talawas blog

Chuyên mục:

Đỗ Anh Thơ – Hồi ký nhỏ về giáo dục hay là suy nghĩ trên hòn đá mồ côi ở vườn Đồng Mô

09/06/2010 | 12:00 chiều | 3 Comments

Tác giả: Đỗ Anh Thơ

Category: Đời sống, Tạp văn
Thẻ:

Cuối cùng thì tôi cũng chọn mua được một khu vườn ở Đồng Mô, cách Ba Vì khoảng 6 km, dự định để an dưỡng tuổi già và để viết hồi ký. Công ty nhà đất rao bán, hứa như đinh đóng cột rằng: “Chỉ 4-5 tháng sau bác sẽ có Internet”. Nhưng 1 năm rồi 2 năm, điện thoại và nước sạch vẫn chưa tới nơi, nói gì đến “nét” và “mờ”. Tuy vậy, hàng tháng, tôi vẫn chịu đựng bao lời phàn nàn của vợ, mất 600-700 ngàn tiền taxi lên đó chơi. Thời gian đầu, tôi đi một tháng hai ngày, đêm nghỉ lại, để được ngắm ngọn Ba Vì và xem đàn gà, gà mẹ lẫn gà con ríu rít kéo nhau vào chuồng. Tôi ngồi trên hòn đá mồ côi to ở một góc vườn. Xung quanh còn hàng chục hòn đá khác. Ban đầu, tôi tưởng tượng đây là những hòn đá còn sót lại của Sơn tinh dùng để bắn Thủy tinh, vì chúng giống những viên đạn súng thần công khổng lồ.

Nhưng khi hoàng hôn đã tắt, ngọn Ba Vì mờ mờ trong sương, tôi lại nghĩ chúng sao mà giống như số phận của những người trí thức VN làm vậy! Hàng triệu năm trước, khi nứt từ những tảng đá mẹ, chắc chúng đều sắc cạnh lắm. Nhưng rồi chúng lăn xuống suối, bị nước xô sóng dạt, bào mòn dần rồi va đập lẫn nhau, đến nỗi biến thành những hòn đá mồ côi như hôm nay. Gió, mưa, cành lá rừng quất mạnh, chúng vẫn cứ trơ trơ ra đó, vô cảm với thời gian.

Nghĩ đến đó, tôi rưng rưng muốn khóc. Tôi nghĩ đến thân tôi, lên sáu, cha tôi đã bắt cắp sách đến trường học dự thính (hors classe) lớp đồng ấu (cours enfantin). Một hôm, quan đốc Hy[1] đến thanh tra trường, thầy giáo gọi chị tôi học lớp nhất (cours superieur) đưa tôi về. Tôi không chịu. Chị dọa: “Em học kém, nhà trường đuổi rồi!” Tôi khóc sướt mướt, chạy về nhà bỏ cả bữa cơm chiều. Hôm sau, chị tôi mới dắt tôi đến lớp lại. Cuối năm đó tôi được lên thẳng lớp dự bị (cours prepratoire) như các bạn chính thức. Hè năm 1945, đang học lớp nhì đệ nhị (cours moyen deux), nghe chính phủ Trần Trọng Kim cho học sinh cả hai lớp nhất và đệ nhị đi thi bằng tiểu học (certificat d’etude primaire), mẹ tôi thuê một thanh niên cõng tôi từ Nghi lộc lên Nam Đàn để thi. Nhưng kỳ thi đó bị hoãn.

Năm 1946 tôi thi đỗ vào College Nguyễn Công Trứ. Nhưng chỉ mấy tháng sau toàn quốc kháng chiến, thành phố Vinh bị tiêu thổ, trường sơ tán lên Đô Lương. Mẹ không thể lo đủ gạo cho tôi đi trọ học. Tôi phải về học ở trường tư thục Nghi lộc. Lúc đầu tôi còn chăm, từng chép tay cả quyển sách toán lớp 7 của thày Lê Hải Châu soạn. Nhưng sau vì tôi mê môn văn, bỏ hết thời gian vào thơ “yêu vụng nhớ thầm” nên môn toán kém dần. Tiếp theo, tôi bị thày Bùi Văn Nguyên phê vào học bạ: “Năng lực văn học bình thường mặc dù đứng đầu môn này”.

Lời thày như gáo nước lã, khiến cho tôi thêm tự ty. Nhưng trên cơ sở Pháp văn ở trình độ học xong livre unique và Anh văn học xong l’anglais vivant quatrieme, tôi thường xuyên ôn, để khỏi quên, cho dù khả năng nói rất tồi. Đến nay tôi vẫn cảm thấy, sở dĩ tôi vượt qua được số phận là do có vốn ngoại ngữ từ nhỏ. Tôi cho rằng chủ trương bỏ ngoại ngữ ở cấp 1 là một sai lầm. Ở lứa tuổi đó, các em tiếp thu tiếng nước ngoài không khác gì tiếng mẹ đẻ. Nên sau này trải qua bốn năm chục năm rồi, qua hàng chục đời bộ trưởng, ta vẫn không tạo được cho sinh viên có bản lĩnh nghe giảng, tham khảo giáo trình và thuyết trình chuyên đề bằng tiếng nước ngoài. Việc thày đọc, trò ghi là không thể tránh khỏi, là một tệ hại nhất thời đó, từ giáo dục đại học đến trung học chuyên nghiệp. Hậu quả còn di hại cho đến tận ngày nay: Ta vẫn không thể dạy cho sinh viên suy nghĩ phản tư một cách sáng tạo được (teach to think).

Trở lại về đời mình: cuối cấp ba, vào bộ đội không lọt, tôi buộc phải đi học tiếng Trung ở Khu học xá Trung ương. Không ngờ tiếng Tàu đã gắn bó suốt đời tôi. Tôi vừa cảm phục nền văn hóa Trung Quốc, vừa khinh ghét họ về thái độ nước lớn, nham hiểm mà bần tiện. Nhưng như hòn đá ban đầu đầy góc cạnh, tôi cũng bị mài tròn dần do cái thớt cối xay Xô-Trung. Ban đầu, tôi tưởng về ngành Dệt cùng ông anh cả một thời gian, rồi tìm cách chuyển sang nghiệp văn chương. Tôi có thói quen tự học tiếng Anh và Pháp qua tiếng Tàu. Tiếng này liên tưởng qua tiếng kia cùng một lúc. Không ngờ “giỏi” cái tiếng “nỉ hảo” đó, cùng với vốn liếng tiếng Pháp tiếng Anh ở mức “basic course” như trên đã níu tôi lại trong ngành giáo dục. Tôi lăn như một hòn đá, từ học ngành Dệt thoi, Thông gió điều tiết không khí với chuyên gia Trung Quốc, rồi được đẩy sang học kỹ thuật ươm tơ chỉ vì mình có khả năng duy nhất vừa nghe chuyên gia giảng, vừa soạn giáo trình vừa dạy cho học sinh. Tôi tự hào, làm việc quên cả sức khỏe và mệt mỏi[2]. Để biên soạn giáo trình, tôi cùng các bạn đồng nghiệp chuyển ngữ có sáng tạo vô số thuật ngữ cho ngành Dệt như tay đập(打手 – bras frappe’), quả lô (西林 – cylindre), guồng lại (整理 – re-reeling)… đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục kỹ thuật Dệt non trẻ lúc bấy giờ[3]. Nhưng rồi chỉ vì nghĩ không ai có thể thay thế mình, hơn nữa ở nơi sơ tán, nước ao tù, cả xóm đều giặt đồ bẩn rồi lại múc lên ăn, tôi đã gánh về lọc và bị bí thư chi bộ vốn là học sinh cũ của mình quy kết là tiểu tư sản, hoãn kết nạp đảng mất sáu tháng. Thế là tôi bắt đầu phải câm lặng và an phận như hòn đá, để cho họ mặc sức lăn trên con đường đảng đã vạch.

Mãi cho tới khi được chuyển sang Viện nghiên cứu Dệt phụ trách phòng Thông tin Dự báo và Tổng biên tập tạp chí, có nguồn thông tin của thế giới vừa mở và nhờ năng lực xử lý của mình, nó đã giúp tôi có thêm khả năng phản tư. Hòn đá – khối óc chai lỳ – của tôi bắt đầu có lại ít nhiều cạnh sắc.

Tôi mạnh dạn loại bỏ những gì bị nhồi nhét, cái đầu tôi bắt đầu biết phản cảm phản tư và tỉnh táo hơn. Tôi ít khi để mắt tới đài báo tuyên truyền, nhất là báo An ninh, để cho môi trường sống của mình đỡ bị ô nhiễm thêm.

Nay về già, ngồi một mình trên hòn đá mồ côi ở vườn nhà. Lúc tỉnh, tôi kiểm điểm lại đời mình mà không cần sổ tay tu dưỡng của thày hiệu trưởng Võ Thuần Nho. Tôi thấy tiếc cho sự an phận và bất lực tuổi già của bạn bè cùng trang lứa, nay đã như lá mùa thu, không tiếp cận được internet, và tiếc hơn cho sự cam chịu của tuổi trẻ có “In” mà không có “Out”, như những hòn đá, đang bị đẽo gọt dần cho tròn, lăn đi theo một cơ chế vòng tròn xoay, xoay như hòn đá mồ côi, từ biển lên ngàn, từ đồi xuống suối… Không ai còn biết đá đến từ đâu, biết đá cũng đã từng có góc cạnh? Lúc say, tôi lại nghĩ đến việc dặn con xây cho mình một hòn non bộ, bên cạnh trồng mấy gốc lộc vừng, đặt một hòn đá mồ côi mà mình từng ngồi, ghi mấy dòng chữ: “Nơi đây yên nghỉ một ông đồ quê ở Nghệ An” với bài thơ tự chế diễu mình cho con cháu ghi nhớ:

Thày đồ cắp tráp ra về,
Giang sơn nửa gánh bộn bề ở trong.
Hỏi thày cá gỗ còn không,
Sao thày lận đận long đong thế này?

Nhưng rồi tôi lại chặc lưỡi: vật đổi sao dời, lòng nguời ly tán, thì ngay đến cả lăng tẩm nguy nga rồi cũng bị người ta đập bỏ, đào cho mất gốc nữa là thứ “đá mồ côi của ông đồ gàn” như mày. Con cháu mày sẽ phiêu dạt tận đâu, chắc gì còn biết tới hòn đá mồ côi nơi đất Đồng Mô này nữa.

© 2010 Đỗ Anh Thơ

© 2010 talawas


[1] Thày Đào Đăng Hy có quyển Địa lý Nghệ An nổi tiếng thời bấy giờ.

[2] Tôi đã từng bị ngất hai lần khi đưa học sinh đi thực tập ở Ba Thá.

[3] Tôi rời trường KT3 năm 1970. Như vậy đã 40 năm. Năm 1985, từ bỏ chiếc ghế Tổng biên tập ở Viện, tôi có trở lại trường làm chuyên viên và 1990 về hưu, đi nghiên cứu Hán Nôm ở Văn Miếu Quốc tử Giám, chuyển hẳn sang một lĩnh vực nghiên cứu hoàn toàn mới: học thuyết Lão Trang và triết học đạo đức. Bởi vậy những thuật ngữ Dệt mà tôi nêu trên chỉ có tính chất minh họa, vì tôi đã cố quên nó, dọn khỏi đầu từ lâu cùng với triết học Marx-Lenin. Nay hồi tưởng lại, chưa chắc đã hoàn toàn chính xác và còn có được dùng trong giáo trình trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp I nữa hay không. Có gì sai sót mong bạn bè đồng nghiệp trường miễn thứ.

Bình luận

3 Comments (bài “Đỗ Anh Thơ – Hồi ký nhỏ về giáo dục hay là suy nghĩ trên hòn đá mồ côi ở vườn Đồng Mô”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    Thưa bác Đỗ,

    Bác thì chẳng còn lạ gì bài thơ này (Dạ Vũ Ký Bắc, Lý Thương Ẩn), tôi nhờ talawas post nó lên đây, một phần nó nói hộ nỗi lòng mình, phần khác là để các bạn trẻ làm quen một bài thơ hay. Thơ Đường cùng với Âm Nhạc Cổ Điển Tây Phương vốn đều được coi là những di sản lớn của văn hóa nhân loại. Tôi không ghi (nhiều) bản dịch vì xưa nay không tin ở thơ dịch, thành công tuy có nhưng rất ít, nên có dài dòng ở phần dịch nghĩa mong được bác cùng các độc giả am tường hơn phủ chính cho.
    Trân trọng,

    君問歸期未有期,
    巴山夜雨漲秋池。
    何當共翦西窗燭,
    卻話巴山夜雨時。

    Dạ Vũ Ký Bắc .

    Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ,
    Ba sơn dạ vũ trướng thu trì.
    Hà đương cộng tiễn tây song chúc,
    Khước thoại Ba sơn dạ vũ thì.

    Đêm Mưa Gửi Người Phương Bắc.

    (dịch nghĩa :“Bạn hỏi ngày nào trở về, chưa biết là đến khi nao/Mưa đêm ở Ba Sơn khiến ao thu nước đầy/ Đến bao giờ thì chúng ta được cùng chong đèn dưới mái hiên tây ấy/Để cùng nhau nói những chuyện “bâng quơ” lúc mưa đêm ở Ba Sơn”)

  2. Đỗ Anh Thơ viết:

    Bác Phùng kính mến,
    Tôi có cảm tưởng như đang thường xuyên được chén tạc chén thù cùng bác. Mong được bác mở qua link doanhtho.blogspot.com, đọc thêm đôi bài thơ và tôi mong chờ nhiều những lời bình vàng ngọc của bác.
    Thân ái

  3. Phùng Tường Vân viết:

    “…vật đổi sao dời, lòng người ly tán, thì ngay đến cả lăng tẩm nguy nga rồi cũng bị người ta đập bỏ đào cho mất gố nữa là..
    (Đỗ Anh Thơ)

    Buổi sớm, ở xứ người buồn bã, được nghe tâm sự của bác lòng thấy thanh thản lắm, xin được ghi lại đây một bài thơ của nhà thơ Tô Thùy Yên để bác cùng quý vị quan tâm đọc lại.

    Đãng tử .

    Ngày kia trở lại Ngôi nhà Lớn,
    Lòng những bằng lòng một kiếp chơi.

    Bạn có nghe, này bạn có nghe
    Ở bìa rừng bên, gió sửa soạn
    Tuần du – cuộc tuần du bất tận.
    Bạn có nghe, này bạn có nghe
    Giữa tầng cao, chim giục giã
    Từng giàn như những thủy triều sôi.
    Bạn có nghe, này bạn có nghe
    Trên đỉnh non nhòa, mây xôn xao
    Về nơi hẹn nào không định trước.
    Bạn có nghe, này bạn có nghe
    Vũ trụ miên man chuyển động đều.
    Chim đã bay quanh từ vạn cổ,
    Gió thật xưa, mây thật già nua.
    Nên với một đời, bao biến đổi
    Mà trong vô hạn có chi đâu.

    Ly rượu rót mời, xin uống cạn.
    Bài ca ta hát đến đâu rồi?
    Xin hát nốt – còn đi kẻo muộn…
    Cho úp ly – bóng xế đường dài…
    Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn.
    Đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê?
    Đến ngã ba, đành theo một lối,
    Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia.
    Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm
    Lược sử ta trong bí lục nào,
    Văn nghĩa mơ hồ không hiểu trọn,
    Thiên thu loé tắt vệt phù du…
    Thuận tay, ta ngắt một cành sậy
    Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu
    Bay tản khắp vô cùng trống trải,
    Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau…

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>