talawas blog

Chuyên mục:

Trương Thái Du – Sức mạnh mềm Việt Nam?

27/03/2010 | 11:14 chiều | 13 Comments

Tác giả: Trương Thái Du

Category: Quan hệ Việt-Trung, Tôn giáo, Tư tưởng
Thẻ: >

Nói một cách tương đối, hai ngàn năm trở lại đây, Trung Hoa có ba lần là quốc gia đại cường của nhân loại. Đó là vào thời Đông Hán, Đường và Minh. Ngoài thời Đường sức mạnh mềm của họ ít nhiều mang dấu ấn Phật giáo, Đông Hán chứng kiến sự lên ngôi lần đầu tiên của Nho giáo, với nhà Minh ta thấy sự hoàn thiện và củng cố Tống Nho.

Thế kỷ 21, trên con đường trở lại đỉnh cao ngày nào, văn minh Trung Hoa một lần nữa đã chọn những giá trị Nho giáo làm xương sống tinh thần của mình. Nho giáo Trung Quốc đang trỗi dậy, sặc sỡ màu sắc thời đại song vẫn không thoát khỏi luận lý an – loạn từ thuở Chiến Quốc. Trong nước, nó khác thuyết dân chủ phương Tây ở chỗ đặt cá thể dưới nhân quần, nhiều khi chỉ là cái cớ bịp bợm. Với lân bang, người Trung Quốc vẫn chưa từ bỏ được cái nhìn bề trên, ngã tâm, và mơ mộng trật tự chư hầu tiến cống phong kiến xưa cũ.

Bài viết này không có ý định đi sâu vào ngóc ngách hiểm hóc của sức mạnh mềm Trung Hoa. Tôi chỉ muốn hỏi người Việt Nam có thứ gì để tự bảo vệ mình trước sức mạnh mềm ấy không, hay là họ sẽ lại cảm thấy an toàn (tuy rằng có mất mát) trong cái gọi là “bóng râm Trung Hoa1”?

*

Người Việt hiển nhiên không phải là người Tàu, dù theo tôi trong máu Việt luôn tồn tại một tỉ lệ máu Tàu nhất định. Chắc chắn trong lịch sử hai ngàn năm của mình, người Việt đã từng sở hữu một loại sức mạnh mềm phi Hán. Xin tạm gọi đó là văn minh Phật giáo thế tục Lý – Trần. Có giả thiết cho rằng quốc hiệu Đại Cồ Việt mà Đinh Tiên Hoàng đặt ra, làm nền tảng cho văn minh Lý – Trần mang nghĩa “Vương quốc Phật giáo Đại Việt” vì chữ Cồ là phiên âm họ của đức Phật (Cồ Đàm = Gautama).

Kể sao hết những thiền sư không tự trói buộc mình bên kinh kệ, Phật pháp. Chẳng hạn ngài Vạn Hạnh đã suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi. Quá nhiều quân vương Lý – Trần sớm rời ngôi báu, nương cửa Phật nhưng vẫn canh cánh bên lòng vận nước, giáo hóa chúng sinh giác ngộ. Đó là cơ sở của khái niệm văn minh Phật giáo thế tục.

Tiếc thay, năm 1400 họ Hồ lại cho rằng Việt là Tàu. Nước Đại Ngu của Hồ Quý Ly cũng là con cháu Ngu – Thuấn như Đại Minh. Hai mươi năm thống trị và tận diệt văn hóa của Minh triều đã xóa sổ giới tu sĩ thế tục Đại Việt. Bi kịch ở chỗ, những tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi tuy có công phục quốc, lại không thấy được cái lợi của việc nối tiếp nền văn minh phi Hán của Đại Việt. Chính Nguyễn Trãi chứ không phải ai khác, đã đem hồn Thi – Thư – Lễ – Nhạc vào cung đình nhà Lê. Phải chăng tai họa mà Nguyễn Trãi gặp phải đã có mầm mống từ khi ông mâu thuẫn với các đại thần khác khi san định Lễ – Nhạc với tiêu chí tôn Nho2? Từ đó, những thiền sư vĩ đại đành đóng cửa chùa, tách biệt hẳn với đời sống chính trị xã hội.

*

Cuối thế kỷ 19, tháp Báo Thiên, vết tích cuối cùng, niềm kiêu hãnh và biểu tượng về thành tựu vĩ đại của văn minh Phật giáo thế tục Lý – Trần bị san phẳng và thay thế bằng một ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo. Thiên chúa giáo Việt Nam có hơn tám mươi năm huy hoàng, từng sở hữu hẳn một chính thể thuần Việt (Ngô trào), có những thành trì phi cộng kiên cố, nơi linh mục cũng là tướng lĩnh quân sự, song họ đã thất bại. Lý do thì muôn vàn, nhưng gần đây nhất và cụ thể nhất, phải kể đến sự choáng váng của quần chúng khi một chức sắc Thiên chúa giáo cảm thấy nhục nhã với quyển hộ chiếu Việt Nam3.

Hiện nay rất nhiều người Việt Nam đang cảm thấy hơi nóng của sức mạnh mềm Trung Hoa ở sau gáy mình. Và họ lúng túng, thậm chí bỗng nhiên bất lực. Rồi họ bài Hoa, phỉ báng tất cả những gì của Trung Hoa, kể cả văn hóa, thứ thuộc về nhân loại nói chung, chứ không phải của riêng người Hoa.

Thật ra những người Việt tôi đề cặp ở trên thiếu tự tin mãn tính. Văn minh Việt Nam tồn tại ít nhất đã hai ngàn năm, từ thuở Đại Hán. Riêng sự tồn tại ấy đã là một niềm tin không thể lay chuyển. Nếu đặt những sự kiện xiển dương Phật giáo Việt Nam vừa rồi4 bên cạnh công cuộc quảng bá sức mạnh mềm (như học viện Khổng Tử) của Trung Quốc, ta thấy ngay đây có thể lấy làm một nước cờ chính trị không dở. Vấn đề là người ta sẽ chuyển hóa Giáo hội Phật giáo như thế nào, các thiền sư bước vào con đường thế tục hay những lãnh tụ sẽ đứng dưới tán Bồ Đề để xây dựng sức mạnh mềm Việt Nam. Thời Trần, sức mạnh ấy đã từng gắn kết toàn dân Đại Việt, làm nên chiến tích thần kỳ trước giặc Nguyên Mông vô địch Á – Âu. Ngày nay, tôi tin tưởng nó còn làm được nhiều hơn thế. Việt Nam đang chuyển hóa tận gốc rễ, những giá trị mới và cũ rất cần nhiều hơn một bộ lọc tâm linh đúng nơi đúng lúc (ngoài tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh), ít nhất là trên góc độ khoa học xã hội thuần túy.

Tôi không phủ nhận có sự hoài vọng dành cho mô hình dân chủ đa nguyên phương Tây trên con đường tự cường của đất nước này. Tuy vậy mô hình ấy mâu thuẫn đến độ một mất một còn với chế độ chính trị và nền tảng tư duy Nho – Khổng của xã hội Việt Nam hiện nay. Nó đặt tương lai dân tộc trước rủi ro quá lớn, hơn nữa dân chủ đa nguyên vẫn là một mô hình ngoại lai như Nho giáo, tất sẽ dẫn đến những xung đột dai dẳng và để lại di chứng khó lường cho văn minh Việt Nam.

Trách sư5, chê chùa6 như tác giả Lê Thiết Cương vừa rồi, thực ra không mới, lý ngắn, tình nông. Trương Hán Siêu thời Trần cao ngạo đến thế, khinh bạc đến thế, phỉ báng Phật giáo hết lời mà cuối đời lại sùng Phật hơn ai hết. Thời khắc một ngàn năm Thăng Long sắp điểm, “xá lợi” của Phật giáo thế tục Lý – Trần sẽ được tái phát ngộ trong lòng dân tộc Việt Nam hay không, rất nên được suy tư từ những hiện tượng đơn lẻ và có thể chuệch choạc ban đầu.

Trên nền tảng Phật giáo truyền thống của tiền nhân, người Việt sẽ gần gũi hơn với cộng đồng Asean và có cơ hội làm tỏa sáng những giá trị phi Hán rõ ràng của mình. Vậy thì lấy cớ gì chúng ta không thêm một lần, đặt cược sức mạnh mềm Việt Nam vào Phật giáo?

© 2010 Trương Thái Du

© 2010 talawas

Chú thích

1 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/12/081231_china_truongthaidu.shtml

2 Xin xem Đại Việt sử ký toàn thư.

3 http://sachhiem.net/XAHOI/TruongThaiDu.php

4 http://vietnamnet.vn/vanhoa/201003/Nghet-tho-ruoc-xa-loi-Phat-tu-An-Do-ve-Viet-Nam-897072/

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/359278/Che-tac-tuong-Phat-bang-ngoc-lon-nhat-the-gioi.html

http://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=564408

5 http://tuanvietnam.net/2010-03-18-phat-xa-loi-va-nhung-chiec-xe-doi-moi-dat-tien

6 http://tuanvietnam.net/2010-03-25-khi-nhung-ngoi-chua-viet-lai-cang

Bình luận

13 Comments (bài “Trương Thái Du – Sức mạnh mềm Việt Nam?”)

  1. Trung Thứ viết:

    Bài viết của ông Du ít nhất có hai mâu thuẫn cơ bản.
    1. Khi bị chính quyền đàn áp, tróc nã khiến không còn chốn tu học chẳng phải những tăn ni, tu sỹ phật giáo ở Bát Nhã phải ngỏ lời xin tỵ nạn ở một đất nước dân chủ, đa nguyên để tiếp tục sự nghiệp tu học của họ đó sao? Đa nguyên, dân chủ là môi trường thuận lợi cho phật giáo. Do vậy, một mặt ông Du chủ trương phát triển Phật giáo, mặt khác ông lại chủ trương không nên đa nguyên, dân chủ có phải là tự mâu thuẫn không.

    Mỗi lần có sự bất đồng giữa chính quyền và công giáo ở Việt Nam thì y như rằng ông Du thường có những bài viết đả kích công giáo.
    Cụ thể lần này:
    http://nuvuongcongly.net/index.php?option=com_content&view=article&id=758:dan-oan-le-thi-cong-nhan-tham-du-thanh-le-tai-thai-ha&catid=81:tin-tuc-thoi-su&Itemid=198
    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/News-in-depth-0317-am-03172010102128.html?searchterm=None

    Cho tới thời điểm này, trong một nhà nước độc tài VN, tôi mới thấy chỉ có Công giáo là tổ chức xã hội duy nhất có tiếng nói (chưa bàn đúng sai) độc lập thách thức ý chí của một nhà nước độc tài. Có một người bạn là tu sỹ công giáo có lần than thở với tôi, tỏ ý tiếc rẻ cho rằng Giáo hội thật dại khi để rơi vào tình trạng xung đột giữa với nhà nước làm cho sinh hoạt tôn giáo bị ảnh hưởng. Tôi cười mà nhận xét rằng: cái dại của Giáo hội đã thấm gì so với cái dại của Thánh Gia-an tẩy giả khi phản đối tên bạo chúa Hê-rô-đê cướp vợ người anh để rồi bị mất đầu! Theo bước chân của Người lên núi Can-vê chịu đóng đinh mà lại tìm kiếm sự dễ dãi, yên hàn làm ngơ trước vấn nạn của cuộc sống thì có phải đạo hay không? Biết thuần phục nhà nước mà trái với tinh thần Phúc âm để giữ được vài cơ sở tôn giáo, mấy ngôi thánh đường để làm gì khi chính Chúa Giê-su phán: „Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người hãy thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứa độ xuất phát từ dân Do-thái. Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế“, Ga. 4, 21-24.

    2. Khi người ta chỉ ra những bất cập của hệ thông chính trị, giáo dục ( http://www.viet-studies.info/HoangTuy_XinNoiThang.htm ) đã trực tiếp dẫn đến những hậu quả nghiêm trong cho đất nước, xã hội thì ông Du thường đổ lỗi tại bởi văn hóa. Nếu lập luận kiểu đó thì hóa ra văn hóa như một cái khôn đúc, quy định mọi sự, con người chẳng còn sự tự do, tự quyết nào nữa. Hiểu một cách rộng nhất, văn hóa (culture) là bất cứ thứ gì được sáng tạo bởi con người, là dấu ấn (văn) con người để lại trong thế giới này, phân biệt với những gì là tự nhiên (nature) được sáng tạo bởi Tạo hóa. Có thể nói, văn hóa thuộc về sáng tạo của con người, tiếp nối sáng tạo của Thượng Đế. Những bất cập trong xã hội ngày nay mà cứ đổ lỗi cho văn hóa truyền thống là một sự vô trách nhiệm, vong ân bội nghĩa. Điều đó chẳng khác gì đứa con nghèo khổ đổ lỗi nguyên nhân cho tổ tiên mấy chục đời để gia tài lại cho mình quá ít mà không hiểu rằng cái nghèo khó của mình là do chính mình không những không tài bồi cho gia tài của tiên tổ mà còn tìm cách phá hoại, phung phí nó.

    Bênh vực một chế độ chính trị độc tài, thiếu tụ do, dân chủ thì chẳng khác nào đồng tình với sự tiêu diệt văn hóa. Vì văn hóa là sự sáng tạo, mà sáng tạo thì phải có không gian tự do.

    Mặt khác, nếu thời nào cũng khư khư ôm giữ „tính truyền thống“ văn hóa thì chẳng phải loài người làm sao thoát khỏi tình trạng ăn lông, ở lỗ! Văn hóa một mặt có tính kế thừa lịch sử nhưng đồng thời cũng là sự sáng tạo không ngừng và chịu sự tương tác qua lại với các nền văn hóa bên ngoài.

    Nếu phê phán Nguyễn Trãi về tư tưởng mà lại dám nói là đề cao văn hóa truyền thống thì chỉ là một sự dối trá. Bởi, tư tưởng Nguyễn Trãi là tinh hoa vượt tầm thời đại trong kho tàng văn hóa Việt Nam, dù tư tưởng ấy chịu ảnh hưởng của nho giáo bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng không bao giờ là bản sao. Một triều đại khởi đầu, hưng, phế trong mấy thế kỷ như triều Lê trong lịch sử nước nhà là một niềm tự hào của dân tộc, không thể quy trách nhiệm sự suy tàn, tiêu vong của triều đại đó cho một cá nhân như vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Ngược lại, biết đâu, nếu triều đại ấy luôn trung thành với tư tưởng lấy dân làm gốc, tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Trãi thì sự thịnh trị của nó còn duy trì dài lâu hơn.

    Theo tôi, ông Trương Thái Du viết về văn hóa một cách thiếu văn hóa, về giáo dục một cách thiếu giáo dục, về truyền thống dân tộc một cách vong bản.

  2. nguyen mai linh viết:

    Thưa bạn Nguyễn Việt Thanh,

    Những thuật ngữ Phật giáo như “viên dung vô ngại”, “dung nhiếp” làm cho tôi nghĩ tới cái “bóng râm của Phật giáo Tàu”, ảnh hưởng mạnh đến Phật giáo Việt Nam. Người Trung Hoa, họ đã có cố gắng chuyển tải, dịch thuật các tư tưởng Phật giáo từ các kinh sách tiếng Phạn để truyền dạy, còn nước ta thì sao? Phần thì bê nguyên si tiếng Phạn, dọc theo lối ký âm Việt nghe cứ như đọc thần chú, phần thì lấy nguyên tiếng Hán rồi đọc theo lối Việt, nghe qua thấy lai căng theo Tàu, phần thì dịch qua tiếng Việt, nhưng đa phần vẫn giữ những từ ngữ Hán-Việt trong dịch thuật. Vì thế, nước ta tiếng là có đa số theo đạo Phật, nhưng đúng ra thì không được bao nhiêu, chính là vì tư tưởng Phật giáo cao sâu quá so với đại đa số gọi là Phật tử. Và đại đa số lại hiểu đạo Phật theo nhiều lối dung tục khác nhau, trong đó lối mê tín dị đoan phải nói là khá phổ biến ở nước ta. Chính vì những điều nhận xét trên mà tôi nghĩ là Phật giáo như một con đại bàng với đôi cánh sải dài, bay được muôn ngàn dặm nhưng không biết cách hạ cánh ở những nơi tốt đẹp hoặc chỉ một ít nơi, mà tới nay chỉ biết hạ cánh ở nhiều nơi chốn mà tôi tạm gọi là mê tín dị đoan.

    Còn dung tục hóa Phật giáo, theo tôi nghĩ, nếu làm tốt thì đó chính là một cách để hiện đại hóa Phật giáo, thuận theo sự phát triển, tuân theo nền văn minh với cộng đồng thế giới. Nhưng cái sai là ở chỗ chính trị hoá tôn giáo, hoặc tôn giáo hoá chính trị, áp đặt thần quyền theo thế độc tôn phủ trên mọi thế quyền, trong đó kể cả quyền tự do tôn giáo, thì đó mới là điều đáng sợ. Bài của ông Trương Thái Du điểm cần bàn là ở chỗ ông ta lạm bàn về các tôn giáo khác mà theo tôi ông chẳng hiểu gì nhiều cho lắm.

  3. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Thưa bạn nguyen mai linh,

    Xin lỗi vì đã gây cho bạn khó chịu vì một số thuật ngữ Phật giáo. Một kẻ sơ cơ như tôi, không bao giờ dám có ý “đao to búa lớn”. Chỉ thiết nghĩ, nếu ai đã đọc qua chút ít kinh sách Phật giáo, thì những thuật ngữ như “viên dung vô ngại”, “dung nhiếp” là không quá xa lạ. Tư tưởng Phật giáo cao sâu, mỗi người có thể hiểu theo cơ duyên mình. Tôi cũng vậy. Khả năng có hạn, xin lỗi đã không tìm được cách diễn đạt đơn giản hơn [trong khung cảnh một bài viết như thế này!].

    Tôi đồng ý với bạn nên làm cho tư tưởng Phật giáo trở nên dễ hiểu hơn. Nhưng-theo thiển ý- đòi hỏi mọi điều đều rõ ràng, trắng đen tuyệt đối là không thể, mà có khi phản tác dụng, đưa đến tầm thường hóa một tư tưởng. Nhất là, hiện tại ở Việt Nam, xu thế dung tục hóa Phật giáo đang rầm rộ với những ý đồ chính trị mờ ám.

    Xin nói thêm một ý sau cùng, danh xưng “thiền sư” đã bị lạm dụng quá mức, sử dụng một cách rất tùy tiện. Thiền sư ở VN đâu mà lắm thế hở trời?
    Mặc dù, đối với Phật giáo mọi danh vị đều không quan trọng, nhưng ít nhất đừng để cho nó “loạn”. Danh mà loạn thì nguy hiểm vô cùng!
    Ngay trong bài viết này của ông Trương Thái Du, có đoạn “Kể sao hết những thiền sư không tự trói buộc mình bên kinh kệ, Phật pháp.” Ôi, đã là “thiền sư” lại còn “trói buộc” với “không trói buộc”, rồi lại còn có “văn minh Phật giáo thế tục” với “không thế tục” sao?

    Trân trọng.

  4. Tôn Văn viết:

    Thưa quý vị,
    Thưa anh Trương Nhân Tuấn (Hy vọng chữ „anh“ này không làm cho có người nhảy dựng lên: „… Chưa dần mà đã lấn bấn làm thân, … “; just for fun !!!),

    1
    Xin đồng ý rằng bài của tác giả Trương Thái Du có nhiều điều cần bàn lại. Thí dụ câu sau đây chứng tỏ ông không hiểu gì về Phật giáo Việt Nam và Phật giáo nói chung: „Quá nhiều quân vương Lý-Trần sớm rời ngôi báu, nương cửa Phật…“ – Thực chất việc tu hành của các vị như Trần Nhân Tông là lý tưởng có chủ đích nhằm phát triển nền tảng văn hóa, trí tuệ và đã trở thành di sản quý báu của Dân tộc. Hình như đạo Phật ngày nay bị nhìn với con mắt thiên lệch; Đó là khiếm khuyết của chúng ta. Các giáo thuyết đều bắt nguồn từ, và tiếp tục là nền tảng cho, văn hóa của con người. Điều đó giải thích tại sao các nước châu Âu khuyến khích phát triển các giáo lý như đạo Phật. Khi truyền giảng giáo lý, các thày thường dùng chữ „phương tiện“. Thí dụ „giải hạn, cầu an“ là phương tiện quy tụ đạo tràng để giảng về Tứ Diệu đế, Bát Chánh đạo, etc. Mục tiêu cuối cùng là Giác ngộ và Giải thoát. Sở dĩ ngày nay đạo Phật bị nhìm nhầm vì có người muốn biến nó thành „phương tiện“. Tôi được nghe trong một cuộc họp mới đây tại một thành phố nhỏ ở châu Âu, một Thượng tọa đến từ Hà Nội nói, đại ý: Các vị Phật tử không nên bàn luận vì đó là ý kiến của ban đại diện… Nghe cứ thấy hương vị „cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó; Trên bảo thì dưới phải nghe“! Đây chính là „DAO CẠO DÀI, DAO PHÁT“ chăng?
    Đạo là nền tảng văn hóa kiến tạo đạo lý/đức con người; Nó nằm ngoài, nhưng không cách ly chính trị. Nhà chùa các thời Đinh, Lý, Trần, … là các Think Tank của quốc gia.

    2
    Tôi đồng ý với anh Trương Nhân Tuấn (cũng như với anh Hưng Quốc) rằng cần thận trọng với Wikipedia. Để tìm hiểu về „Hệ thống và lỗi hệ thống“, tôi tìm „SYSTEM“ và thấy phần tiếng Việt không có nội dung gì ngoài định nghĩa; Phần tiếng Anh và tiếng Đức thì tốt nhưng vẫn có khác biệt trong trình bày và nội dung. Tôi nghĩ Wikipedia là phương tiện nhanh và tốt để thu thông tin, nhưng giá trị cuối cùng vẫn phải qua thao tác tư duy của người dùng. Nhân, nhớ chưa lâu có người dùng trên talawas chữ „giảng wiki“ làm tôi nhớ đến chữ rất thơ mộng của Xuân Diệu (?): Để được nghe trời giảng nghĩa yêu … (!)

    Thân mến.

  5. Khiêm viết:

    Một câu chuyện của thế kỷ XX. Tôi có một người bạn gốc Hoa nói tiếng Việt không thuần thục lắm, gia đình chạy từ Quảng Tây qua Chợ Lớn trong chiến tranh Trung-Nhật. Người bạn này thuộc về thế hệ thứ ba ở Việt Nam. Trong một lần thổ lộ về kinh nghiệm di dân này, người bạn này nói rằng những người Hoa khi qua Việt Nam nếu gia đình nào về thành thị thì còn giữ được gốc, còn gia đình nào về nông thôn thì đều thành người Việt hết. Người này mặc dầu giờ sống ở Mỹ, con gái Tàu nhiều vô số kể nhưng vẫn lấy một người vợ Việt. Không biết tác giả Trương Thái Du có để tâm đến những trưòng hợp mà theo tôi rất phổ biến này không?
    Thêm nữa, nếu về các thị trấn nhỏ miền Trung dọc theo các con sông ngắn nối các cánh đồng nhỏ với cửa biển và về những châu thành ở miền Tây, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người Việt với cái họ Tàu chay. Nhiều thế hệ người Việt này đã đổ máu ra để bảo vệ cái mành đất này đó.

  6. nguyen mai linh viết:

    Nguyễn Việt Thanh nói:
    “Tinh thần đích thực của Phật giáo là viên dung vô ngại, dung nhiếp tất cả, luôn mang tính khai phóng cao.”

    Nói chung, đọc xong đoạn văn trên, tôi chỉ hiểu mù mờ đại ý hay có thể chẳng hiểu gì cả. Cao siêu đẳng quá, nên có thể một số người khác nữa nghe qua cũng chẳng hiểu gì ráo. Tôi có chút nhận xét rằng, nếu triết lý Phật giáo đơn giản hơn chút nữa thì phổ cập hơn cứ dùng mãi những từ, theo tôi nghỉ, là quá đao to búa lớn như thế, thì tính phổ thông nó giảm đi nhiều, và đôi khi lại làm cho người ta hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nên đôi khi chỉ một chút triết lý nhỏ mà cũng làm người ta hiểu lộn tùng phèo cả lên

  7. Trương Nhân Tuấn viết:

    Bài viết này có rất nhiều điểm cần được thảo luận lại. Tôi chỉ góp ý rất sơ lược, vì chỉ là một góp ý, về một số điểm chính.
    1/ Về vai trò Nho giáo, tôi nghĩ tác giả có những ngộ nhận lớn về vai trò Nho giáo trong việc phát triển của Trung Hoa hiện nay cũng như trong quá khứ.
    Nho giáo được hiểu ở đây như một « học thuyết chính trị » nhằm tổ chức xã hội.
    Có thể trong quá khứ nước này có vài lần làm đại cường của thế giới, nhưng sự đóng góp của Nho giáo vào vị trí đại cường này còn trong vòng tranh luận. Vì vị trí « đại cường » ở đây người ta chỉ tính trên « tổng sản lượng quốc dân » chứ không tính trên sức mạnh về những thứ khác. Trung Hoa vì đông dân, nhiều bàn tay cày cấy, vì thế « nước giàu » thôi ! Về khoa học kỹ thuật Nho giáo đã giúp gì cho tuyệt đại đa số dân Trung Hoa, là nông dân, cải tiến các việc canh tác, cày cấy, săn thú, trồng trọt, chăn nuôi v.v… ? Về quân sự, giúp gì cho Trung Hoa khoa học kỹ thuật để canh tân vũ khí giữ nước và mở mang bờ cõi ? Không có gì cả ! Nho giáo chỉ chú trọng đào tạo một lớp người kiểu mẫu xã hội, đó là « quân tử ». Còn lớp thứ dân, tức là « tiểu nhân » thì nho giáo không quan tâm. Mà lớp người quân tử lần hồi bị hủ hóa do tham vọng quyền lực (và lợi lộc do quyền lực đem lại). Hậu quả, chính những triều đại đưa đến một nước Trung Hoa cực thịnh như Tống, Minh, Thanh…, triều nào Nho giáo cũng là « xương sống tinh thần », đều bị sụp đổ một cách thảm khốc, nước mất nhà tan vào tay ngoại bang. Nhà Tống mất vào tay nước Liêu, sau đó nhà Kim, tiếp theo là nhà Nguyên… đều là những giống dân mà nho giáo gọi là « khuyển nhung, mọi rợ ». Bị gọi kinh rẻ là « mọi », vì không được giáo huấn bởi Nho giáo, nhưng nhờ vậy mà họ có tiến bộ khoa học kỹ thuật, biết đưa tiến bộ này vào quân đội để mở nước. Quân Nguyên chinh phục gần cả thế giới nhờ kỹ thuật chế tạo cây cung. Nhà Minh mất vào tay nhà Thanh, cũng là một giống « mọi ». Riêng nhà Thanh, sau khi Hán hóa, lại bị sụp đổ do những bọn « tây dương, bạch quĩ » v.v… Điểm đáng chú ý, dưới các triều « mọi rợ » thì nước Trung Hoa được phát triển uy mãnh hơn cả. Thí dụ : triều Nguyên, lãnh thổ nước mày mở ra đến Châu Âu.
    Xem ra Nho giáo là một vấn đề, nếu không nói là tác nhân, của lịch sử trì trệ, đưa đến vòng nô lệ của Trung Hoa.
    Nhưng có thể ví nó như một sức mạnh mềm, có khả năng ràng buộc các nước nhỏ khác với Trung Hoa, tạo thành quan hệ chư hầu.
    Về vai trò của Nho giáo trong sự phát triển hiện nay của Trung Hoa cũng vậy, tác giả TTD cũng có một ngộ nhận lớn. Thực ra ngày hôm nay Trung Hoa có gì còn là Nho giáo ? Có thể nói : hầu như không có gì cả !
    Chế độ hiện nay của Trung Hoa được bắt đầu từ thời Mao Trạch Đông (1949 thống nhất lục địa). Mao đã tuyên bố : « một cuộc cách mạng không phải là một bữa tiệc tối, mà là một cuộc nổi dậy, một hành vi bạo động nhờ đó một giai cấp lật đổ một giai cấp ». Cuộc cách mạng bạo động đấu tranh giai cấp đã diễn ra và thành công trong xã hội truyền thống Trung Hoa, giai cấp lãnh đạo từ nay là giai cấp vô sản. Mao Trạch Đông có nhiều điểm giống Tần Thủy Hoàng : tàn bạo, giết thầy đốt sách. Dưới thời Mao, Nho giáo xem như tận diệt. Thay vào đó là « Mao tuyển, tư tưởng Mao, nhưng tư tưởng này đến từ đâu ? Không thể chối cãi là đến từ Karl Marx, một người Đức, tức đến từ Tây Phương. Mặc dầu tư tưởng Marx được Mao « cải biên » lại, thêm ít nhiều nồng độ cực đoan của Nho giáo, gọi là tư tưởng Mao, nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa của Trung Hoa rõ ràng là phát xuất từ Châu Âu. Xem cách thức tổ chức nhà nước, chỗ nào là truyền thống của Nho giáo ? Không có gì hết !
    Đến thời Đặng Tiểu Bình đưa ra lý thuyết mèo trắng mèo đen, thực ra là lý thuyết thực dụng, cái gì có lợi thì làm, mục đích lợi dụng Tây Phương phát triển kinh tế để tránh khủng hoảng sụp đổ do hậu quả của các cuộc cách mạng « long trời lỡ đất » của Mao. Thời kỳ này kéo dài cho đến thời Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và vẫn còn đến hiện nay. Kinh tế của Trung Hoa phát triển là do vốn đầu tư của Mỹ, Nhật ; là do khoa học kỹ thuật của Tây Phương ; là do kinh tế thị trường, do WTO, tự do mậu dịch v.v… Như thế, sự phát triển của Trung Hoa hiện nay là nhờ vào Tây Phương. Tư tưởng đã vay mượn Tây Phương. Vốn liếng cũng đến từ đây. Khoa học kỹ thuật (văn hóa) cũng vậy. Có cái gì là bản sắc Trung Hoa ở đây ? Có cái gì là Nho giáo (xương sống tinh thần) ở đây ? Tam cương, ngũ thường, những thứ gì của Nho giáo, chỉ thấy mới đây, qua chủ trương của Hồ Cẩm Đào, thể hiện ở phim ảnh, sách vở hoặc các viện Khổng Tử mới được thành lập. Đố tìm thấy cái gì âm hưởng Nho giáo ở bất kỳ người dân Trung Hoa nào. Nguyên nhân Hồ Cẩm Đào quay « về nguồn », tìm hứng ở Nho giáo là vì không lẽ Trung Hoa ôm mãi « xã hội chủ nghĩa » của Tây Phương ? mà tư tưởng này đã bị các nước sinh nó ra từ bỏ nó, do đó muốn xây dựng một xã hội mới. Khẩu hiệu là « dồn hết khả năng xây dựng một xã hội hòa hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa ». « Xã hội hòa hợp » là chủ trương về xã hội của Nho giáo. Mục đích để chính thống hóa đảng CS Trung Hoa như một triều vua. Nhưng xã hội chủ nghĩa đâu phải của Tàu ? Lần hồi cái đuôi XHCN sẽ rụng, sẽ chỉ còn thiên tử. Mà nói đến thiên tử (vua Tàu) thì phải gắn liền ông Khổng Tử vào ngai vàng. Lý thuyết nào có thể khiến người dân phục tùng thiên tử như thuyết Nho giáo ? Bổn cũ soạn lại, ông Hồ Cẩm Đào hy vọng đảng cộng sản của ông sẽ trường trị nước Trung Hoa, ít ra cũng bằng thời nhà Đường, nhà Tống !
    Như thế Nho giáo chỉ có lợi cho Trung Hoa nếu nó được « xuất cảng » sang các nước khác. Đây là việc nhà nước CS TQ đang làm, hy vọng tạo thành một trật tự mới, trong đó Trung Hoa là nước trung tâm, các nước chung quanh là phiên bang. Nhưng có thành công hay không là một việc khác. Hiện nay, sức mạnh mềm của Trung Hoa không hề là Nho giáo mà là đồng tiền, sức mạnh kinh tế và phương pháp sử dụng hai vũ khí này. Việt Nam sẽ quì gối trước Trung Hoa, không phải vì sức mạnh mềm Nho giáo như tác giả đã nói, mà là sức mạnh mềm màu xanh đô la và nền kinh tế thị trường do Trung Hoa chủ đạo trong khu vực. Mặc dầu, tính bình quân đầu người, con số thu nhập bình quân của dân Trung Hoa vẫn còn thuộc về dân nghèo.
    (Tôi không thích tham khảo từ wiki như nhiều người khác (làm nghiên cứu… trên internet). Nhưng ở đây có bài viết về Nho giáo coi rất được : http://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_giáo )
    2/ Về sức mạnh mềm của Việt Nam, tác giả gọi nó là : « văn minh Phật giáo thế tục Lý – Trần ». Tôi không muốn đào sâu vào chủ đề tế nhị này, nó liên quan lịch sử, tôn giáo. Nhưng tôi cho rằng ý kiến của tác giả nếu thành hiện thực sẽ là một nguy hiểm cho xã hội VN. Mặc dầu giòng họ tôi theo đạo Phật, nhưng tôi chủ trương tôn giáo phải đứng ngoài chính trị.
    Tôi chỉ đưa các thí dụ : Các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia đều là các nước có Phật giáo là quốc giáo. Các nước này thế nào ?
    Các nước Phi Luật Tân, Mexico, Haiti… là các nước có dân đa số theo đạo Thiên chúa, các nước này ra sao ?
    Không nói đến các nước lấy Hồi giáo làm quốc giáo.
    Theo tôi, tôn giáo nào cũng tốt nếu nó giữ đúng vai trò của nó. Mà vai trò đúng của nó là không dính dáng đến các việc chính trị của thế tục.
    3/ Tác giả viết rằng : « Tôi không phủ nhận có sự hoài vọng dành cho mô hình dân chủ đa nguyên phương Tây trên con đường tự cường của đất nước này. Tuy vậy mô hình ấy mâu thuẫn đến độ một mất một còn với chế độ chính trị và nền tảng tư duy Nho – Khổng của xã hội Việt Nam hiện nay. »
    Tôi thấy tác giả có ngộ nhận rất lớn, nếu không nói là có thành kiến, với mô hình dân chủ đa nguyên. Mô hình dân chủ đa nguyên không hề một mất một còn với tư tưởng nào, từ cộng sản cho đến nho giáo, vì nguyên tắc của đa nguyên là chấp nhận để chung sống với các chủ nghĩa, các tư tưởng khác nhau. (Tôi viết những dòng chữ này với tư cách của một người « không vào một tổ chức nào ». Tôi e rằng có người nghĩ tôi vẫn còn là thành viên của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên). Tôi nghĩ rằng tác giả TTD nên đọc các tác phẩm về dân chủ phương Tây trước khi có các phê phán nó.
    Xin gởi đến tác giả TTD, những giòng chữ của ông Nguyễn Trần Bạt ( http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luan-Ly/Su_tha_hoa_cua_cai_Toi/), người theo tôi đã đọc và thông hiểu các tư tưởng phương Tây : « …tôi như con chim hót những tiếng hót được khích lệ bởi âm thanh tự do của các bậc tiền bối như John Locke, Baron de Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, John Stuart Mill… Những tiếng hót ấy còn mang âm hưởng của dân tộc Việt Nam, một dân tộc có lịch sử lâu dài, quyết liệt trong việc giành tự do. Những tiếng hót ấy chất chứa tình yêu đối với con người và thân phận con người. Những tiếng hót ấy là sự trăn trở trong quá trình đi tìm những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống con người và sự hình thành các giá trị con người. »
    Tôi cũng thấy tác giả ngộ nhận khi cho rằng nền tảng xã hội VN hôm nay là Nho-Khổng. Hy vọng tác giả TTD sẽ viết một bài nói rõ hơn về việc này.
    Tác giả cũng cho rằng Nho giáo và mô hình đa nguyên là ngoại lai trong khi đó lại đề cao Phật giáo. Thực ra Phật giáo du nhập vào VN cũng từ ngả Trung Hoa, sau Nho giáo, thì cũng ngoại lai mà thôi. Tôn giáo ngoại lai, Dân chủ ngoại lai, Xã hội chủ nghĩa ngoại lai, cộng hòa cũng ngoại lai.
    Theo tôi, ngoại lai hay không không phải là vấn đề bàn cãi. Vấn đề bàn cãi là mô hình nào tốt cho VN hiện nay ?
    Câu trả lời sẽ đến từ Nhật Bản, Đại Hàn hay Đài Loan. Tại sao lại mất thì giờ vớ vẩn về thuyết này thuyết kia, ngoại lai hay không ngoại lai, trong khi có những lý thuyết có sẵn, đã được nhiều lần chứng minh thành công, tại sao không dùng ?
    Nhật Bản họ dùng, Đại Hàn họ dùng, Đài Loan họ dùng… có chết ai đâu ? Nhìn sự phát triển của họ mà thấy thèm chẩy nước miếng !

  8. Kim Sinh viết:

    Trương Thái Du: “Tôi chỉ muốn hỏi người Việt Nam có thứ gì để tự bảo vệ mình trước sức mạnh mềm ấy không, hay là họ sẽ lại cảm thấy an toàn (tuy rằng có mất mát) trong cái gọi là “bóng râm Trung Hoa1”?

    KS: Đừng giỡn nghe ông bạn. Hãy nhìn lại lịch sử đi. Người Việt đã cho nguyên một ngàn năm để “bóng râm Trung Hoa” phát triển hẳn trên đất này thế nhưng “cái sức mạnh mềm ấy của Trung Hoa đã làm được gì nào ngoài một chút văn hóa, cái điều tương tự như văn minh phương tây thừa hưởng từ Hy Lạp, thì có gì đâu mà vỗ ngực “đem hồn Thi – Thư – Lễ – Nhạc vào cung đình” ?

    Mà nè, đọc bài thì thấy Trương Thái Du có biết gì là sức mạnh mềm đâu! You chắc qua Việt Nam từ sau khi Nhật chiếm TQ. You có biết các lớp di dân từ Trung Hoa trước đó, nhất là làn sóng Minh Hương thế kỷ 17, khi đến Việt Nam đều bị văn hóa Việt Nam nuốt chững hay không ? Những người Hoa Minh Hương khi đến Malakka sau 300 vẫn giữ nguyên ngôn ngữ, văn hóa bản sắc Trung Hoa, thế nhưng những đồng hương của họ đến Hội An và một số nơi khác trên đất Việt Nam thì gần như đã quên gốc gác. Điều gì tạo nên sự kỳ diệu ấy nếu không nói từ đó kết thể kết luận được sức mạnh mềm của ai “mạnh” hơn?

    Hì, quên sức mạnh mềm Trung Hoa đi ông bạn. Sức mạnh ấy vốn đã yếu khi cọ sát với Việt Nam nay càng yếu hơn hơn nữa vì chủ nghĩa dân tộc nước lớn các you phá cho tan hoang.

  9. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Tinh thần đích thực của Phật giáo là viên dung vô ngại, dung nhiếp tất cả, luôn mang tính khai phóng cao. Vì vậy, tôi nghĩ rằng Phật giáo -đích thực- không loại trừ “mô hình dân chủ đa nguyên phương Tây”, nếu không muốn nói là phù hợp, xét theo một nghĩa nào đó. Trái lại, chính sự độc tôn chân lý, độc quyền tư tưởng mới chính là kẻ phá hủy ghê gớm nhất tinh thần minh triết của Phật giáo.

  10. […] Bài viết này không có ý định đi sâu vào ngóc ngách hiểm hóc của sức mạnh mềm Trung Hoa. Tôi chỉ muốn hỏi người Việt Nam có thứ gì để tự bảo vệ mình trước sức mạnh mềm ấy không, hay là họ sẽ lại cảm thấy an toàn (tuy rằng có mất mát) trong cái gọi là “bóng râm Trung Hoa1”? […]

  11. Trương Đức viết:

    “Đọc xong đoạn này tôi thấy hiện lên hình ảnh: một người mù cầm đèn đi trong đêm đụng phải người khác rồi la toáng lên “Anh mù hay sao mà không thấy đèn của tôi để đi đụng cả vào người tôi thế này?” trong khi đèn của mình xách trên tay thì đã tắt ngấm từ lâu mà mình không hay!”(Song Huong)

    Tôi cứ “chúm chím tủm tỉm” mãi với đoạn phản hồi này của bác Song Huong. Phải công nhận cái cách bác sử dụng hình ảnh “người mù cầm đèn tắt ngấm từ lâu” để đánh giá bài viết của TTD thật là tài tình và “thâm hậu”! Việt Nam ta có câu tục ngữ “Cầm đèn chạy trước ô tô” để nói những kẻ lau chau, làm một việc không cần thiết, chỉ dẫn “đường đi nước bước” cho người “sáng mắt” hơn mình. Tôi không biết là talawas đăng bài có theo một “kịch bản” gì không? Chứ mấy ngày hôm nay, tôi thấy hình như các bài viết được đăng lên theo một “diễn biến” rất chi là “không hòa bình” chút nào. Bài sau “ngáng chân” bài trước, bài trước thì “thách đố” bài sau. Đây nhá, các bác xem, ngay chính cái bài này của TTD nói về “sức mạnh mềm Việt Nam” thì lập tức có bài “xe hơi xe đạp điện” của bác Dũng Vũ với câu “ngáng chân” như thế này: “Đây là một cơ hội cho Việt Nam làm nên một sản phẩm trí tuệ thi tài với Trung Quốc. Hãy nên khiêm tốn. Đừng mãi trưng khẩu hiệu “Toàn đảng, toàn dân với trí tuệ ưu việt tiến vào thế kỷ thứ 21” nữa mà nên làm thực tế, cũng chế được chếc xe đạp điện cạnh tranh với Trung Quốc bán khắp thế giới. Đào mỏ bán hoài, ai tin mình có trí tuệ?”. Hoặc bài trước là bài của ông/cụ Trường Lam vừa “thách thức” “Bác Hồ của chúng ta là thiên tài đấy, làm gì được nhau nào” chưa “ráo mực”, thì có ngay bài “Phạm Hồng Sơn & Sơn Đông mãi võ” của bác Tưởng Năng Tiến “đốp lại”,… Tôi còn có thể nêu vài ví dụ nữa, nhưng có lẽ các bác cũng nhận thấy cả rồi.

    Tôi xin quay lại cái bài viết này. Tôi xin hỏi ông Trương Thái Du một câu như thế này:
    Thế hồi cái nhân vật “thiên tài” của ông/cụ Trường Lam đi ra nước ngoài “tìm đường cứu nước”, rồi đem “chủ nghĩa cộng sản”(cái chủ nghĩa này cũng là “ngoại lai” đấy chứ, có phải không ông?) vào Việt Nam, mà từ đó gây ra biết bao đau thương tang tóc (phong trào Cải Cách Ruộng Đất, rồi “công cuộc giải phóng Miền Nam” chẳng hạn) cho dân tộc Việt Nam, thì cái nhân vật ấy không nghĩ rằng: “Nó(chủ nghĩa cộng sản) đặt tương lai dân tộc trước rủi ro quá lớn”, hơn nữa “chủ nghĩa cộng sản” “vẫn là một mô hình ngoại lai như Nho giáo, tất sẽ dẫn đến những xung đột dai dẳng và để lại di chứng khó lường cho văn minh Việt Nam.” à?

    Hỏi như vậy cho vui thôi, chứ tôi cũng như ông, chúng ta đều biết thừa là: dân tộc Việt Nam ta có quá nhiều những nhân vật “cầm đèn chạy trước ô tô”, họ thật “vĩ đại”, nhất là trong cái việc: làm “điêu đứng” dân lành!

  12. nguyen mai linh viết:

    Để đặt nền tảng xây dựng một đất nước Việt – Độc Lập – Tự Do – Dân Chủ theo đúng nghĩa của nó, việc đầu tiên là loại bỏ việc gán tôn giáo vào những hoạt động chính trị – Đã hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo thì cấm hẳn việc hoạt động chính trị. Bao nhiêu thời đại đã qua đã cho chúng ta bài học đó. Tôn giáo, từ Phật giáo cho đến Thiên Chúa giáo, cứ dính vào chính trị là dân tình tất loạn, đất nước suy yếu. Thời Ngô, một bên là Thiên Chúa giáo gây thanh thế, một bên là Phật giáo gây bạo loạn chống lại chính quyền và vô tình hay hữu ý lại làm cho đất nước suy yếu tồi tệ, nhân tâm chia rẽ. Bây giờ, nếu lại dựa vào một tôn giáo nào đó để làm căn bản thì sai lầm cũ lại tái diễn và đất nước sẽ lại suy yếu. Điều này có thể khó tránh khỏi ở một đất nước đa tôn giáo như ở Việt Nam.

  13. Song Huong viết:

    Xin hỏi Trương Thai Du: Mô hình tổ chức xã hội nào sẽ phát huy tối ưu sức mạnh mềm của Việt Nam (cứ tạm cho sức mạnh mềm của Việt Nam có nền tảng là Phật giáo như ngụ ý của TTD)? Dưới sự cai trị tộc đảng lạc hậu của CSVN hiện nay, sức mạnh mềm của Việt Nam có tồn tại và phát triển được hay không? Hay là nó đang bị biến dạng trở thành một thứ hổ lốn, đầu Ngô mình Sở đít Mác bụng Lê phao câu Hồ?

    Trương Thái Du viết: “Tuy vậy mô hình (dân chủ đa nguyên phương Tây) ấy mâu thuẫn đến độ một mất một còn với chế độ chính trị và nền tảng tư duy Nho – Khổng của xã hội Việt Nam hiện nay. Nó đặt tương lai dân tộc trước rủi ro quá lớn, hơn nữa dân chủ đa nguyên vẫn là một mô hình ngoại lai như Nho giáo, tất sẽ dẫn đến những xung đột dai dẳng và để lại di chứng khó lường cho văn minh Việt Nam.” Đọc xong đoạn này tôi thấy hiện lên hình ảnh: một người mù cầm đèn đi trong đêm đụng phải người khác rồi la toáng lên “Anh mù hay sao mà không thấy đèn của tôi để đi đụng cả vào người tôi thế này?” trong khi đèn của mình xách trên tay thì đã tắt ngấm từ lâu mà mình không hay!

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>