình ba đời y đôi khi còn cả mốc trước và sau 1954 nữa. Cứ thêm một ngày 30.4 là y hiểu thêm một chút ý nghĩa nỗi niềm hòa bình của cha mẹ mình, cũng như rất nhiều người Nam Bộ thời ấy, qua những câu chuyện khơi gợi trà dư tửu hậu. Y kết luận rằng có đến 80% người dân Việt Nam nghĩ đến hòa bình và thống nhất, hơn là chiến thắng, trong ngày 30.4.1975. Đáng buồn là, với nhiều cộng đồng và xã hội Việt Nam đây đó trên hoàn cầu, nguyên nghĩa của đa số hay bị đảo pha sang “quốc hận” hoặc “chiến thắng”, như trêu ngươi và âm mưu tiếp tục đối chọi nhau. “Hòa hợp” chưa đủ sức sống, trung thực và dũng cảm để mà đâm chồi trên đau thương cũ.
Thật ra rất khó có thể nhìn cuộc chiến 1954-1975 dưới nhãn quan nhị nguyên đúng và sai được. Y biết rằng luôn luôn tồn tại những cặp nguyên nhân song hành với nhau, chia đều, đứng về phía này và phía kia. Khi còn đứng ở phía này hay phía kia để nhìn nhận cuộc chiến, thì hận thù và chia rẽ sẽ chẳng bao giờ mất đi. Có người còn bảo hãy để những năm tháng dằng dặc bi thương ấy lụi tàn!? Chẳng khác nào những cánh bướm lộng lẫy cần quên thời gian là con sâu xấu xí, nằm trong cái kén xám xịt tối tăm. Thậm chí, nhà thơ Linh Phương đã cố gắng đứng giữa hai bên, nhưng ông vẫn phải nghiền ngẫm cay đắng:
Tôi xin được hỏi đồng bào của tôi
Những người lính Bắc Việt chết – đều được trở về nhà
Những người lính Mỹ chết – đều được trở về Tổ quốc
Những người lính Việt Nam Cộng hòa chết – vẫn còn nằm nơi rừng thiêng – nước độc
Còn nằm bên núi đá lạnh căm căm
Đâu là nhân bản – đâu là nhân văn
Đâu là người Việt Nam cao thượng
Đâu là người Việt Nam anh hùng
Sao nỡ để tồn tại những điều oan trái?
Tôi xin được hỏi đồng bào thân yêu của tôi ở hải ngoại
Tôi xin được hỏi đồng bào thân yêu của tôi ở quê nhà
Ba mươi hai năm cuộc chiến trôi qua
Vì đâu hận thù vẫn còn ở lại?
Giữa những người Việt Nam với nhau, 30.4.1975 hoàn toàn có cơ hội trở thành ngày tụng ca hòa bình, hòa hợp và hòa giải. Cái họ thiếu luôn là thiện chí và lý tính.

Huntington xếp Việt Nam nằm ở vùng biên viễn của “Thế giới Trung Hoa” (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/12/081231_china_truongthaidu.shtml)
Nhìn rộng ra nhân loại, 30.4.1975 ít nhất cũng là bài học lịch sử đắt giá không thể lãng quên cho người Việt Nam. Theo thuyết đụng độ giữa các nền văn minh của Huntington thì Việt Nam nằm ở nơi đứt gãy và liên giao của các nền văn hóa Trung – Ấn – Âu. Ông cho rằng thế kỷ 21 (cụ thể là năm 2010), chiến tranh thế giới có khả năng xảy ra tại đây. Ở góc độ hẹp và được cộng hưởng nào đấy, Huntington hữu lý khi cho rằng Việt Nam từng là điểm nóng của chiến tranh lạnh, nơi hai thế giới tư bản và cộng sản cọ xát.
*
Ba mươi lăm năm đã đi qua như một chớp mắt. Vẫn còn đấy nhiều suy tư lắng đọng và lưu cữu. Người ta sẽ chẳng đi đến đâu, nếu không đặt suy tư ấy trên căn bản của nỗi niềm hòa bình nhân bản và những bài học đau thương trong giai đoạn 1954 – 1975.
Thạch Viên, Nhơn Trạch
18.4.2010
© 2010 Trương Thái Du
© 2010 talawas
Bình luận
7 Comments (bài “Trương Thái Du – Nỗi niềm hòa bình”)



Có những bà mẹ như Trương Thái Du nói, khi con họ không phải đi “cải tạo” (vì không nằm trong “diện” sĩ quan QĐVNCH, viên chức chính quyền miền Nam từ chủ sự trở lên…). Họ mừng vui khi “hòa bình” đến, cũng không ngạc nhiên; con họ khỏi còn sợ ra chiến trận, không còn lo bom đạn vô tình…
Cũng có những bà mẹ khác, con đi cải tạo đói khổ triền miên mà không biết ngày về… là những bà mẹ như Lê Thị Thấm Vân nói đến.
Cũng có những bà mẹ sống ở miền Bắc, chưa được nghe ai nhắc tới, hẳn đã có tâm trạng khác với hai “tập thể” bà mẹ miền Nam ở trên. Tôi nghĩ, một số lớn họ sẽ “hồ hởi, phấn khởi” nhiều. Họ không còn phải lo lắng cảnh bom đạn phủ lên đầu, con họ khỏi đưa vào miền Nam đánh nhau với người anh em, hoặc nếu đang ở chiến trường sẽ được trở về đoàn tụ.
Lại còn có bà mẹ như Hồ Phú Bông mô tả trong đoản văn của mình (talawas), một tâm trạng ray rứt, tan tác giữa 2 người chồng ở cùng chiến tuyến, và 3 đứa con với 2 người chồng này. Chồng với con không cùng quan điểm. Họ chia ly, phân hóa ngay trong gia đình: một thảm cảnh rất đỗi đặc trưng của chiến tranh 30 năm ở Việt Nam.
Bất kể trong hoàn cảnh nào và tâm trạng nào, mẹ VN vẫn là những người mẹ chịu đựng đau khổ nhiều nhất trong cuộc chiến, dù ở bên này (Bắc) hay bên kia (Nam).
Hòa Bình về, người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng
Hòa Bình về, người Nam vô tù, người Bắc cai tù
Hòa Bình về, người Nam mất của, mất nhà, người Bắc được của, được nhà
Hòa Bình về, người dân Nam mới hiểu thế nào là cộng sản
Nhắc đến sự kiện ngày 30-04-1975, tôi xin có đôi lời chia sẻ.
Đúng chính xác là toàn dân miền Nam đều muốn hoà bình vãn hồi từ lâu. Hãy vào thưởng thức tất cả những bản nhạc tình ca, quê hương của các nhạc sĩ thời đó (1955-1975) để nghe họ thổn thức ao ước một đất nước thanh bình.
Và chính xác hơn nữa, tôi phải trân trọng cám ơn đại tướng Dương Văn Minh đã có can đảm hạ bút viết tờ tuyên bố “đầu hàng” với một ý chí cuơng quyết không để thế lực phuơng Bắc lợi dụng tình thế “quậy nước đục thả câu”, chuyện này đã rõ 100%, khi mà thực lực quân đội VNCH hãy còn mạnh ở miền Tây (Cần Thơ). ĐT Minh biết rõ Hoa Kỳ ra đi thì kẻ thứ ba chăm chăm nhảy vào thay thế không ai khác là “bọn bành trướng”, trong tình thế đó, kéo dài trận chiến lan rộng đến đồng lúa miền Tây là cơ hội ngàn vàng làm suy yếu tiềm năng kinh tế miền Nam lúc đó, và ở Chợ Lớn họ đã chuẩn bị sẵn sàng rồi.
Vậy thì đã là nguời VN ai ai cũng mong mỏi hoà bình, ngoại trừ “những kẻ hiếu chiến”, họ là ai ? Nếu ai từng nghe qua bản nhạc Mùa Xuân Đầu Tiên do cố nhạc sĩ Văn Cao cảm xúc dâng trào sáng tác vào thời điểm 1975, sẽ hiểu ông cũng mơ ước một mùa Xuân hoà bình tự đáy lòng. Nhưng than ôi ! Chính bản nhạc cuối cùng này lại gây khó khăn cho ông Văn Cao một lần nữa, người ta đã vin vào vài ba câu để kết án ông, làm khó dễ ông, hãy nghe đây:
Làm sao trong Xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh
đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người .
Rồi sau đó, người ta hứa hẹn học tập cải tạo nhanh chóng, vài ba tháng thôi thì mọi “nguỵ quân, nguỵ quyền” sẽ được tha về làm ăn sinh sống bình thường ! Lời hứa bay đã theo gió và niềm tủi nhục uất hẹn dâng trào lên trong tâm khảm hàng triệu người dân miền Nam. Chưa hết, lại còn chiến dịch “đánh tư sản mại bản”, “ngăn sông cấm chợ”, chế độ kỳ thị “lý lịch ba đời”, ai là người ban hành những chính sách bất nhân đó ? hở ông Thái Du !
Bây giờ những cụm từ “nguỵ quyền”, “nguỵ quân”, “phản động”, “phản quốc” vẫn còn dùng âm ỷ trong hàng ngũ cán bộ CSVN. Họ đâu biết rằng, sau 35 năm trôi qua, thế giới thay đổi, khối Liên Xô Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa cộng sản đã và đang bị nhân loại khinh bỉ, thì chính những từ ngữ họ dùng nay trở lại xác định chính họ đấy.
Kết luận: ai thật lòng mong muốn hoà bình ? và ai là kẻ muốn duy trì tình trạng căng thẳng trù dập mọi chính kiến khác biệt để duy trì chế độ?
Tiện đây tôi xin trích đăng một bài hát Thanh Bình Ca (Nguyễn Hiền) mà tôi ưa thích:
Thanh Bình Ca
Sáng tác: Nguyễn Hiền
Thơ: Thanh Nam
Về nơi đây chung xây đắp quê hương
Và nơi nơi, vui câu hát yêu thương
Lúa reo mừng, mùa về ngát thôn làng
Đời vui tươi như muôn sóng trùng dương
Từng bàn tay bao đôi mắt long lanh
Miền đồng hoang vươn lên bóng tre xanh
Đất quê nghèo bừng nguồn sống no lành
Và muôn phương say sưa reo bình minh
Ôi! mừng sao khi sông núi thanh bình
Lau nước mắt xóa tan mùa chiến chinh
Bóng trăng vàng đùa cùng mái tranh hiền
Lời hẹn hò nhịp cầu gieo thương mến
Đời yên vui ta xây đắp tương lai
Niềm tin yêu bao la khắp muôn nơi
Thoát điêu tàn người người sống vui cười
Bầy em thơ xanh đôi mắt ngàn khơi
Nhìn đàn trâu em mơ ước xa xôi
Chiều vàng rơi trong sương khói chơi vơi
Khắp thôn làng rộn ràng tiếng yêu đời
Rồi mai đây! Thương yêu về ngàn nơi
TB: Nhạc sĩ Nguyễn Hiền sáng tác bài này vào cuối thập niên 50. Đến năm 1975, ông còn lưu luyến ở lại miền Nam, thì trong một bữa tiệc hội ngộ văn nghệ sĩ Nam-Bắc, chính nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã nhắc nhở ông Nguyễn Hiền nên khăn gói ra đi nếu còn muốn được tự do sáng tác.
Sự thật đấy ông Trương Thái Du!!!
@Lê Thị Thấm Vân: Ngữ cảnh bà trích của tôi rõ ràng là ở trong thời điểm buổi trưa 30.4.1975, tôi đã kiểm chứng điều này hơn 20 năm nay, hàng trăm bà mẹ, hàng chục gia đình từ Bắc chí Nam qua Trung. Chính vì vậy tôi mới dám xác quyết các bà mẹ VN đều giống nhau, đều cảm ơn hòa bình vào giờ phút ấy.
“…y nhớ chính xác mẹ mình đã ôm chặt ba đứa con, nức nở nỗi niềm “hòa bình”. “Hòa bình rồi các con ơi!”, mẹ y đã thốt lên như vậy. Y tin chắc rằng các bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Nếu không có hòa bình, vài năm nữa thôi, mẹ y lại phải tiễn các con ra trận, như đã tiễn em, tiễn cháu mình và không chảy nổi nước mắt khi nhận những tờ giấy báo tử vô hồn…”
Vì mẹ y là mẹ miền Bắc chứ một số mẹ miền Nam sau ngày 30/4/75 bị đày lên vùng kinh tế mới, nuôi chồng trong trại cải tạo, tìm đường cho con vượt biên. Gia đình tan nát.
“…Y luôn hoàn thành nhiệm vụ canh gác gian bếp nhìn ra khoảnh giếng trời chung của mấy gia đình. Mẹ y bảo đã có trường hợp hàng xóm bỏ thuốc độc vào nồi canh đang nấu của một nhà “Bắc Kỳ” nọ.”
Trong miền Nam, sau ngày 30/4/75 có trường hợp vì quá đói, quá tủi nhục, quá phẫn uất, người cha đã bỏ thuốc độc vào nồi cơm cho cả nhà ăn. Bữa ăn cuối cùng.
Yêu nước không phải là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa, không phải yêu một chính thể độc quyền về chính trị, không phải là thông cảm với những hành động đàn áp đối với chính nhân dân họ, không phải mũ ni che tai khi đất nước bị bán dần bán mòn, khi ngư dân bị nước XHCN “anh em” bắt đòi tiền phạt …
Những gì xảy ra sau 30/4 mới là điều đáng nói . Đao phủ bỏ dao là thành phật, nhà nước chưa bỏ (giáo) mác và (lưỡi) lê, lâu lâu hứng lên xài lại trò chuyên chính vô sản thì bỏ mẹ . Con không dại!
Muốn kể thêm ra nhưng lại sợ “tiến sĩ” Đỗ Ngọc Bích bực mình .
Tác giả Trương Thái Du viết về sự hòa giải, hòa hợp, hòa bình hay lắm. Nhưng tác giả có biết, trong lúc đó “sài gòn giải phóng”, “công an nhân dân”, “quân đội nhân dân” thi nhau nhắc lại Việt Nam thời “Mỹ Ngụy” cho đến Việt Nam thời Hải Ngoại với những mỹ từ “dân phản động lưu vong”, “tổ chức phản động lưu vong”? Tác giả có thể nhận thấy rằng những điều tác giả phát biểu ở trên có duyên không?
Muốn dẹp bỏ được hận thù quá khứ, trước hết từ tiềm thức, mỗi người dân cần nên bình thường hóa những khái niệm “Bắc Kỳ” với “Nam Kỳ”, không tự kỷ ám thị nó như một ký hiệu về sự phân biệt chủng tộc. Còn khi miệng thì kêu gọi hòa hợp dân tộc, trên báo chí truyền thông công cộng lại luôn xướng danh những mỹ từ “phản động” với “lưu vong” trong những phiên tòa xét xử những người bất đồng chính kiến, những người Việt yêu nước kêu gọi một nhà nước đa Đảng – một xã hội trong đó người dân được quyền hưởng nền độc lập với tự do dân chủ-, hay những người dân treo cờ với khẩu hiệu “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt nam” – với thái độ kiên quyết phản đối chính quyền Trung Quốc và dã tâm thôn tính đất nước từ kinh tế đến văn hóa, đất đai lần chủ quyền đất nước, quyền lực chính trị-, để tạo cho dân chúng lòng nghi kỵ, thù hận với người Việt tại nước ngoài cũng như người trong nước , – qua bao vụ việc đấu tố đồng bào vốn từng phục vụ cho thể chế chính trị VNCH trước năm 1975 -, thì xét ra, lời nói của tác giả Trương Thái Du có thiếu sót lớn về mặt thực tế tại mặt trận truyền thông trong nội bộ đất nước XHCN Việt Nam có Đảng Cộng sản lãnh đạo.