Trương Nhân Tuấn – Lịch sử tranh chấp chủ quyền “l’enclave Pak-lung” cùng các đảo Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu trong vịnh Vạn Xuân (phần 2)
06/04/2010 | 5:49 sáng | 4 Comments
Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: tranh chấp chủ quyền
3. Biên giới theo công ước Pháp-Thanh 1887
Đến các năm 1885-1887, Pháp phân định biên giới với nhà Thanh. Hai bên đã xác định và đồng thuận trên nguyên tắc đường biên giới lịch sử giữa hai nước Việt-Trung. Bộ Đại Thanh nhất thống chí được dịch sang tiếng Pháp (và đó là bản mà người viết đang sử dụng!). Ở vùng tiếp giáp tỉnh quảng Đông, các địa danh đánh dấu biên giới lịch sử như Phân Mao, đồng trụ, động Cổ Sâm, sông Thiếp Lãng… đều được ghi nhận.
Các dữ kiện chứng minh lãnh thổ Việt Nam, được ông Dillon, chủ tịch Ủy ban Phân định Biên giới, trình bày trong một lá thư gởi ông Constans, Ðặc sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kinh ngày 23 Mars 1887, người phụ trách thuơng lượng với Trung Hoa về Công ước.
Ông cho rằng: “Dựa lên địa chí của Trung Hoa thì lãnh thổ An Nam mở rộng cho đến Long men (Long Môn)”. Long Môn ở phía bắc Phòng Thành. Việc nầy hàm ý Pack-Lung (Bạch Long) thuộc An Nam.
Ông viết rằng khoảng từ 20 năm nay, bọn cướp Tàu đã chiếm mũi Bạch Long cũng như Long Môn để làm sào huyệt. Ðây là lý do duy nhất mà vùng đất này đã ra ngoài tầm kiểm soát của An Nam. Ông cũng cho biết, trên thực địa, đường biên giới thực sự được cụ thể hoá qua những đồn canh (cửa ải) của Trung Hoa đã dựng lên. Ðường nối các công sự đã chừa ra ngoài vùng Giang Bình bao gồm Packlung – Bạch Long), là đường đỏ theo bản đồ 3 ở dưới.
Những bằng chứng của Ủy ban Pháp gồm có: 1/ vùng Giang Bình đã được triều đình Huế bổ một vị quan cùng gia đình về quản trị, thâu thuế dân chúng từ mấy chục năm trước. Nhưng người hậu duệ cuối cùng của viên quan đã bị quân cướp Tàu giết, thân xác bị chặt làm nhiều khúc qua biến cố tháng 11 năm 1886 (biến cố nầy làm thiệt mạng một số quân đội Pháp và ông Haitce, nhân viên của Ủy ban Phân định Biên giới). 2/ Những nhân chứng sống, là những người dân địa phương, người Hoa cũng như người Việt, đã hướng dẫn ông Bohin, vào tháng 11 năm 1886, và đội quân của ông Dugenne vào tháng 1 năm 1887, để các ông này làm công tác trắc địa. Những dữ kiện đo đạc từ công tác trên phù hợp với những điều tra trong vùng Móng Cái. 3/ Sổ bạ ghi chép điền địa từ các huyện, phủ trong vùng. 4/ Bản đồ chính thức của An Nam. 5/ Giấy chứng nhận của nha Kinh Lược từ triều đình Huế[1].
Đòi hỏi của Pháp, ở vùng cận biển, với những bằng chứng cụ thể như thế, hoàn toàn phù hợp với thực tế. Nhưng thay vì đòi đến sông Thiếp Lãng, như đã đòi hỏi đến núi Phân Mao (xem biên bản ở dưới) ở vùng biên giới thuộc các tổng Kiến Duyên, Bát Trang, lại ngừng ở sông Bắc Luân và vùng đất gọi là “l’enclave Pak-lung”, được vạch bằng đường đỏ trên bản đồ 3, để lại cho Trung Hoa vùng rộng lớn từ sông Bắc Luân cho đến Phòng Thành. “Enclave” có nghĩa là một vùng đất (thuộc chủ quyền của một quốc gia) nằm trong lãnh thổ của một quốc gia khác. Tại sao Pháp nhượng bộ trong lúc ở thế mạnh và có đầy đủ dữ kiện như vậy?
Câu trả lời là: Trên bản đồ 3, ta thấy động La Phù (ghi là La fou) ở phía bên kia sông Bắc Luân, kế cận Đông Hưng. Dĩ nhiên người Pháp đã tham khảo địa chí Việt Nam, nhận diện được vị trí các động Như Tích (La Phù), Cát, Chiêm Lãng, Tư Lẫm, Cổ Sâm, Thời La…, biết chúng ở đâu và nhìn nhận chúng thuộc về Trung Hoa. Họ chấp nhận sông Bắc Luân là sông biên giới, thay vì sông Thiếp Lãng ở phía nam Phòng Thành. Vì thế Pháp chỉ đòi hỏi vùng huyện Giang Bình (thời kỳ phân định gọi là Cương Bình), bao gồm Pak-lung (Bạch Long) cùng các đảo có người Việt sinh sống.
Chỉ có như vậy mới có thể giải thích vì sao vùng mũi Bạch Long lại trở thành một “l’enclave”, tức một vùng đất Việt trong lãnh thổ Trung Hoa.
Biên bản phân định biên giới ngày 29 tháng 3 năm 1887 nguyên văn tiếng Pháp, tạm dịch sang tiếng Việt như sau:
“Ủy ban phân định biên giới công nhận rằng từ Trúc Sơn 竹山, thuộc Trung Hoa, đường biên giới theo dòng sông, hướng Ðông sang Tây, cho đến Móng Cái – Ðông Hưng 東興. Ðường trung tuyến của dòng sông được dùng làm ranh giới và chia các khu vực La Phù Ðộng 羅浮峒, Ðông Hưng 東興 v.v… thuộc Trung-Hoa với các khu vực Ngũ Sĩ 伍仕, Móng Cái v.v… thuộc An Nam.
Từ Móng Cái – Ðông Hưng đến Bắc Thị 北市 – Gia Long 加隆: đường biên giới khá quanh co, có hướng chung Bắc đến Bắc Tây Bắc và theo trung tuyến của dòng sông, phân chia những vùng Na Chi 那芝, Ka Long v.v… thuộc về Trung Hoa những vùng Thác Lãnh 托嶺, Nam Lý 南里, Bắc Thị v.v… thuộc An Nam.
Từ Bắc Thị – Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Ðộng Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản đồ số 1. Ðường biên giới chia cho Trung Hoa các vùng Lãnh Hòa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Ðông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới. Các vùng Ná Dương 那陽, Ðộng Trung 峝中 và những nơi khác thì thuộc về An Nam.
Từ điểm A, đường biên giới đi về hướng ải Bắc Cương 北崗隘 (Bắc Cương Ải), núi Phái Thiên 派遷山 (Phái Thiên Sơn), cách làng Bình Liêu 平寮村 của An Nam khoảng 30 lí theo đường thẳng. Ðường biên giới chia các cửa biên giới Ná Quang 那光卡 (Ná Quang Ca), Bản Thôn 板吞卡 (Bản Thôn Ca) v.v… cho Trung Hoa và các vùng Na Dương 那陽, xã Trình Tường 呈祥社 v.v… cho An-Nam.”
Ta thấy trong biên bản, phía người Hoa chấp nhận đường biên giới đi qua núi Phân Mao[2], nhưng không chấp nhận chủ quyền của Việt Nam ở “l’enclave Pak-lung”, tức huyện Giang Bình và các đảo Sơn Tâm, Vu Đầu và Vạn Vĩ, mặc dầu với những bằng chứng không thể chối cãi. Biên bản phân định trên thực địa bỏ qua vùng đất tranh chấp, vấn đề được đưa về Bắc Kinh giải quyết. Số phận vùng đất này chỉ được giải quyết ở Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887, cũng là nội dung Công Ước 1887.
Vùng tranh chấp được giải quyết, nguyên văn tiếng Pháp, như sau:
“Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l’est et au nord-est de Monkaï, au delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de la délimitation, sont attribués à la Chine.”
Tạm dịch sang tiếng Việt: Tại Quảng Đông, các bên đồng thuận rằng các điểm tranh chấp ở phía đông bắc của Móng Cái, ở phía bên kia đường biên giới đã được Ủy ban Phân định xác định, thì chúng được giao cho Trung Hoa.
Như thế, vùng đất “l’enclave Pak-lung” bị Pháp nhượng cho Trung Hoa. Các đảo Sơn Tâm, Vạn Vĩ, Vu Đầu, nơi những người Việt sinh sống từ nhiều đời, từ nay thuộc về Trung Hoa.
Nhưng câu hỏi đặt ra, vì sao với những bằng chứng không thể chối cãi, với tư thế của kẻ mạnh đối với Trung Hoa, Pháp lại nhượng vùng đất này?
Câu trả lời sẽ thấy ở phần tìm hiểu Hiệp ước Thiên Tân 1885.
4. Sơ lược về hậu quả Hiệp Ước Thiên Tân 1885
Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và thương mại (traité de paix, d’amitié et de commerce), được ký kết tại Thiên Tân ngày 9 tháng 6 năm 1885 giữa Lý Hồng Chương và ông Patenôtre, được quốc hội Pháp thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1885.[3] Hiệp ước gồm có 3 phần, như tên gọi hiệp ước: hòa bình, hữu nghị và thương mại, nhưng trọng tâm là thương mại. Ðiều 3 của Hiệp ước dự trù việc xác định lại đường biên giới Việt Trung. Các điều 5 và 6 dự trù một công ước về thương mại giữa Pháp và Trung Hoa.
Công ước về thương mại được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 do ông Cogordan thương lượng nhưng kết quả không đúng như mong đợi của Pháp. Ðể sửa chữa, một công ước bổ túc cho công ước thương mại “Convention additionnelle de Commerce” được ông Constans thương lượng cùng lúc với công ước về biên giới và cùng ký ngày 26 tháng 6 năm 1887.
Công ước về thương mại được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 nhưng bị đánh giá bất lợi cho Pháp. Bởi vì, nguyên văn công ước là tất cả những gì mà Trung Hoa đòi hỏi trước đó đã được ghi lại trong bản tường trình của Cogordan. Trong khi đó, những gì mà Pháp đòi hỏi đều không được. Các đòi hỏi của Lý Hồng Chương, người thương lượng công ước với Cogordan, được các chính trị gia Pháp lúc đó xem là “bạo gan”, “dối trá”, “hỗn láo”… đối với Pháp quốc, đều được Cogordan chấp thuận.
Việc chinh phục Bắc Kỳ, từ thời Françis Garnier (1874) đến Henri Rivière (1883) cho đến chiến tranh Pháp-Trung 1884-1885 chỉ có mục tiêu là xây dựng địa bàn và mở đường thông thương với các tỉnh phía Nam Trung Hoa để buôn bán. Hiệp ước thương mại của Cogordan thực tế mở cửa cho Trung Hoa vào Việt Nam nhưng đóng mọi cửa để Pháp không thể vào Hoa Nam. Ðây là một thất bại lớn vì tất cả máu xương của lính viễn chinh cũng như tiền bạc của dân Pháp đều xem như bỏ.
Ðể sửa chữa, ông Constans được cử làm bộ trưởng sang Thiên Tân để ký kết công ước phân định biên giới nhưng kèm theo một phụ ước về thương mại.
Bản tường trình của dân biểu Dureau de Vaulcomte, liên quan đến việc nghiên cứu công ước thương mại 25 tháng 4 năm 1886 và phụ ước 26 tháng 6 năm 1887, có đề cập đến: “Et ainsi la question de frontière se trouva liée à la question commerciale – Và vì thế vấn đề biên giới được gắn liền với vấn đề thương mại”. “Le gouvernement a pensé que les concessions faites à la Chine, en ce qui concerne les territoires, peuvent être compensées par les avantages qui résultent de la Convention commerciale additionnelle au Traité du 25 Avril 1886 – Chính phủ nghĩ rằng những nhượng bộ đất đai cho Trung Hoa có thể được đền bồi bằng những ưu đãi (về kinh tế) do Công ước thương mại bổ sung Hiệp ước 25 tháng 4 năm 1886.”
Như thế, rõ ràng, chính nhà nước Pháp đã chủ trương nhượng đất của Việt Nam để có được những ưu đãi về thương mại với Trung Hoa!
Đồng thời việc mất đất ở phía đông bắc Móng Cái, tức huyện Giang Bình cùng các đảo Sơn Tâm, Vu Đầu, Vạn Vĩ… còn có vùng đất Tụ Long, các xã thuộc tổng Kiến Duyên và Bát Trang là những vùng đất bị mất trong dịp phân định năm 1887. Tất cả đều là các vùng đất có tầm quan trọng về kinh tế và chiến lược. Đó là chưa nói đến các vùng đất khác, rải rác trên vùng biên giới, cũng bị nhượng cho Trung Hoa trong thời gian phân giới và cắm mốc 1887-1897.
Tài liệu tham khảo: Hồ sơ phân định biên giới CAOM, Aix-En-Provence, Pháp quốc.
© 2010 Trương Nhân Tuấn
© 2010 talawas
[1] Điều đáng tiếc là bộ Địa chí Đồng Khánh vừa xuất bản lại không ghi các chi tiết này. Thậm chí Hòa Lạc (tức Móng Cái) bị tập sử này ghi là “xiêu tán”, tương tự nhiều địa danh khác! Có thể các năm đó phố Hòa Lạc chỉ có dân Hoa sinh sống (tương tự Kỳ Lừa, Lạng Sơn) nhưng không thể ghi sơ suất như thế được. Xiêu tán là không còn nữa. Xem ra tài liệu do người Pháp sưu tập về biên giới còn đầy đủ hơn bất kỳ bộ địa chí nào của Việt Nam. Mình không biết đất của mình từ đâu tới đâu thì làm sao giữ? Việt Nam bị mất đất một phần cũng do lỗi sử gia Việt Nam làm việc không đến nơi đến chốn vậy!
[2] Đường biên giới lý ra phải qua núi Phân Mao, nhưng vì phía người Hoa lập mưu, tạo dựng một trái núi Phân Mao giả (và đền thờ Mã Viện giả), đường biên giới bị dời xuống phía nam đến 40km. Ông Chiniac De Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới 1890-1892 đề nghị Toàn quyền Pháp ký lại công ước nhưng không thành công. Việt Nam bị mất đất rất nhiều ở vùng này.
[3] Xem thêm tại http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=273&prev=283&next=269.
Bình luận
4 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Lịch sử tranh chấp chủ quyền “l’enclave Pak-lung” cùng các đảo Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu trong vịnh Vạn Xuân (phần 2)”)

Tôi đồng ý với bài của bác TN Tuấn về vùng Pak Lung và với bác HT Sa rằng mất vùng này trong HĐ Pháp Thanh kéo theo một số mất mát trong VBB.
Tuy nhiên, những điều trên không có nghĩa HĐ Pháp Thanh đã phân định toàn bộ VBB bằng kinh độ 108đ43p. Thậm chí, tôi cho rằng nếu xét theo luật quốc tế thì đó là quan điểm sai.
Xin cám ơn bác Trương Nhân Tuấn về bài nghiên cứu về “l’enclave Pak-lung” này. Như chúng ta thấy, việc mất vùng “l’enclave Pak-lung” này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại cho nước VN ta trên vùng biển thuộc Vịnh Bắc Bộ. Đó là việc khi phân định ranh giới biển giữa VN và TQ (giữa Pháp và nhà Thanh) trên VBB, VN đương nhiên bị mất nhiều phần biển thuộc khu vực “l’enclave Pak-lung”. Vì thế, theo tôi, cái đường đỏ do Pháp và triều đình nhà Thanh của TQ phân định VBB qua Hiệp ước Pháp Thanh 1887 (mà TQ nằng nặc bác bỏ cho rằng không công bình và đòi phía VN phải hủy bỏ để ký lại Hiệp định phân định mới vào năm 2000) là vô cùng HỢP LÝ khi Pháp đã nhượng bộ phía nhà Thanh rất nhiều ở vùng “l’enclave Pak-lung” cũng như trong nội địa (ở vùng mỏ Tụ Long).
Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của bác Trương Nhân Tuấn (trong nhiều bài viết của bác TNT trước đây) rằng cái đường đỏ này chính là đường phân định vùng biển của VN và TQ trong Vịnh Bắc Bộ. Tiếc thay nhà nước CHXHCN VN đã nhu nhược nhượng bộ TQ khi ký Hiệp định 2000 làm Tổ quốc ta bị mất thêm gần 11 ngàn kilômét vuông biển trong VBB. Việc nhượng bộ này đã khuyến khích phía TQ càng ngày càng lấn tới và xâm phạm thô bạo vùng biển của VN ngoài cửa VBB (quanh khu vực quần đảo Hoàng Sa của VN) cũng như xa hơn xuống tận Trường Sa.
Nghiên cứu của bác Trương Nhân Tuấn hết sức có giá trị. Hy vọng tương lai sẽ có người tiếp tục tìm hiểu vấn đề này, hầu mong các dữ liệu sẽ chứng thực nhau để nó trở thành kiến thức phổ thông. Rất cảm ơn tác giả.
Cảm ơn bác Trương Nhân Tuấn về 2 bài này.
Đất nước mình vào tay nước khác thì họ bán đứng mình mà chuyện thường.
Việc Pháp chậm phản đối khi TQ bắt đầu đòi HS cũng là một sự bán đứng.