Trịnh Khả Nguyên – Chờ một tiếng còi
13/04/2010 | 2:00 chiều | 3 Comments
Vừa vào phòng đợi của nhà ga, chưa kịp tháo chiếc ba-lô nặng trịch trên vai xuống, lau mồ hôi trán, thì nghe: “Alô, Alô! Hành khách đi Sài Gòn chú ý! Chuyến tàu số 5 sẽ khởi hành lúc 14 giờ thay vì 12 giờ như đã thông báo…” Một tiếng “Ồ” lớn, có cả tiếng của tôi nữa, đồng loạt vang lên, và chắc chẳng ai chịu khó nghe các giải thích tiếp theo là gì, do kỹ thuật, do nghẽn đường… Nhưng sau đó là những câu tả oán: – Đ.m giờ với giấc! – Dẹp quách cái kiểu làm ăn nầy cho sớm!
Phải đợi thêm hơn hai giờ nữa, có tức không? Càng nghĩ càng tức. Phải chi biết cái gì gây nên việc nầy để tôi (và những người khác) trút cái tức lên cho hả. Tức ai? Tức cái giọng vừa mới thông báo trên loa? Tức mấy nhân viên mặc đồng phục, mặc váy đang nhí nhảnh sau quày? Vô lý. Tức mụ vợ quá chu đáo, mắc mớ chi ép tôi phải ăn cơm trưa lúc 11 giờ 15, để đỡ tốn tiền ăn dặm trên tàu. 12giờ tàu chạy, 11giờ 15 ngồi ăn, nuốt vội, nuốt vàng. Ăn như thế ngon lành gì, có khi mắc nghẹn, hại cho bao tử. Bây giờ mấy miếng cơm như còn nằm chỗ cổ họng. Đã thế, bả còn bảo ăn uống ở nhà vừa vệ sinh, vừa rẻ, lên tàu thảnh thơi nằm hưởng gió mát, nghe bánh xe lăn “cà kịch, cà kịch” như ru, đánh một giấc khỏe re. Tội nghiệp mụ vợ, chưa bao giờ đi xe, đi tàu mà cũng bày đặt vẽ vời, tả cảnh, tả tình. Trăng thanh gió mát đâu chả thấy, ngồi đây nóng nực, ồn ào thấy bà, tôi lại bực mình thêm về cái tính thơ ngây của mụ vợ. Khi tôi mang xách đi, bả còn dặn:
“Nè, đồ trong cái bao trắng để ông nhậu với bạn, trong bao xanh để cho mấy người quen, trong bao vàng để tặng xếp, cây nhà lá vườn, hàng quê hương quí lắm. Nhớ nghe, nhớ nghe kẻo lộn.”
Tôi không muốn mang, thêm nặng mà chẳng giống ai, và đã giải thích:
“Thời buổi nầy, đến những nhà sang trọng ai lại mang mấy thứ hàng quê, làm mình cũng quê theo. Mình quí, thậm chí không dám cho con ăn, để dành tặng người ta; nhưng giao cho họ, họ không muốn xài, bỏ lăn bỏ lóc, uổng của còn tội nghiệp mình. Quí hàng Việt nhưng có ai tặng rượu đế, vải thô đâu; họ toàn tặng rượu ngoại như… như… (tôi đang tìm một vài cái tên để nói cho oai nhưng cứ ấp úng) whisky, vải Anh. Bây giờ họ quà sinh nhật, đám cưới bằng “vé” cả. Vé là gì bà biết không?”
Tôi lại hoài nghi, ai khiến mình chọn chuyến nầy, giờ nầy mà không chọn chuyến sớm hay trễ hơn. Từ cái việc nhỏ xíu nầy, nếu “triết lí” thì có thể hỏi tại sao mình có mặt ở chỗ kia, chỗ nọ vào lúc nọ lúc kia. Hằng trăm câu hỏi cho hằng trăm sự việc không ai giải thích được –“giải thích được chết liền!”
Thôi, biến cái không thuận lợi thành cái thuận lợi, tôi đi thăm phòng đợi nhà ga một vòng. Chỗ nào có chữ Việt tôi đọc tất: Lịch tàu chạy, Bảng giá vé, Thông báo, Nội qui dành cho nhân viên, cho hành khách, Tiêu lệnh phòng cháy-chữa cháy, Các bằng khen đơn vị đạt thành tích, Các khẩu hiệu, Các áp-phích cổ động KHSĐ, phòng chống HIV, đến cả các tờ rơi thông báo khuyến mãi-đại hạ giá tại siêu thị… Tôi hạ hỏa hồi nào không hay, tưởng như đây là phòng Thông tin. Nhiều lần đến các công sở, tôi cũng thấy cảnh tương tự: Bằng khen, cờ thi đua treo đầy tường, khẩu hiệu “Tất cả cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ… Tất cả cho… Tất cả vì…” Nhiều thứ quá, nhưng một thứ lại đòi ẵm “tất cả” thì còn đâu cho các thứ khác. Lẽ đáng phải chia phần, bao nhiêu % cho A, bao nhiêu% cho B… thế mới “công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ” chứ lỵ.
Có tiếng hô, “Hoàng Thượng vạn tuế, vạn vạn tuế!” Rồi, phim truyện lịch sử Trung Quốc rồi. Trên màn hình chiếc TV lớn treo ở phòng đợi, hiện ra cảnh một đám quan mũ cao, áo thụng đang cúi rạp người, miệng tung hô một ông vua đang ưỡn ngực rảo bước. Thật hồi xưa có cảnh như thế không, hay ngày nay mấy ông đạo diễn bày ra cái kiểu quái dị nầy. Hồi xưa hay bây giờ, lúc nào, con người mê muội hơn? – Lúc nào cũng có những con người như thế. Tôi không biết sử Tàu nên không rõ cảnh trong phim diễn lại triều nào, vua nào. Nhưng cái cách nầy là một đặc điểm của phim truyện về các Hoàng thượng, các Triều đại của Trung Quốc: Muôn tâu bệ hạ -Thần đáng tội chết – Hoàng thượng anh minh – Giang sơn Đại Hán, Đại Đường, Đại gì gì đó trường tồn… dù giang sơn, đất nước đang được giao cho một Thiên tử chưa biết… mặc quần. Mới vừa chán cái “thằng trễ giờ”, lại gặp cái “thằng anh minh – thiên thu bền vững”, càng chán hết chỗ nói. Chán ơi là chán.
“Ủa, mầy à?”
“Mầy!”
Đứa bạn chào tôi, tôi chào lại, hỏi nhau đi đâu, chuyến mấy giờ. Tôi nói đi Sài Gòn, chuyến 14 giờ, còn hắn đi Hà Nội chuyến 1 giờ. Hắn xem đồng hồ, nói còn sớm, ra kia uống nước. Thằng nầy vui tính, ăn nói có duyên, phải chi thong thả kiếm mấy chai ngồi nghe hắn kể chuyện tiếu lâm cho đỡ buồn. Hồi một nghìn chín trăm bảy mươi mấy gì đó, hắn dạy cùng trường với tôi nhưng khác môn. Tôi dạy toán, hắn dạy văn, có khi dạy sinh ngữ nữa. Trước 1975, hắn là dân Văn khoa, đậu một chứng chỉ Anh văn. Một lần họp chuyên môn, có “trên” về chủ trì, hắn đề nghị cà lắc, nên sửa lại tên sách của môn Văn là Việt Văn, chứ chỉ ghi môn Văn thì chẳng biết là văn gì, Việt Văn, Anh Văn, Pháp Văn…, cũng như thế, nên gọi là giáo viên dạy Việt Văn thay vì gọi là giáo viên “văn”. Cán bộ chủ trì giải thích rằng, đó là qui định của trên, nói “văn” thì phải hiểu là Việt Văn. Hắn chịu thua, ngồi xuống, nhưng vẫn lầu bầu: “Trên đã nói “văn” thì phải hiểu là “Việt Văn” vâng ạ. Nhưng các qui định do con người đặt ra, nếu không phù hợp thì sửa chứ ạ.” Tiếng “ạ” phát âm ngọt xớt như đường nhưng nghe buồn cười. Cả hội trường hôm đó cười vui vẻ, không biết cười cái gì. Đến giờ giải lao, hắn cười hề hề, ngứa mồm nói thế, đúng sai chưa biết, nhưng “trên” có nghe đâu mà mơ. “Trên” là cõi trên, là bất khả tư nghị (cười). Dạy được mấy năm, hắn xin nghỉ với lý do “khó khăn”, rồi đi buôn ở chợ trời. Bạn bè trong trường tiếc, học sinh cũng buồn, vì mất một người thầy có năng lực, vui tính. Ngồi chợ trời, hắn bán mua từ con ốc, con vít đến những máy móc cũ. Hắn đọc mấy cái nhãn, mấy dòng chữ trên các loại hàng nghe cũng vi vu, rồi giải thích cho khách và cả cho dân cùng buôn bán chợ trời biết thế nào, thế nào. Họ phục lăn, ai cũng bảo, hắn giỏi tiếng Anh sao không xin đi dạy mà lê la đầu đường xó chợ thì uổng quá. Hắn cười, uổng cái gì, đã đi dạy rồi, không được mới đi bán chợ trời đây. Vừa buôn bán, hắn trau dồi thêm tiếng Anh; sau đó có người quen xin cho làm hướng dẫn du lịch. Công việc nầy bồng bềnh, xí lô, xí là coi bộ hợp khẩu vị, nên hắn trụ mãi tới bây giờ. Trước đây, một lần gặp, tôi nói đùa:
“Mầy làm thông ngôn cũng là làm văn hóa. Sách vở dạy, làm văn hóa mà sai là hại bạc triệu đó nghe.”
“Văn hóa mẹ gì. Thông dịch là ăn theo, nói theo mấy ông xếp, mấy ông tây, bà đầm. Họ nói “đá cuội”, bí, mình dịch đại là “sỏi” có chết ai đâu. Nghề nầy phải ma lanh mới qua được. Nếu dịch cho phỏng vấn thì có sẵn mấy tiếng ruột hữu nghị, hợp tác…, cho các sinh hoạt thì lễ hội truyền thống, cho các nơi đi chơi thì di sản văn hóa cấp vùng miền, cấp quốc gia, quốc tế, cấp 7, cấp 8 chi đó ca đại vào. Nếu cần nói thêm là đã được cơ quan nầy, tổ chức kia của thế giới công nhận đạt tiêu chuẩn theo giấy số X ngày Y. Giữa trời ai lấy gì tra cứu mà lo. Nói thế đôi khi được khen là ăn nói lưu loát, có sáng kiến; còn thực thà quá thì khách không ưa, bị phê, bị mất việc như chơi. Họ trả tiền để mướn người khen, chứ có phải để tìm người nói đúng nói sai đâu. Thật ra nghề nào cũng thế, dạy học cũng thế, bạn đã biết rồi mà.”
Hắn nói, cách đây hai năm có gặp ông C.
“Ông C, hiệu phó hồi xưa?”
“Đúng, đúng!”
Hình ảnh ông C hiện lại. Năm học đầu, sau 1975 ông C là hiệu phó. Không ai rõ nhiều về ông ta. Chỉ biết rằng không đi tập kết về, nhưng ông C tiếp thu nhanh. Ông là một trong những người mang dép cao su, đội mũ cối (thứ đã cũ kia) sớm, lại còn bỏ cái quai mũ quàng quanh cằm, trông vương vướng thế nào.
Ở giáo dục được mấy năm, ông chuyển sang UBND huyện, làm đến Phó Chủ tịch phụ trách văn hóa. Hắn đã dẫn một đoàn khách ngoại quốc đến huyện để làm việc liên quan đến văn hóa nên gặp ông C tiếp.
“Nhận ra nhau chứ?”
“Sao lại không. Người lớn, nếu có thay đổi thì chỉ gầy thành mập, bụng nhỏ thành bụng bự thôi, chứ những nét chính vẫn y nguyên.”
Nhưng ông C cũng có cái gọi là thay đổi, chẳng hạn ăn mặc lịch sự hơn nhiều, tóc tai xét nét, đường ngôi rẽ thẳng tắp, có dáng tự tin. Dù không nói chuyện bằng tiếng Anh, nhưng ông ta vẫn thoải mái, vẫn OK, vẫn THANK YOU, vẫn khen Singapore sạch đẹp, văn minh. Trong buổi tiếp tân cũng nâng ly, cụng lộp cộp, cũng CHEER như điên.
Chuyện riêng với hắn, ông C cho biết có một đứa con đang du học tại Úc, nay mai ông cũng đi Âu Châu hay Mỹ. Ông nói:
“Nếu trước đây nếu mình bỏ ra ba bốn năm học tiếng Anh thay vì học các món tại chức khác thì bây giờ OK hơn.”
“Tưởng gì chứ học tiếng Anh thì khó chi. Nhưng không học mà như anh thế mới oai, chứ học mà như tôi thì được cái gì.”
Ông C nói rằng, càng sống, càng có tuổi, càng nghiệm ra mỗi người có một “cái bí mật” – Hắn thêm vào “cái số bí mật ”- Ổng tiếp à, à, có số cả, phải tin vào tâm linh. Hắn nói mình không hiểu ông ta nói “tâm linh ” là ý như thế nào, nhưng mình tin ông ta thành thật: “Tình cảm là thứ rất quí” dù câu nầy có hơi cũ cũ. Hắn đập đập vào túi quần sau có chiếc bóp, cho biết ông C đã đưa cho hắn một tấm danh thiếp đầy đủ chức vụ, địa chỉ, số điện thoại, hẹn có dịp “điện” anh em ngồi với nhau một buổi cho vui.
Hắn bắt tay tôi, đứng lên đi trước, vì tàu hắn chạy trước. Tôi ra dấu để tiền nước đó tôi trả vì tôi còn ngồi lại thêm hơn 1 giờ nữa. Trời đất, làm gì cho hết cái thời gian nầy. Nhìn quanh có ai bán báo mua một tờ. Báo cũng giúp người ta quên giờ khi ngồi chờ, khi chăm ai nằm bệnh viện. May quá, một người ngồi kế tôi đang đọc một tờ báo, chừng cũng mệt mắt, cũng chán, đứng lên, bỏ tờ báo lại chỗ ghế, lẩm bẩm, “báo với chí”. Chờ anh ta bước đi, tôi cầm lên đọc trang 1, trang 2, trang 3,… trang cuối, tin tức trong nước, quốc tế, mục văn hóa, kinh tế, thể thao, quảng cáo, rao vặt. Xong tôi cũng bỏ tờ báo xuống và buông thõng câu người kia đã nói.
Cái điện thoại trong túi quần rục rịch, tôi móc ra. Số của mụ vợ:
“Đến đâu rồi, vui không?”
“Vẫn còn ở ga. Vui khỉ gì, chán chết.”
“Sao thế?”
“Tàu trễ. Ở nhà bảo trọng nghe!”
Cười.
Cho điện thoại vào túi, tôi lại một mình. Tôi đang chờ chuyến tàu đến sớm mang tôi đi, đưa tôi ra khỏi cảnh chờ đợi uể oải, chán nản nầy. Tôi đang chờ nghe một tiếng còi báo hiệu một sự đổi thay.
© 2010 Trịnh Khả Nguyên
© 2010 talawas
Bình luận
3 Comments (bài “Trịnh Khả Nguyên – Chờ một tiếng còi”)
Cách xử lí cái ý rất độc, bottom line là một cái passing shot vào … của chúng. Bravo.
Bác Trịnh Khả Nguyên mà dạy Toán sao? Chắc bác dạy lộn bộ môn rồi đó, đáng lẽ phải dạy Việt Văn (à quên, Văn chứ) mới đúng nghề của… chàng!
(Bài viết nhí nhảnh, đọc thấy lôi cuốn và thích thú lắm!)
“Tiếng còi” ư, không đủ đâu
Còi sao chuyển được tuồng trâu ngựa này !
Còi sao lọt được thành dầy
Nhà băng, kho đụn dinh này lũy kia
Còi sao át tiếng ăn chia
Từ trong cung cấm tới bìa ải quan
Còi sao lặng giọng tham tàn
Còi sao thức được tâm sân ý hèn .
Gọi gió lên ! Gọi gió lên :
“Để cho nó cuốn phăng ra biển
Bao nhiêu oan ức
Bao nhiêu máu lệ
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu nỗi đời !”