talawas blog

Chuyên mục:

Song Xuyên – Mẹ và tuổi thơ (phần 1)

25/03/2010 | 1:28 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Song Xuyên – Mẹ và tuổi thơ (phần 1)

Tác giả: Song Xuyên

Category: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử, Tạp văn
Thẻ:

Thuở thiếu thời tôi sống gần mẹ hơn cha, ba tôi như cái bóng mờ nhạt trong tôi qua bức trướng bằng nhung thật lớn, thật đẹp, thêu kim tuyến, chữ vàng nền đỏ:

Hương, Bình võ lộ trạm thiên ân
Hoan, Diễn giang sơn quang địa chính.

Bức trướng này do các bạn đồng liêu tặng ba tôi trong một dịp hoan hỷ nào đó, mà ngay từ hồi chưa đọc được, qua lời bàn luận của người lớn tôi biết lơ mơ rằng, ba tôi làm việc địa chính ở phủ Hoan, phủ Diễn đâu ngoài Nghệ An, Hà Tĩnh nào đó.

Anh tôi đi học xa, ở nhà chỉ còn bốn mẹ con tôi thật là hiu quạnh. Chị em tôi, chiều chiều lại thấp thỏm mong mẹ chợ về, vừa có quà, vừa có người lớn che chở, vừa được nghe mẹ kể chuyện. Sau bữa cơm chiều, lên giường nằm ngủ, mẹ tôi thường kể chuyện cho các con nghe, nhất là ngày đông tháng giá, trùm mền kín mặt nằm nghe, ôi chao thật là thú vị. Mẹ tôi biết chữ quốc ngữ và một ít chữ Hán. Tôi chưa thấy bà đọc sách, đọc báo bao giờ, mà sao trong bụng lại chứa được nhiều chuyện hay lắm thế. Chuyện xưa, chuyện nay, chuyện nào cũng rút ra được một điều gì đó sau khi kể thực gãy gọn, trơn tru và bao giờ cũng mở đầu bằng câu “các con biết không”.

“Các con biết không, vùng mình đang ở là sính lễ của vua nước Chiêm Thành cưới Công chúa Huyền Trân của nước ta. Thoạt đầu, dân cư thưa thớt, rừng rú âm u, cọp beo ghê lắm. Bà ngoại của bà mụ đỡ đẻ bây giờ, trước kia cũng làm nghề ấy. Với cái liềm cắt rốn, lá ổi, lá vằn, nước tiểu trẻ trai mà bà ta đã giúp bao người được mẹ tròn con vuông. Bỗng một đêm khuya, ông cọp vào nhà cõng bà đi, đi xa lắm, hồn vía bà bay lên mây, tưởng mất mạng rồi… Ai dè đến cái hang ổng quẳng bà xuống cái “bịch”. Trong hang cọp vợ đang quằn quại rên xiết, dưới con mắt nghề nghiệp, bà nghĩ mình phải làm gì. Thế là loay hoay khó nhọc một hồi lâu, bà mới đưa được mấy chú cọp con nhầy nhụa ra khỏi bụng mẹ. Cả nhà cọp mừng vui. Đêm hôm sau, cọp chồng cõng bà về. Rồi mấy lần sau nữa, sáng sáng bà thức dậy, khi thì thịt nai, thịt thỏ; khi thì heo rừng, chồn cáo… và cả những đóa hoa xinh đẹp nữa, để ở giữa sân như các món quà đền ơn… Thực là cứu vật, vật trả ơn.”

“Các con biết không, vì sao mà ông Bá làng mình giàu đến thế. Bão năm Thìn to lắm, mấy làng trên thượng nguồn sông Hương trôi hết. Nhà cửa, đồ đạc, trâu bò và cả người nữa bồng bềnh ở giữa sông vô kể. Có tiếng kêu cứu mà ai dám ra trong đêm khuya. Duy chỉ có tên làm công của ông Bá mới gan chứ! Nó bơi ra. Một người đàn bà đang bám vào cái rương to tướng, vừa khóc, vừa van xin: ‘Xin anh cứu tôi, tôi sẽ đền ơn, tôi có nhiều vàng bạc ở trong rương này.’ Nảy lòng tham, nó hất bà xuống nước rồi hì hục kéo cái rương vào. Đêm hôm sau, nó hộc máu chết vì cảm lạnh… đúng là làm ác, gặp ác.”

Nhà tôi ở sát trường dạy chữ Hán của ông nội tôi. Tôi thường bồng em qua trường chơi, bỏ nó bò lê, bò la giữa đám học trò đang lắc lư ngồi học hay khom lưng nằm viết. Có khi buồn ngủ nó lăn ra ngủ ngon lành, mặc cho mấy anh học trò nghịch ngợm tha hồ viết, vẽ đầy mặt, đầy tay.

Hơn bốn tuổi, mẹ tôi cho tôi đi học. Ngày đi học đầu tiên của tôi thực là ngộ nghĩnh. Mẹ tôi ăn mặc chỉnh tề, tay khay cau trầu, tay ve rượu đi trước; tôi mặc áo cụt đen dài tay, quần dài trắng, chân mang guốc, tay ôm quyển vở theo sau, tôi hí hửng vì chỉ những ngày tết ngày giỗ mới được mặc như vầy. Mẹ tôi không  bước qua trường bằng lối tắt thường ngày mà đi vòng vào cổng chính, tự nhiên tôi thấy mình quan trọng hẳn lên, vừa sợ sệt vừa hãnh diện thích thú như là khách của ông tôi vậy. Qua hàng giâm bụt đến bồn hoa trước sân, tôi nghe một tiếng “bốp”, mọi tiếng lao xao của học trò  đều im bặt, đó là tiếng roi mây quất xuống sập gụ của ông tôi báo hiệu có khách. Dừng lại, mẹ tôi sắp xếp mấy miếng cau trầu cho ngay ngắn rồi bước vào. Ông tôi ngồi trên sập gụ dựa lưng vào mấy tấm lá dựa thật cao, thản nhiên như không phải là ông nội của tôi và cha chồng của mẹ tôi thường ngày. Mẹ tôi đặt cái khay trước mặt ông, mở nút chai rót rượu ra ly, lùi vài bước, chắp tay trịnh trọng:

“Thưa thầy, như thầy đã bảo, hôm nay là ngày tốt, con đem cháu đến khai tâm.”

Ông tôi chầm chậm đưa mắt nhìn tôi từ đầu đến chân:

“Được.”

Mẹ tôi đẩy tôi ra đứng giữa chiếc chiếu đã trải sẵn tự bao giờ. Tôi cúi xuống lạy hai lạy rồi bước ra khỏi chiếu vòng tay đứng chờ. Ông tôi nói mấy lời như đã nói với những học trò lần đầu đến xin học… Đi học thì phải lễ phép, siêng học, không ham chơi lêu lổng… rồi đưa mắt vào đám học trò đứng lố nhố chung quanh:

“Cho học sách ‘vỡ lòng.’”

Tức thì, một anh học trò lớn đến kéo tay tôi đi xuống, ngồi cùng chiếu với đám học trò mới vào học. Anh mở vở tôi ra, nằm khom xuống thoăn thoắt, vừa viết vừa đọc, viết một chữ mà đọc thành hai tiếng, vì có nghĩa theo kèm: Thiên trời địa đất nhân người, Hà sông hải biển thập mười tam ba. Quân vua mẫu mẹ phụ cha, Sư thầy hữu bạn xuất ra nhập vào. Võ mưa phong gió tinh sao, Hà tôm nghê ngỗng bạn ngao kê gà. Tôi đếm cả thảy hai mươi mốt chữ, đọc thành ba cặp lục bát thì anh ngưng. Đẩy vở về phía tôi, anh chỉ từng chữ, bảo tôi đọc theo anh một lần nữa rồi anh đứng lên, dặn:

“Học cho thuộc, thầy dò thuộc rồi thì cho viết thêm.”

Cái háo hức được đi học từ hôm qua, hôm kia bay đâu mất. Đồ “thiên trời địa đất” này, hầu như tôi thuộc gần hết, vì ngày ngày, tháng tháng, năm năm, hết lớp này đến lớp khác, ê, a như ếch nhái quanh tôi, khiến tôi thuộc như nuốt cháo vào lòng. Suốt buổi tôi ngồi nhìn say sưa mấy anh học trò lớn, khi thì năm bảy, khi thì chín mười, họ mang vở lên để trước mặt thầy, rồi ngồi giữa chiếu lắc lư, khi bổng, khi trầm, đồng thanh ngâm nga như hát. Đọc một đoạn rồi ngưng để nghe thầy giảng nghĩa, rồi lại tiếp tục đọc, đó là giờ giảng văn thật thú vị.

Tôi nôn nóng được học Luận ngữ, Mạnh tử, kinh Thi… như những trò lớn để được lên ngồi cùng họ thì thích lắm, nên đứng dậy đến nói với anh viết cho tôi lúc nãy, “Tôi thuộc rồi”. Anh dẫn tôi lên đứng cạnh thầy gấp vở lại để dò bài. Tôi vòng tay, nhắm mắt đọc một mạch nhiều bằng hai, bằng ba số chữ có trong vở của tôi đến khi nghe tiếng roi quất xuống sập cái “bốp” mới giựt mình mở mắt ngưng lại. Thầy bảo anh học trò lấy tay che những chữ trước, chữ sau, chỉ chừa một chữ ở giữa, bảo tôi đọc. Tôi đứng ngây người không đọc được, thầy nói:

“Thuộc là nhớ mặt chữ, chứ không phải đọc ‘thuộc’”.

Thế là tôi cầm vở trở về chỗ cũ, học lại… cho đến bốn, năm ngày sau mới thuộc được hai mươi mốt chữ đầu, tức ba cặp lục bát ấy, bằng cách lấy ngón tay viết giữa chiếu hay viết lên khoảng không trước mặt.

Chữ Hán học thực khó, không có lớp, không có học kỳ, học liên tu bất tận, không thứ bảy, chủ nhật và không có cả thời khóa biểu. Mỗi ngày như mọi ngày, nắng đến sớm, mưa đến trễ, cắp vở đến trường, thấy mấy trò trực nhật làm vệ sinh xong là mình vào. Thầy ngồi trên sập gụ, dựa lưng vào gối dựa, nhắp trà buổi sáng, dáng trầm ngâm như đang nghĩ ngợi về đâu đâu… Vòng tay cúi đầu chào thầy, để vở trước mặt thầy, đứng ôm cột, vừa lắc mình, vừa lắc đầu, nhắm mắt đọc bài đã viết hôm qua, đọc một mạch không ngập ngừng, vấp váp, nếu thầy ban cho một tiếng “được” thì mới gọi là thuộc. Đến tủ lấy sách chép tiếp, chép rồi ngồi học, chữ nào chưa đọc được mới hỏi mấy trò lớp lớn, mấy anh này không hiểu mới hỏi thầy. Gần trưa đến giờ giảng văn của những trò lớp lớn. Sau giờ giảng văn thì – tùy theo trình độ từng người mà thầy đã sắp xếp từ ngày tựu trường đầu năm – cao thì làm thơ, làm phú; thấp chút nữa thì tập thảo văn khế, văn tự; thấp chút nữa thì tập làm văn, tả cảnh, tả tình… tập đặt câu và cuối cùng là những trò mới vào học tập viết, tập đồ. Thầy dạy trò lớn, trò lớn dạy trò nhỏ.

Muốn biết trình độ của một người học trò chữ Hán đã học đến đâu thì người ta hay hỏi “Học tới hàng mấy rồi?” Mới học viết chữ to, khá dần viết chữ nhỏ dần… từ hàng ba lên hàng sáu, hàng bảy. Từ hàng này lên hàng kia, được thầy đánh giá theo sự tiến bộ chứ không phải thời gian. Học trò chữ Hán trông lễ phép, hiền hậu mà nghịch lắm. Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò, điều đó cũng dễ hiểu, gò bó trong khuôn khổ quá, khi có dịp bung ra thì nó bung ra mạnh thôi… Ông tôi bảo, trong nhà thì gọi ông bằng ông, khi giờ học thì gọi ông bằng thầy.

Rồi Nhật vào nước ta. Nhật đảo chánh Pháp, Việt minh cướp chính quyền. Ba tôi trở về làng dạy học, lúc này ba tôi dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, toán và các môn thường thức khác. Học trò ít và không nề nếp như học trò của ông tôi. Đến lúc này tôi mới được gần gũi cha. Ba tôi thương các con lắm nhưng không biểu hiện ra bên ngoài, lúc nào cũng muốn con nên người, có khi thái quá trở thành khe khắt, khó chịu. Tôi cứ ám ảnh cái giá biểu trên tấm  bảng đen: không thuộc bài 2 roi, quên vòng tay thưa khi có khách 1 roi, chơi nắng tắm sông 1 roi, ra đồng đánh căng đánh cù 1 roi… và trên góc bảng, số nợ lên đến hàng chục. Tôi vi phạm hoài nhưng họa hoằn lắm mới bị 1 roi, còn bao nhiêu được cộng vào số nợ lần tới vi phạm sẽ trả.

Không khí trong gia đình tôi lúc này có vẻ kém vui, phần vì ba tôi thôi làm việc, kinh tế eo hẹp, phần vì thời cuộc đổi thay. Trong bữa cơm chiều, tôi chú ý lắng nghe ba mẹ tôi trò chuyện.

Mẹ tôi nói:

“Ăn theo thuở, ở theo thì. Cuộc họp trên đình ngày hôm qua, sao mình cãi với thằng Tánh làm gì, thời của chúng nó mà.”

“Mình thử coi. Nó, chữ nhất không biết, trước làm đầu xâu, vác mõ đi đầu làng đến cuối làng, đánh cốc cốc mời quan viên hương lý lên đình nhóm họp, nay làm chủ tịch xã lại làm tàng. Thông tư, chỉ thị của trên gửi xuống, nó đọc không được, nhờ mình đọc và giải thích, thế mà nó trở lại chửi mình…”

“Nó chửi thế nào?”

“Văn hay chữ tốt là đồ bỏ, cách mạng chỉ cần dân ngu khu đen thôi, cách mạng là thay cũ đổi mới mà…”

“Mặc kệ nó, nó chửi là chửi số đông, chứ riêng chi mình mình. Mình phải nghĩ đến vợ con, đến mình nữa, đừng vì chướng tai gai mắt mà nói gì để rước họa vào thân.”

Rồi Pháp trở lại chiếm Huế, Việt minh trốn lên rừng và về các vùng xa xôi. Một đêm khuya, cả nhà tỉnh giấc, hoảng hốt nghe tiếng mẹ tôi kêu la: “Việt minh ơi là Việt minh, sao chúng bây tàn ác thế, chồng tao làm gì nên tội mà bây bắt giết đi…”

Chiều hôm sau, tên P.V.Ái., người làng bên mang xách cốt bước vào. Nó là học trò chữ Hán của ông nội tôi và gần đây là học trò chữ quốc ngữ của ba tôi, nó thường xưng hô thầy thầy, mợ mợ với ba mẹ tôi nên xem tôi như em. Vào nhà gặp tôi nó bảo, “Cho mình mượn cái dĩa”. Tôi xuống nhà dưới mang lên một cái, nó mở xách cốt lấy ra tờ bạc 50 đồng -tiền Việt minh, giá trị lúc bấy giờ độ vài ký gạo- bỏ vào dĩa, để lên bàn trước mặt mẹ tôi, rồi nói:

“Thưa mợ, tôi là học trò của thầy, nay thầy gặp sự đáng tiếc, tôi đến chia buồn cùng gia đình.”

Im lặng một hồi lâu như thể lựa lời, mẹ tôi hỏi:

“Anh đến đây với tư cách là học trò của nhà tôi hay đến đây với tư cách là một cán bộ Việt minh?”

Nó đáp:

“Dạ cả hai ạ.”

Tức thì, mẹ tôi đưa tay hất cái dĩa rớt xuống nền nhà bể tan, đồng bạc cũng lảo đảo bay theo.

Bất ngờ quá, tên Ái đứng dậy, lùi mấy bước quay người đi ra, đến cửa nó ngoái mặt lại:

“Tôi nói cho bà biết, đừng có lợi dụng đau khổ mà chửi bới, coi chừng cái mạng bà.”

Mấy tháng sau, mẹ tôi đưa tôi lên Huế, ở tại nhà dì tôi để đi học, mẹ tôi sợ cho tính mạng của tôi, vì thằng Xuân, thằng Thu con bác thợ Huy, lứa tuổi với tôi cũng bị chôn sống theo cha mẹ. Từ ngày “vỡ mặt trận” -cụm từ mà người Huế chỉ cái biến cố Pháp trở lại chiếm Huế năm 1947- hai chị em mới gặp nhau, nên mẹ tôi ở chơi với dì ít ngày. Sợ xa mẹ, tôi cứ quanh quẩn bên chân, vì thế tôi được nghe hai người nói chuyện với nhau.

“Có sao mới xảy ra cớ sự chứ, chị thấy anh làm việc gì khác thường không?”

Mẹ tôi giận dữ nói qua nước mắt:

“Sao là sao, dì mà cũng nghĩ thế nữa còn ai. Lũ răng đen mã tấu nhìn người chữ nghĩa như cái gai trước mắt, anh chỉ là công chức trước kia làm ở sở Ðạc điền ngoài Vinh ai mà không biết, còn dì nữa, những người ở vùng “tề” này chúng cũng cho là Việt gian cả đó. Hãy coi chừng.”

“Họ đánh Pháp giành độc lập mà…”

“Thì ai lại không đánh Pháp. Đánh Pháp giành độc lập mà giết hết những người yêu nước khác phe với chúng. Việt cách, Việt quốc chúng giết chôn đầy rú dưới kìa. Tội nghiệp cho họ, khốn tới khốn lui, về thành thì mang tiếng theo giặc, đi kháng chiến thì bị thủ tiêu… Em này, bác Học Hối cũng bị… rồi.”

Đột nhiên, câu sau cùng mẹ tôi nói nhỏ như thầm thì và gọi dì bằng em rất thân mật. Dì tôi ứa nước mắt im lặng một hồi lâu mới bùi ngùi nói như nhắc lại:

“Tội nghiệp thiệt… Bác Học chết rồi.”

Cụ Học Hối người Quảng Bình, được phong Đại học sĩ, dạy trường Quốc tử giám trong Đại nội, bạn của ông ngoại, ông nội tôi nên các con của hai ông xem cụ như cha.

Tôi cũng buồn buồn muốn khóc, té ra cụ Học Hối chết rồi, giờ tôi mới biết. Tôi sững sờ nhớ lại ông cụ già cao cao, gầy gầy, đeo kính cận thật nặng, khua khua cái gậy phía trước để đi, mà tất thảy các vị khoa bảng gặp ở nhà ông tôi đều rất mực tôn kính. Thơ phú thì cụ giỏi vô cùng.

(còn tiếp)

© 2010 Song Xuyên

© 2010 talawas

Bình luận

Không có bình luận (bài “Song Xuyên – Mẹ và tuổi thơ (phần 1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>