Trần Văn Tích – Dạt/Giạt
23/03/2010 | 1:00 sáng | 9 Comments
Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: Dạt / giạt; dòng / giòng
Vì tôi đầu têu ra chuyện nên dùng nhóm chữ “cộng đồng lưu vong” để chỉ một bộ phận tập thể đồng bào Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài thay vì gọi chung là “cộng đồng hải ngoại” nên đã có một số phản hồi thoạt đầu liên quan đến chữ “lưu vong” rồi chuyển qua “lưu lạc” để rồi đến cặp chữ “dạt/giạt”.
Theo một số quí vị “phản hồi gia” như Nguyễn Đình Đăng, Hoàng Ngọc-Tuấn thì viết dạt hay giạt cũng đều đúng. Ông Hoàng Ngọc-Tuấn còn trích dẫn tự điển của Viện Ngôn ngữ học. Phần tôi thì lại thấy dường như vấn đề chưa thể giải quyết gọn, nhẹ như vậy.
Giống như ông Hoàng Ngọc-Tuấn, tôi hiện có mấy cuốn tự vị, tự điển, từ điển đơn ngữ Việt-Việt. Vậy để bắt đầu, tôi xin dẫn các tự vị, tự điển, từ điển liên hệ.
Cuối thế kỷ XIX, năm 1895, Dictionnaire annamite-大南國音字彙 – Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, Tome I, A-L, ghi cả hai chữ dạt và giạt:
– “Dạt. n. Dan ra, để nới ra, không cho giụm lại. – ra. Bỏ ra, để nới ra. – củi. Kéo củi ra để cho xa nhau; bớt củi bớt lửa. Bỏ –. Bỏ ra không dùng.“ (n = chữ nôm).
– Giạt. n. Bị sóng gió đưa ra, hoặc tấp vào. – vào bờ. Tấp vào bờ. – ra. Đưa ra, bỏ ra, để riêng ra. Bạt –. Trôi tấp, hoặc đưa vào chỗ nào. Giợt –. Nước da không sậm, nhứt là bị nước làm cho lợt màu.”
Từ năm 1931, Việt Nam Tự điển do Hội Khai trí Tiến đức khởi thảo đã gán cho hai chữ dạt/giạt hai nghĩa khác nhau: “Dạt: Thưa, giãn: Vải dạt, sợi dạt” và “Giạt: Bị sóng gió xô đẩy đi: Trời mưa giạt cả ao bèo. Thuyền bị sóng đánh giạt vào bờ. VĂN-LIỆU.- Hoa trôi, bèo giạt đã đành (K).” [(K) = Truyện Kiều].
Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, ấn bản 1977, không ghi chữ dạt, chỉ ghi chữ giạt: “GIẠT. – t. Bị xô vào một bên: Vải giạt; Bèo giạt.” (t. = tính từ).
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, ấn bản 1994, ghi “dạt1 cv. giạt. đg. Bị xô đẩy đi nơi khác một cách tự nhiên do một tác động nào đó. Thuyền bị sóng đánh dạt vào bờ. Chạy dạt về một phía. Đám đông dạt ra nhường lối cho xe đi.” và “dạt2 đg. Dãn thưa ra (thường nói về sợi của hàng dệt). Vải mới giặt vài lần đã dạt.” (cv. = cũng viết, đg. = động từ). Đối với chữ giạt, Từ điển Hoàng Phê ghi: “giạt1 x. dạt1“ và “giạt2 x. dạt2“. (x. = xem).
Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm, ấn bản 1999, ghi “dạt đgt. Bị xô đẩy đi nơi khác một cách tự nhiên. Thuyền bị sóng dạt vào bờ.” (đgt = động từ) và “giạt tt. Xô vào một bên. Vải giạt sợi. Bèo giạt.” (tt. = tính từ).
Như vậy: 1) Các từ điển phát hành thời Pháp thuộc phân biệt dạt và giạt. 2) Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm hiểu chữ giạt giống nhau1; 3) Văn Tân không biết đến chữ dạt; 4) Hoàng Phê không phân biệt dạt/giạt, hai chữ viết cách nào cũng được.
Cả ba bộ từ điển vừa liệt kê đều do người miền Bắc biên soạn.
Tại miền Nam và trước năm 1975 có Việt-Nam Tự-điển do Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu biên soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính. Quyển Thượng A-L, ấn bản 1970, ghi “DẠT đt. Tải ra, banh rời ra, không để chồng-đống: Dạt củi, dạt đống cát // (R) tt. Thưa, lơi, không dày, không săn: Vải dạt, sợi dạt.” và “GIẠT tt. Tạt, lạc, trôi vất-vưởng, không phương-hướng: Thuyền giạt, bèo giạt hoa trôi.“
Như vậy hai soạn giả miền Nam phân biệt rạch ròi giữa dạt và giạt: 1) về từ loại, dạt có thể là động từ mà cũng có thể là tính từ (đt, tt) còn giạt thì chỉ là tính từ mà thôi; 2) về ngữ nghĩa, dạt là tách rời ra còn giạt là trôi nổi. [(R) = nghĩa rộng].
Việt-ngữ Chánh-tả Tự-vị của Lê Ngọc Trụ ghi “Dạt (n) 1. nới ra; thưa mình : sợi –; vải –; 2. tãi ra, không cho giụm lại: – củi; 3. (tđ) dào-dạt; bạt” [(n) = tiếng nôm, tđ = tiếng đôi hoặc tiếng đệm] và “Giạt (n) 1. tạt, bị sóng gió đưa tạt đi : bạt giạt; trôi giạt. 2. con giạt sành cũng nói con “giọt sành”, con “sạt sành”. 3. (tđ) giợt-giạt.”
Như vậy Lê Ngọc Trụ chú giải thêm chi tiết theo đó cả hai chữ dạt/giạt đều là chữ Nôm nhưng về nội hàm ngữ nghĩa của hai chữ thì vẫn giống Lê Văn Đức.
Tóm lại: đã không có sự thống nhất giữa miền Bắc “xã hội chủ nghĩa“ và miền Nam “tiền đồn tự do” khi thích nghĩa hai chữ dạt/giạt.
Tác giả Otto Karow trong Vietnamesisch-Deutsches Wörterbuch không ghi chữ dạt, chỉ ghi chữ giạt đồng thời dẫn thành ngữ hoa trôi bèo giạt để chuyển dịch sang Đức ngữ.
Chữ Nôm viết hai chữ dạt và giạt khác nhau. Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, tlđd, viết chữ dạt với sáu nét do ghép bộ thủ bên trái vào chữ dặc bên phải; trong khi chữ giạt, tám nét, được viết với bộ thủy bên trái và chữ thất bên phải.
Kết luận tạm thời 1: nếu căn cứ vào chữ Nôm gốc gác thì nên hiểu dạt không phải là giạt. Dạt xem như có phần thông dụng trong kỹ thuật chế tạo vải vóc, giạt xem như có phần thông dụng khi nói về tình trạng trôi nổi bồng bềnh.
Bây giờ xin chuyển qua dòng/giòng. Không có tự vị, từ điển, tự điển đơn ngữ Việt-Việt nào ghi chữ giòng mà tất cả đều thống nhất cùng ghi một chữ dòng mà thôi. Chỉ riêng Otto Karow ghi chữ giòng và chú là xem chữ dòng, nghĩa I và IV.
Trong thực tế, chúng ta có Thạch Lam với Theo giòng, Tú Mỡ với Giòng nước ngược, Nhất Linh với Giòng sông Thanh Thủy, Cao Văn Luận với Bên giòng lịch sử. Phải chăng chư vị đã viết sai chính tả tiếng Việt?
Thơ trào phúng của Tú Mỡ cũng dùng chữ giòng:
Ngày đêm cặm cụi ra công,
Giúp ông chúa động khơi giòng sông ngân.
Sự kiện dòng/giòng này đưa đến tình huống tựa đề bộ hồi ký của vị Linh mục cố Viện trưởng Viện Đại học Huế đụợc “xử lý“ khá phức tạp:
– Trần Trọng Đăng Đàn trong Văn hoá văn nghệ Nam Việt Nam 1954-1975 chủ động đổi thành Bên dòng lịch sử;
– Võ Phiến trong Văn học miền Nam Tổng quan khi thì viết Bên giòng lịch sử [trang 155 (2 lần), các trang 244, 313, 335] khi thì viết Bên dòng lịch sử (trang 161)2.
Tập bình luận văn học của Thạch Lam cũng chịu chung số phận:
– Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, Từ điển Văn học, Tập II, N-Y, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội đều ghi là Theo giòng;
– trong khi Từ điển Văn hoá Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh chủ biên, lại ghi là Theo dòng.
Kết luận tạm thời 2: có vẻ nên viết dòng, không nên viết giòng với lý do là hầu hết các tài liệu tham khảo (đôi khi ít nhiều mang tính quan phương) đều chỉ có chữ dòng mà không có chữ giòng.
21.03.2010
© 2010 Trần Văn Tích
© 2010 talawas
1 Nhị vị Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm cùng đứng tên chung khi chỉnh lý và bổ sung Từ điển tiếng Việt in lần thứ hai năm 1977.
2 Xin hết lòng cám ơn anh Nguyễn Vy Khanh đã mau lẹ cung cấp những thông tin chi tiết chính xác liên quan đến tựa đề cuốn sách của Linh mục Cao Văn Luận.
Bình luận
9 Comments (bài “Trần Văn Tích – Dạt/Giạt”)
Ban VanLang,
Cảm ơn bạn đã có góp ý. Vâng, tôi cũng như bạn: “những tìm hiểu đó không vô ích chút nào”. Nhưng tôi chỉ e đến nay có người vẫn giữ nguyên quan điểm “viết thế nào cũng được” ngay cả có một bài tìm hiểu công phu như thế này nên mới cho rằng ông Trần Văn Tích nhọc công..vô ích.
“Vậy kính mong “ông Le Nin ở nước Nga” tiếp tục giúp bà con chúng tôi về tiếng Việt!”
Bạn đừng gọi tôi là “ông Le Nin ở nước Nga” (dân đen ai lại sánh với Lãnh tụ Vô Sản Nga), mà Nga thì làm sao biết tiếng Việt mà “giúp bà con chúng tôi”. Tôi cũng không có khả năng ấy đâu. Tôi có nhã ý “giúp” ông Đăng nhưng ông ta lôi ra nào là từ điển online, nào là những ví dụ ở những từ khác, những hiện tượng ngôn ngữ Anh – Mỹ, cả tiếng Nhật..nữa để chứng minh “viết thế nào cũng được”, tôi chạy theo đã bở hơi tai rồi. Thế mà lại thêm cả ông Trương Đức cho vào 2 ví dụ “xồng xộc/sồng sộc” / “diễu/giễu” cũng cùng idea: “viết thế nào cũng được” làm tôi quả thực không thể cố gắng được nữa. Nay VanLang lại mang thêm “bà con” ra nhờ tôi “giúp” thế thì quá bằng hại tôi chứ còn gì. Mong VanLang lượng thứ cho tôi, tôi cũng chỉ là một người thường thôi, không có năng lực siêu nhiên nào đâu.
Cảm ơn bạn lần nữa đã có lời góp ý.
Ông Hưng Quốc viết: “Tuy nhiên, qua những cuộc tranh luận nho nhỏ ở “trời tây” (Ông Le Nin ở nước Nga) tôi vẫn thấy một văn hóa tranh luận “rất Việt Nam” (Mà em lại thấy rất là Việt Nam. Rồi đâm ra những người như ông phải nhọc công tìm hiểu… vô ích.”
Tôi lại thấy những tìm hiểu đó không vô ích chút nào. Trên sách báo tiếng Việt tại Việt Nam (kể cả báo Nhân Dân) và tại hải ngoại (kể cả BBC) các lỗi chính tả sơ đẳng đều xuất hiện ngày càng thường xuyên. Nếu không áp dụng nghiêm khắc chuẩn chính tả thì không lâu nữa sẽ có rất nhiều cặp từ “viết thế nào cũng được” kiểu: chia sẻ – chia xẻ, giành được – dành được, bánh chưng – bánh trưng, tuyệt chủng – tiệt chủng v.v. và v.v.
Ấy là chưa kể đến những cách dùng khái niệm sai như: “xã hội hóa” (socialisation – ở Việt Nam dùng với nghĩa ngược lại) hay “sau Công nguyên” (GS Cao Xuân Hạo đã chỉ ra tại sao nó sai trong một bài trên chính talawas này).
Vậy kính mong “ông Le Nin ở nước Nga” tiếp tục giúp bà con chúng tôi về tiếng Việt!
Ông Nguyễn Đình Đăng,
Việc ông cuốn từ điển của ông Đờ-Dốt ra minh họa làm tôi giật mình:
Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng vật lý, cũng không phải là một hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà người ta nhiều khi không giải thích nổi phải đưa ra những giả thuyết hòng thỏa mãn sự ham hiểu biết của loài người. Ngôn ngữ chỉ là một CÔNG CỤ DO CON NGƯỜI SÁNG TẠO RA để ghi chép lại lời nói, ý nghĩ, phát kiến..của con người. Ví dụ như “Hợp chúng quốc” là một từ để chỉ quốc gia Nam Mỹ được người Việt dịch ra trước đây, nó chỉ có ý nghĩa đơn giản là “Tập hợp nhiều quốc gia”, chứ nó đâu phải một hiện tượng gì khó giải thích mà ông phải đưa ra những “3 quan điểm, và những quan điểm khác tôi chưa biết” mà chưa biết cái nào đúng cái nào sai.
Nói đến sách vở, tôi thì không bao giờ cho rằng bất kỳ cuốn từ điển nào là “đúng” tuyệt đối. Từ đầu cuộc tranh luận ông chỉ biết lấy ra những cuốn từ điển làm dẫn chứng chỉ là một phương thức “tầm chương trích cú” mà thôi. Một điều không nên nữa là chỉ dùng tài nguyên mạng để làm dẫn chứng, sẽ có cái sai đấy. Như Lê Văn đã nói ở phản hồi (http://www.talawas.org/?p=17409&cpage=3#comment-11339) (tuy có nhã ý dành cho tôi nhưng ông này cũng tỏ ra hết sức hồ đồ): “Thế mà, không ít người chụp được một lời giải nào đó “của Internet” là đã hô hoán lên: Eureka … tôi tìm thấy rồi!”
Vì từ điển cũng chỉ là những ghi chép lại, nếu ta không hiểu nó trong thực tế thì việc “tra từ” sẽ là vô nghĩa (nệ sách). Đó là chưa kể đến tính không hiện thời (currant) của nó. Ví dụ như nếu ông tra sách cổ thì người ta cho rằng Mặt Trời là tâm vũ trụ, cổ hơn nữa thì Trái Đất là tâm vũ trụ… Hay như sách cổ ngày xưa không có từ “sấm sét” mà chỉ giải thích đến chuyện ông “Thiên Lôi cầm búa tầm sét xử tội một tên gian ác nên mới có tiếng ấm ì và chớp giật”. Qua đó tôi thấy, ta không nên nhìn nhận những điều này là “thú vị” (giống như từ “dạt” không có trong sách của ông Đờ-Dốt ấy) mà là một điều bình thường, hết sức bình thường, ông Đăng ạ.
Một ngôn ngữ sống (langue vivant) luôn thay đổi, sẽ nhiều từ cũ không được dùng lại (ví dụ “thuièn”, “kách”, “hợp chúng quốc Hoa Kỳ..) và sẽ có nhiều từ mới thêm vào (ví dụ “thuyền”, “cách”, “Mỹ”..). Nếu ta biết nguồn gốc của từ thì cũng tốt (ví như từ “paper” có gốc là từ “papyrus” tên một loại cây để làm ra một loại “paper” chẳng hạn), mà không biết thì cũng không sao (biết được hết nguồn gốc từ thì ngay cả đến nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng chịu thua) quan trọng là từ đó có phổ biến và ta biết dùng và hiểu được chúng hay không.
Quay lại “dạt/giạt”. Theo tôi thì từ “giạt” hiện nay (langue currant) không phổ biến bằng “dạt”. Bằng chứng, xin dẫn sách, là các từ điển hiện đại đều chỉ giải nghĩa từ “dạt” còn từ “giạt” thì thường chỉ đến xem lại “dạt”. Học trò VN mà thấy ông viết “giạt sóng / giòng sông” chắc chúng được một mẻ cười vui lắm đấy. Nhưng mà ông đừng dạy chúng “viết thế nào cũng được” nhé, thế là.. “bậy” lắm đấy.
Câu đầu tiên trong khổ cuối cùng tại phải hồi trước của tôi cần được sửa lại như sau:
“Như vậy CÓ KHẢ NĂNG “trôi dạt” là cách viết dựa trên phát âm chệch đi sau này của cụm từ “trôi giạt”.
“Dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum”
(Từ điển tiếng An Nam, Bổ Đào Nha và Latin) do Alexandre de Rhodes biên soạn (được coi) là cuốn từ điển chữ quốc ngữ tiếng Việt đầu tiên. Cuốn từ điển này được Thánh đoàn truyền đức tin (Sacra Conrgegatio de Propaganda de Fide) xuất bản năm 1651 tại Rome. Cuốn từ điển có 8000 từ Việt kèm theo nghĩa dịch sang tiếng Bồ Đào Nha và Latin.
Bản scanned của cuốn từ điển đó được posted tại
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k118825p.image.r=annamiticum.f3.langEN
Ngoài một số từ ngày nay không còn nữa, cuốn từ ̣điển chứa nhiều từ hiện vẫn còn đang được dùng trong tiếng Việt hiện đại với nghĩa y nguyên như ghi trong từ điển này.
Điều thú vị là trong cuốn từ điển này không có từ “dạt” mà chỉ có từ “giạt”. Tại trang 281, trong phần từ “giạt” có giải nghĩa “giạt” là “trôi đi” (được in thành “tlôi di”) kèm một ví dụ “gió sóng giạt thuyền” được in thành “gió sáo- giạt thuiền” [với các từ “vento” (gió), “ondas” (sóng), “embarcação” (thuyền), “levar” (đưa đi, mang đi) trong tiếng Bồ.] (Xem
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k118825p.image.r=annamiticum.f150.langEN )
Như vậy có thể coi “trôi dạt” là cách viết dựa trên phát âm chệch đi sau này của cụm từ “trôi giạt”. Điều này rất thường gặp trong phát âm tiếng Việt tùy theo vùng miền. Người Hà Nội viết “đi Ra” song lại phát âm thành “đi Da”, viết “TRồng cây” song lại phát âm thành “CHồng cây” v.v.
Rất cảm ơn ông Trần Văn Tích về những tìm hiểu thêm về gốc gác các từ này không chỉ trong các từ điển mà cả trong văn học nước ta, về điều thứ hai này tôi rất lấy làm vui (tôi rất sợ những cuốn từ điển di động).
Như tôi đã nói ở phản hồi:
http://www.talawas.org/?p=17409&cpage=3#comment-11365
Sách vở ở Việt Nam ngày nay thật khó lòng mà tin tưởng vì có quá nhiều người thiếu trách nhiệm và thiếu đạo đức nghề nghiệp. Chính những người đó còn không biết (và cũng chẳng thèm tìm hiểu) thì những người không ở trong nghề nhầm cũng là lẽ thường.
Tuy nhiên, qua những cuộc tranh luận nho nhỏ ở “trời tây” (Ông Le Nin ở nước Nga) tôi vẫn thấy một văn hóa tranh luận “rất Việt Nam” (Mà em lại thấy rất là Việt Nam. Rồi đâm ra những người như ông phải nhọc công tìm hiểu… vô ích.
Kính bút,
Hưng Quốc
Góp ý về Dòng và Giòng.
Trong các từ “dòng sông”, “dòng chữ”, “dòng họ”, “dòng giống”, “dòng” có nghĩa là cái gì đó kéo dài ra. Trong từ kép “dài dòng” mọi người đều viết là “dòng” (chưa thấy ai viết “dài giòng”). Điều nhất trí này khiến suy ra các từ đã dẫn trên nên/phải viết là “dòng”.
Riêng từ “dòng dõi”, tôi nhớ trong cuốn “Chánh tá Việt Nam”, ông Lê Ngọc Trụ giải thích “dõi” là biến âm của tiếng Hán Việt “duệ”. Mà “duệ” đã viết với “d”, thì “dõi” cũng viết/nói như vậy. Tôi nghĩ nếu ai viết “giòng giõi” là sai chính tả hai lỗi.
Trong ngữ âm học các phụ âm CH, GI, và TR có cách phát âm gần nhau (giống nhau ở vị trí của đầu lưỡi), nên khi nói có thể biến âm qua lại(nói trại). Tiếng Hán Việt “chủng” (đậu) được biến âm ra là “trồng” và “giồng”(đậu), theo nguyên tắc ngữ âm đều đúng. Nên nói là “trồng” hay “giồng” đều cũng được (tuỳ vùng). Ở miền Nam, các bà già quê còn nói là “chồng” (cà, bắp), nhiếu người cho là phát âm sai. Nhưng xét về ngữ nguyên, “chủng” biến âm thành “chồng” lại gần hơn trồng và giồng.
Trường hợp khác. “Cô trượng” trong Hán Việt được người Việt nói là “cô giượng” , hay “cô dượng”. Từ “trượng” biến thành “giượng” là gần hơn về ngữ âm, như vậy có lẽ “giượng” đúng hơn. Nhưng tôi thấy người Việt ngoài này (chịu nhiều ảnh hưỡng của giọng Sài Gòn trước kia), thường viết là “dượng”.
Interesting ! Cho đến lúc đọc qua bài này, từ xưa đến nay tôi vẫn tin là chữ “giạt” (pronounced “zạt”) không hiện hữu mà là do người miền Bắc phổ âm của chữ “dạt”. Hay nói chung là pronunciation của người miền Bắc từ chữ “d” là “gi”/”z” e.g. Giòng/Dòng, giối/dối v.v… Nhưng tôi biết cái khác của “giáng em” (đánh em) so với “dáng em” (physical appearance); tương tự khác nghĩa giữ/dữ; giỗ/dỗ v.v…
Thưa ông Trần Văn Tích,
Tôi chưa bao giờ khẳng định là “viết dạt hay giạt cũng đều đúng” một
cách chung chung.
Trong PH đầu tiên về vấn đề này tại http://www.talawas.org/?p=17409&cpage=2#comment-11282 tôi viết nguyên văn như sau:
[Còn từ “trôi giạt” hay “trôi dạt” thì tuy có 2 từ “dạt” và “giạt” (xem giải thích dưới đây), nhưng khi viết trong cụm từ cùng với “trôi” thì chúng hầu như đồng nghĩa, nên viết … thế nào cũng được.] (sic)
Như vậy:
Kết luận 1: “Dạt” và “giạt” là hai từ khác nhau, và chúng chỉ đồng nghĩa khi được dùng trong cụm từ “trôi giạt” (= “trôi dạt”) mà thôi.
Kết luận 2: “viết … thế nào cũng được” ở đây chỉ nằm trong văn cảnh áp dụng cho 2 từ “giạt/dạt” đó trong cụm từ “trôi giạt” (=”trôi dạt”) nói trên mà thôi. Có nghĩa là viết là “trôi dạt” hay “trôi giạt” đều được, chứ không phải là “dạt” đồng nghĩa với (hoặc có thể được dùng như) “giạt” trong mọi trường hợp.
Nay kính.