Song Xuyên – Mẹ và tuổi thơ (phần 2)
25/03/2010 | 3:09 sáng | 2 Comments
Category: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử, Tạp văn
Thẻ: Mẹ
Cách đó mấy năm, khi Nhật vào nước ta, ông nội tôi có làm một bài thơ Đường bằng chữ Nôm (hầu hết các cụ không biết chữ quốc ngữ hoặc biết ít). Bài thơ nói về đau mắt để gửi gắm nỗi lòng khi lá cờ đỏ mặt trời của Nhật ngự trị trên quê hương mình. Ðau mắt nhìn mặt trời thì nhức nhối xốn xang, tạm dùng thuốc điểm, thuốc dán và tìm thầy để chữa, không nên chữa thuốc bắc vì lờn thuốc và gió tây thì thổi chướng lại đau thêm, hàm ý muốn chống phát xít Nhật phải tự sức mình và tìm người minh chủ đứng ra cứu nước chứ đừng cậy Tàu nhờ Tây:
Đỏ mắt
Không giận chi ai mắt đỏ kè Hường hường một sắc mặt trời hoe Xốn xang khó nổi nhìn non nước Nhức nhối như tuồng xát muối me Thuốc Bắc thường dùng xem đã chán Gió Tây thổi chướng thế nên dè Bước tìm chưa gặp thầy hay hử? Điểm, dán làm sao nhậm bớt hè.
Cụ Học đã họa lại cùng luật trắc vần bằng:
Cặp Chuồn-Chuồn
Bốn cánh song song bay cặp kè Cong đuôi dính lại nắng vàng hoe Lim dim mắt mũi va hàng chuối Quấn quýt chân tay vướn bụi me Trẻ nít rình mò nào nỏ biết Kiến ong rúc rỉa có đâu dè “Buồn vui, bay đậu” hay chăng tá! Non nước đầy vơi đau quá hè.
Lấy cảnh làm tình của hai con chuồn-chuồn lim dim, quấn quít nhau say mê đến va hàng chuối, vướn bụi me mà quên trẻ nít, kiến ong đang rình rập hại mình; để chỉ hạng người đang phè phỡn quên mình nước mất, dân làm nô lệ, nhất là “khi vui chuồn đậu, khi buồn chuồn bay” nói lên niềm đau xót trước cảnh chia rẽ, thiếu hợp quần của người nước Nam ta để họa lại ý của bài “Đỏ mắt” thì thật là quá hợp cảnh, hợp tình.
Hôm ấy có nhiều bài họa của các cụ khác nữa, nhưng có lẽ hay nhất là bài của cụ Học. Như cụ Hà Lộ, thầy địa lý rất nổi tiếng người Quảng trị, lấy hình ảnh của một mụ me Tây cờ bạc, dựa thế Tây không coi ai ra gì, hạng người ấy sống phè phỡn đâu có nghĩ gì đến dân tình, nước non. Chỉ có bài này là luật bằng vần bằng còn tất cả cùng luật với bài họa:
Mụ Me Tây
Tà-phơi, cái bóp kẹp lè kè Váy mặc, đầm xòe, xòe đỏ hoe Buổi tối sà vô chiếu tứ sắc Ban mai ngồi tõm đám sòng me Xinh xang đi đứng dân kiêng nể Rủng rỉnh tới lui quan phải dè Đói khổ muôn người đâu có biết Đứa chi vô tích sự ri hè…
Ông ngoại tôi, cụ Nghè Trường, thì dùng hình ảnh Con Cắc Kè, để nói lên sự nguy hiểm của bọn lính kín, tức là mật thám Tây và Nhật để cảnh giác các bạn mình, vì ông ngoại đã từng bị Tây bắt nhiều lần vì tham gia hội kín:
Con cắc kè
Biến hóa ranh ma con cắc kè Xanh xanh phút chốc đỏ hoe hoe Vểnh tai nghe ngóng bên hàng giậu Nghé mắt rình mò cạnh gốc me Nguy hiểm chết người mình chẳng biết Tai bay vạ gió ta đâu dè Nước Nam có lũ người như rứa Tìm cách chi trừ khử chúng hè…
Có điều tôi nghĩ, xưa cũng thế, nay cũng thế, bút lông cũng thế, bút bi cũng thế… nếu cùng đựng trong một ống bút thì chúng va chạm nhau, khua lên chan chát, có khi mực tung tóe vấy ra khắp bàn, làm hoen ố sách vở nữa. Trong những buổi họp mặt, các cụ mới đầu còn e dè, nhường nhịn, tương kính sau đó lại to tiếng tranh cãi, giành nhau nói, có khi mạt sát nhau nữa chỉ vì một vài chữ, vài câu khác ý nhau. Có tình bạn nào thắm thiết hơn tình bạn của ông nội, ông ngoại tôi – hứa kết tình thông gia từ lúc hai người còn bút nghiên, lều chõng; từ lúc cha mẹ tôi là hai noãn sào trong bụng của những người con gái đâu đâu chưa biết – thế mà vì một chữ, một câu đôi lúc giận nhau bảy, tám tháng không lui tới.
Lại cũng buồn cười, để chống với súng đồng, tàu sắt của Pháp, của Nhật mà ông cha ta có vị chỉ biết có niêm luật, bằng bằng, trắc trắc của thơ Đường cũng y hệt chúng ta bây giờ, cộng sản gian manh, quỷ quyệt là thế, cai trị dân ta hà khắc là thế, mà người Việt ta ở hải ngoại chỉ có chống cộng bằng hoan hô, đả đảo, biểu tình, tuyên ngôn, không chịu đoàn kết lại thành một khối vận động các chính phủ sở tại, các đại diện dân cử mà mình góp phiếu bầu lên để họ làm áp lực với nhà cầm quyền trong nước về ngoại giao, kinh tế, chính trị và có khi chính mình quay lại thốc vào hông nhau nữa…
Cụ Học thường khuyên chúng tôi, hãy tìm hiểu thơ Đường, nó hay lắm. Một bài Đường luật, so với các thể loại khác, cùng một đề tài, cùng một số chữ, như hai cái bánh cùng phẩm, cùng lượng. Một cái được đúc từ cái khuôn xinh xắn ; còn cái kia được nắm lại như nắm xôi, trò hãy chọn ăn cái nào?
Thế mà nay cụ bị giết rồi… Sau này nghe mẹ kể, vợ chồng cụ Học Hối, nhà ở Tây thượng gần thành phố Huế, khi Pháp đổ bộ từ cửa Thuận An tiến lên, chúng tràn qua vùng cụ, cụ đi tản cư, đang đêm Việt minh vào giết cả hai vợ chồng.
Ở lại Huế chơi với dì mấy ngày, mẹ tôi ra về. Đây là lần đầu tiên tôi xa nhà và cũng là lần đầu tiên xa mẹ nên khi tiễn mẹ xuống bến đò dọc về quê tôi nhớ hoài…
Bến đò Vỹ Dạ ẩn dưới hàng dừa xanh im bóng. Một con đò hai mui cập sát vào bờ, bác chủ đò đang hì hục khiêng hàng hóa từ trên bến xuống. Trong khoang, hành khách đã khá đông, kẻ ngả lưng trên hàng hóa, người dựa vào mạng đò, họ chuyện trò cười nói vui vẻ, cũng có người nhắm mắt ngủ tự hồi nào, cạnh đó vài cô gái giặt giũ, mỗi người một thau trôi bồng bềnh quanh chân.
Chiếc đò dọc trước mặt tôi sao trông nó bình dị thế, khác với con đò trong óc tưởng tượng của tôi… Mới hơn năm trước đây thôi, khi quê hương còn thanh bình, con đò này từ cửa Tư Hiền lên Huế, qua làng tôi vào quãng giữa canh năm. Tiếng mái chèo kẽo kẹt, tiếng nước chảy róc rách và rõ hơn hết là giọng hò ngọt ngào, êm ái bay là là trên mặt nước, từ xa lại gần rồi từ gần ra xa len vào giấc ngủ đang mơ mơ màng màng của tôi: “Ai bưng trầu rượu tới đó hãy chịu khó bưng về, vì em đây đang theo chân thầy gót mẹ cho trọn bề hiếu trung.” Tiếng hò gieo vào lòng tôi một cái gì thổn thức, bâng khuâng. Tôi thương cảm người con gái nào đây đã hy sinh tình riêng để đền đáp công ơn cha mẹ…
Chưa xuống đò vội, mẹ tôi căn dặn tôi cách ăn ở, khuyên tôi chăm chỉ học hành và tất cả những gì đã nói từ hôm qua, hôm kia bây giờ me tôi lại đem ra nói một lần nữa.
“Mời cô bác xuống đò”, tiếng giục khách của ông lái đò vang lên làm dứt chuỗi lời của mẹ tôi, bà đưa tay xoa đầu tôi, âu yếm:
“Thôi mẹ về, con ở lại chăm học nghe.”
Tôi muốn đáp lại một câu gì để mẹ được yên lòng, song không hiểu tại sao tôi chỉ “dạ” một tiếng nho nhỏ trong cuống họng rồi nhìn theo bước chân thoăn thoắt của mẹ xuống đò.
Bác lái đò mở sợi dây buộc ở gốc dừa, xoài mình đẩy đò ra rồi nhảy phóc lên, đầu kia một cô gái cũng buông chèo xuống nước. Đò ra giữa sông, mẹ tôi vẫn hướng mắt nhìn vào bờ. Mái tóc điểm sương cùng khăn quàng lụa mỏng phất phơ trước làn gió nhẹ, tựa hồ như đi dần vào cõi mất khiến cho lòng tôi man mác buồn. Tôi liên tưởng đến nụ cười hiền từ thỉnh thoảng đón tôi ở cổng khi tôi đi học về hay đôi mắt âu yếm nhìn tôi học bài dưới ánh đèn đêm, những cử chỉ ấy khi còn ở nhà tôi xem như thường tình lắm, sao lúc này tôi lại lâng lâng tiếc rẻ…
Chiều, chiều xuống hẳn, bến vắng tanh. Vài con đò còn lại im lìm như thiêm thiếp ngủ, mấy chị giặt giũ cũng đi đâu rồi.
Tôi lặng lẽ trở về nhà dì tôi, trời chớm thu trông thật buồn bã, những cành cây hai bên đường cố sức giao nhau nhưng không đủ che kín bầu trời nhạt sẫm. Gió từ mặt sông thổi lên hiu hắt, con đường vắng vẻ quá không có ai đi cạnh để chia sớt tâm tư mình.
Thời gian tôi ở với dì, dì tôi cũng thương tôi lắm nhưng kém hơn con dì. Những lần dì tôi đi xa về, các em tôi chạy ra mừng mẹ, tôi cũng chạy theo, nửa chừng tôi tiu nghỉu đứng lại như nhớ ra không phải mẹ mình.
Chiến tranh ngày càng ác liệt. Tôi vào quân đội, lâu lâu mới có phép về thăm mẹ, thăm quê.
Rồi miền Nam mất, ra tù cải tạo mấy năm thì được tin mẹ đau nặng, tôi tức tốc về ngay nhưng đến nhà thì mẹ tôi đã qua đời. Chị tôi trao tôi một túi vải nhỏ, trong đó có mấy cái răng của mẹ tôi và tờ giấy vở học trò nhàu cũ. Té ra cái bài thơ tôi lén đưa mẹ tôi trong lần thăm nuôi cách đó mấy năm, lướt lướt qua tôi đọc:
Chốn rừng sâu nơi lao tù nhớ mẹ Con ngồi nghe hình ảnh tháng ngày qua Bao nét thân thương bóng dáng mẹ già Mái tóc bạc trải qua non thế kỷ … Lo chắt chiu từng hạt lúa củ khoai Ðể đưa chồng đi thi hương thi hội … Ba con mất khi tóc mẹ còn xanh Ðêm đông lúc gió lọt qua mành Con thức giấc thấy mẹ ngồi yên lặng Mẹ ngồi đó gẫm cuộc đời cay đắng Gẫm thân mình góa bụa tóc tang … Mẹ đau khổ mà mẹ không khóc Nước mắt để dành cho con ăn học Nén tâm tư trên bến nước chợ chiều … Con ăn năn những hồi còn bé Ðôi lúc đã làm cho mẹ buồn Chiều nay trăm nhớ ngàn thương Thơ gửi mẹ với muôn vàn yêu kính…
Tôi không đọc tiếp được nữa mà đưa mấy cái răng nhờ người tẩm liệm làm theo nếp nghĩ của các thế hệ trước mình; còn bài thơ, tôi xếp làm tư để vào ngực áo mẹ.
Suốt lễ thành phục, áo chế khăn tang, tôi quỳ trước linh cữu mẹ mà đầu óc cứ chòng chành như say sóng. Buổi chiều thăm nuôi nơi trại tù cải tạo chốn rừng sâu mấy năm trước đó lại lần lượt hiện về… Rừng núi âm u, mây mù bao phủ, mới xế trưa mà muôn vật tựa hồ như tụt dần vào bóng tối. Từ cỏ cây cành lá cho đến con ve cái kiến đờ đẫn như thèm chút nắng mặt trời… Mẹ tôi rờ rịt thân hình xanh xao, gầy guộc của tôi; tôi mân mê hai cánh tay nhăn nheo, xương xẩu của bà. Dường như mẹ tôi khóc nhiều hơn nói. Rồi tiếng thét lạnh tanh của tên công an lại vang lên: “Hết giờ rồi”. Mẹ tôi sửng sốt quay nhìn nó, từ cuống họng bật lên hai âm “a á”, như uất ức hỏi, “Người ta mới đến mà”!… Tên công an lăm lăm nhìn bà nhắc lại “15 phút thôi”. Tôi nhìn vào mặt bà, hai dòng nước mắt chảy ngoằn ngoèo theo nếp nhăn trên má mà không đủ lọt được xuống cằm. Tám mươi bốn tuổi đời, ba ngày hai đêm, tàu xe vất vả, lại thêm mười lăm cây số lội bộ đường rừng, để đổi lấy non 15 phút gặp con như thế này ư? Quá đau đớn, xót xa cho mẹ, cho mình, nên tôi nói với mẹ như trách:
“Con đã dặn vợ con rồi, bảo mẹ đừng đi.”
Mẹ tôi lại khóc nhiều hơn:
“Biết có còn sống đến ngày gặp con không.”
Tôi chuyển mấy thứ túi lọ dưa cà muối mắm từ trong bị lát của bà qua bao cát của tôi. Tôi cầm chúng, biết là dưa cà muối mắm mà không rõ là thứ gì, có điều thoáng trong óc tôi rất rõ, những thứ này mẹ tôi đã chắt chiu ngày ngày, tháng tháng bao nhiêu lâu mới có được. Mẹ tôi cầm cái bị lát lên mà trong lòng bàn tay đã có sẵn bài thơ tôi cuộn tròn như điếu thuốc lá, bà giũ giũ như muốn bảo với chúng, “Bây đừng có soát, cái bị lát trống không đây này.”
Hai mẹ con tôi nấn ná được gần nhau phút nào hay phút ấy nhưng tên công an lại nạt lớn:
“Đừng có lề mề, cố kéo dài để lười lao động hả…”
Mẹ tôi lảo đảo bước ra chiếc xe trâu đã có sẵn mấy người đàn bà ngồi chờ, với thân hình già yếu lại bé nhỏ nên trầy trật mãi mà vẫn leo lên chưa được, tôi toan chạy đến giúp bà thì tên công an ngăn lại.
Ôi chao ôi, hai chân tôi như rụng rời, ôm cái bao cát thất thểu đi trước tên công an bước vào cổng trại, chốc chốc ngoái cổ lại, nhìn chiếc xe trâu đang khập khễnh, khập khễnh dần khuất ở mé rừng…
© 2010 Song Xuyên
© 2010 talawas
Bình luận
2 Comments (bài “Song Xuyên – Mẹ và tuổi thơ (phần 2)”)
Thưa bạn Ton Van:
Làm sao?
…Dân Việt có lòng đại độ. Đốt cái xác ở Tam-đình như lời trối của người ta, dựng Mồ-chiến-sĩ-vô-danh ở đó để tỏ lòng hối lỗi, chỉ sợ các ngươi khư khư giữ cái tham-sân-si mà chuốc lấy bay đầu như Cù-Thị, Ai Vương dưới lưỡi gươm của Tể Tướng Lữ Gia thôi…
Mời bạn đọc bài “Lưỡng Quốc Chí” đăng ngày 11/12/09 trên talawas…
LÀM SAO?
Kỷ niệm đau buồn về cuộc đời và Người Mẹ; Lời kể tinh tế.
Dù chưa được đọc và biết nhiều về tác giả, cũng xin chân thành chia xẻ bằng những dòng cảm nhận khi đọc KỴ SỸ ĐỒNG của Puskin:
Một thời khủng khiếp đã qua,
Mà bao kỷ niệm như là mới nguyên;
Chuyện xưa chép lại bên đèn,
Hãy nghe cả những ưu phiền bạn ơi…
Làm sao thế hệ chúng ta gánh chịu cho hết những đau thươngm mất mát?
Làm sao (như lời GS Lê Xuân Khoa) không để những hận thù truyền đến những thế hệ mai sau?
Làm sao?