Bùi Văn Phú – Tân hôn, tân niên và giao duyên
16/03/2010 | 1:21 sáng | 12 Comments
Category: Đời sống
Thẻ: người Việt ở Mỹ > tiếng việt
Mới đầu năm tôi đã đi dự một đám cưới. Như thế là hơi sớm phải không bạn? Ở đây, người Việt cũng như người Mỹ không mấy ai lên xe hoa khi vừa bước vào năm mới. Đầu năm là tiệc tân niên chứ chuyện cưới xin ở Mỹ thường được tổ chức trong những cuối tuần từ cuối tháng 5 qua đến hết hè, ngay đầu năm ít khi có.
Hôm mồng 7 Tết, tức 20 tháng Hai dương lịch, vợ chồng tôi dự đám cưới con của một gia đình cùng quê, định cư tại Mỹ được hơn mười năm. Cô dâu đạo Phật, chú rể đạo Chúa và hai người lấy nhau đạo ai nấy giữ. Chúng tôi thân bên gia đình cô dâu đã lâu và được biết cha mẹ cô rất tin vào phong tục tập quán Việt. Hè năm ngoái trong một dịp liên hoan gia đình, anh chị đã thông báo cho mọi người biết sang năm tổ chức đám cưới và đôi bạn sẽ không làm đám hỏi. Một số người quen biết tỏ vẻ ngạc nhiên khi không thấy đủ các lễ cưới hỏi như nhiều người Việt còn giữ truyền thống, dù sống xa quê hương.
Hai tháng trước nhận được thiệp cưới, gia đình cô dâu còn mời chúng tôi đi họ. Các nghi lễ sẽ không diễn ra tại tư gia mà trong căn nhà cổ trong khu bảo tồn lịch sử của thành phố.
Đến ngày, chúng tôi đi dự. Nhà tôi mặc chiếc áo dài thổ cầm may ở Việt Nam. Mẹ vợ cũng áo dài. Cả hai họ với chừng hơn 30 người hiện diện. Nghi thức kết hôn diễn ra đơn giản theo phong cách Mỹ. Bố cầm tay đưa con gái lên, trao cho người chồng tương lai trong tiếng đàn hạc (harp) du dương, lãng mạn. Một quan chức hành chánh làm nghi thức hôn phối theo luật bằng Anh ngữ, trước sự chứng kiến của anh em, bạn bè đôi bên. Vị chủ lễ và cả cô dâu, chú rể có lúc bông đùa làm mọi người cười vui. Chừng 20 phút là xong. Chẳng cúng bái, lên đèn hay mời trà, mời rượu song thân phụ mẫu. Sau đó chụp hình, dùng tiệc trà trong khung cảnh cổ kính, xinh tươi của khu phố cổ.
Nhà tôi có nhận xét là chưa bao giờ dự lễ cưới người Việt đơn sơ, đẹp như hôm nay. Tôi đồng ý.
Nghi thức kết hôn của đôi bạn vào buổi trưa tuy đơn sơ, nhưng tối đến vẫn có tiệc cưới với gần 200 khách tổ chức trong một nhà hàng Tầu quen thuộc với chục món. Vào phòng tiệc cũng thấy khác. Thường trên sân khấu có chữ “Song Hỉ” và đôi rồng quấn quanh trên một nền đỏ. Hôm nay những hình tượng đó được che lấp đi bằng một lớp vải trắng ngà và một giàn đèn điện thả rũ, nhấp nhánh như đèn Giáng Sinh, không còn vẻ Á đông như những đám cưới khác thường tổ chức ở đây.
MC hôm đó là Ngọc Hiếu của đài AM 1120, một giọng nói quen thuộc ở vùng San Jose. Ngoài việc giới thiệu, anh kiêm luôn chuyên viên âm thanh, ánh sáng và phối hợp chương trình văn nghệ. Thỉnh thoảng đi San Jose chơi tôi có nghe giọng Ngọc Hiếu qua sóng phát thanh, hôm nay thấy anh, trông còn trẻ, vui tươi và pha hài cũng rất có duyên cho sinh hoạt của một đám cưới.
Một điều lạ nữa. Chương trình văn nghệ trong tiệc cưới ngoài vài bài hát Việt quen thuộc về ngày tân hôn, khách còn được thưởng thức những vũ điệu qua tiếng trống hải đảo Hawaii và miền Nam Thái Bình Dương như Samoa, Tonga, Fiji. Trống gõ rền vang, dồn dập vui nhộn. Mấy cô vũ công mặc váy, hở lưng mời đám trẻ thích vui ra nhảy múa, lắc mông rộn ràng. Một đám cưới với những giao duyên văn hoá đẹp.
Trong phần cảm tạ, cô dâu ngỏ lời cám ơn cha mẹ đã cho phép cô và người chồng tương lai quyết định việc tổ chức đám cưới theo ý của đôi uyên ương. Tôi đã nhiều lần nghe nói chuyện cưới hỏi bên Mỹ này thì “con đặt đâu, cha mẹ ngồi đó”. Hôm nay điều này thực sự phản ánh qua cách đôi tân hôn tổ chức sinh hoạt cho ngày vui nhất đời của họ.
Tiệc cưới khai mạc đúng giờ nên sau phần cắt bánh và xong dạ vũ cũng chỉ mới 10 giờ tối. Thật là một đám cưới tiến bộ về nhiều mặt. Nhà tôi và tôi cùng đồng ý là chưa bao giờ được dự một đám cưới Việt đơn giản, nhưng vui và nhiều nét giải trí như hôm nay.
*
Đầu năm con cọp San Jose nhộn nhịp tiệc tân tiên trong mấy cuối tuần qua, dù kinh tế chưa lên và mức thất nghiệp trong vùng vẫn cao ở mức 12.4%. Các hội đoàn thân hữu thi nhau tổ chức họp mặt: từ Hội Kiên Giang, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Quảng Trị cho đến Hội Y Sĩ Bắc California, Hội Luật Gia bang California, Hội Cựu Nữ Sinh Lê Văn Duyệt, đến tiệc mừng Hội Tết Fairgrounds thành công.
Sinh hoạt có tính giao duyên văn hóa nhất là buổi họp mặt cùng anh Đỗ Thông Minh, từ Nhật qua, do nhóm cựu sinh viên du học Nhật nay sống ở San Jose tổ chức vào trưa Chủ Nhật 07.03 với một chương trình văn nghệ Việt-Nhật.
Hơn trăm khách đã đến ăn trưa và nghe anh Đỗ Thông Minh nói chuyện. Chương trình bắt đầu đúng giờ như chủ trương của diễn giả. Anh nói về ngôn ngữ Việt, về cách dùng từ vựng đúng sai. Nhiều cụm từ tôi đã biết nay nghe anh giải thích theo lí lẽ, cấu trúc ngôn ngữ nên cũng học hỏi được nhiều điều hay. Chẳng hạn như cụm từ “Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ” thường dùng, nhưng đúng ra phải là “Hợp chúng Quốc”. Hay những khác biệt giữa “li thân”, “li dị” và “li hôn”. Nhiều dẫn chứng về cách sử dụng và nguồn gốc nhiều từ vựng phổ thông trong tiếng Việt đã được anh ghi lại trong quyển sách Vui học Việt-Hán-Nôm. Đây là một tài liệu cần có cho những ai quan tâm, muốn làm đẹp và gìn giữ tiếng nước nhà. Tập sách cũng là một tài liệu hữu dụng cho các thầy cô đang giảng dạy Việt ngữ. Đọc sách này cho tôi hiểu biết thêm về sự phong phú của tiếng Việt, cùng e ngại cho sự mai một của một số từ vựng, thí dụ như “bảo trọng” nếu trở nên thông dụng thì “giữ gìn sức khoẻ” chẳng bao lâu sẽ không còn nữa. Hay nhiều cụm từ phổ thông thời Việt Nam Cộng hòa nay cũng đang mất dần vì hoàn cảnh chính trị.
Tuần này đọc tờ VTimes ở San Jose, phát hành hôm 05.03, có bài của Nguyễn Thị Hàm Anh, một cộng tác viên từ Sài Gòn viết về những tua du lịch bình dân sau Tết với hàng chữ: “Giáng Giêng là tháng ăn chơi” mà tôi không biết đây là lỗi đánh máy hay ngôn ngữ trong nước giờ đã thay đổi đến thế. Cũng mới đây trên mạng tienve.org, nhà thơ Đỗ Trung Quân và nhà văn Vương Văn Quang có chụp hay sưu tầm được một số ảnh bảng quảng cáo trước cửa hàng hay các khẩu hiệu dựng trên đường phố, đọc mà không khỏi buồn cho tiếng Việt trong nước ngày nay:
– chào lưu Việt
– tắm hương hoa thảo dược chống não hóa
– karaoke, vi tính, âm thanh tuyệt vọng
– ai ơi nhớ lấy câu này / sông sâu chớ nội đò đầy chớ qua
Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động ngay chiến dịch “Học lại tiếng Việt cho đúng”. Nhiều chuyện khó khăn khác Việt Nam đã vượt qua, không nhẽ chuyện ngôn ngữ lại cứ tiếp tục bế tắc từ mấy chục năm qua.
Văn nghệ Việt-Nhật hôm đó có đội trống taiko, có đàn t’rưng, đàn nguyệt. Hình như cây đàn t’rưng bằng tre bây giờ đã trở thành biểu tượng cho nhạc cụ Việt, dù đó là đàn của dân tộc ít người. Trong một liên hoan đón Tết ở Tổng Lãnh sự Quán Việt Nam có chị Vân Ánh chơi đàn này rất hay. Tại triển lãm văn hóa nhân dịp hội nghị “Meet Vietnam” ở San Francisco vào tháng 11 năm ngoái cũng có đàn này. Du khách đến Việt Nam thấy đàn t’rưng nhỏ, bỏ gọn trong hộp là món quà thường được bày trong các cửa hàng bán đồ kỉ niệm. Tôi đoán những nhạc cụ khác của Việt Nam thì lai hoặc cũng giống những nước khác, như đàn tranh giống đàn koto của Nhật; đàn nguyệt, tì bà, đàn nhị giống nhiều nhạc cụ Trung Hoa. Chỉ có đàn t’rưng là cá biệt.
Trong sinh hoạt với anh Đỗ Thông Minh, nữ nhạc sĩ Kumiko Oguri đã biểu diễn đàn t’rưng qua hai bản “Suối đàn t’rưng” và “Tiếng trống Tây Nguyên”. Theo nhận xét riêng thì chưa bằng chị Vân Ánh mà tôi đã có nhiều dịp nghe và xem chị biểu diễn quanh vùng Vịnh San Francisco. Hôm nay cũng có nam nhạc sĩ Wada Shogo chơi đàn nguyệt bản “Lòng mẹ” làm thổn thức khách dự. Quý thay là sự đam mê văn hóa Việt của những nghệ sĩ Nhật.
Chương trình còn có Trần Lãng Minh & Nga Mi hát quan họ Bắc Ninh, hát “Đôi mắt người Sơn Tây” của Phạm Đình Chương giao duyên cùng thơ “Đôi bờ” của Quang Dũng. Anh chị cũng đã hát “Tình ca”, “Tình hoài hương” của Phạm Duy:
Tiếng nước tôi
bốn ngàn năm
ròng rã buồn vui
khóc cười theo
mệnh nước nổi trôi…
Đồng Thảo, hiền thê của luật sư Nguyễn Ngọc Bích, đến và hát “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn qua hai lời Nhật-Việt, “Đêm nhớ về Sài Gòn” của Trầm Tử Thiêng, và cùng Duy Tuấn ca vang “Lời gọi chân mây” của Lê Uyên Phương. Chị Phương Tú hát tiếng Nhật cùng anh Bá Hỷ đệm ghi-ta và màn biểu diễn của geisha là những nét lạ.
Chương trình kết thúc bằng một dân ca rất phổ thông của người Nhật, bài “Sakura, Sakura” giao duyên giữa đàn nguyệt và đàn t’rưng. Tiếng nhạc gợi nhớ cho tôi điệu buồn của nhạc khúc qua tiếng đàn koto khi vào thăm nghĩa trang samurai ở Tokyo cách đây hơn phần tư thế kỉ. Dịp đó cho tôi cơ hội được nghe tiếng đàn truyền thống ngay trên đất Phù Tang và sau được thưởng thức tiếng koto hòa tấu cùng giàn nhạc giao hưởng. Tuyệt vời với “Sakura, Sakura”.
Lần trước gặp anh Đỗ Thông Minh vào đầu thập niên 1980, khi tôi còn là sinh viên Đại học Berkeley và cùng cộng đồng xuống đường biểu tình ở San Francisco kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam. Lúc đó anh là người của Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam của Tướng Hoàng Cơ Minh và phụ trách tờ báo Kháng Chiến, sau khi tổ chức Người Việt Tự do ở Nhật giải thể để gia nhập Mặt trận. Chỉ vài năm tham gia rồi anh rút lui, cùng lúc Mặt trận bể ra, từ đó anh nghiêng về sinh hoạt văn hóa, giáo dục.
Ba mươi năm sau. Gặp lại anh không còn nghe chuyện kháng chiến mà là chuyện văn hóa, ngôn ngữ để làm đẹp và hi vọng chuyển hóa người Việt, đất Việt. Anh đem theo một số sách để bán, từ sách về ngôn ngữ như quyển Vui học Việt-Hán-Nôm đến chính trị là quyển Con đường dân chủ. Riêng tôi vẫn chờ đợi được đọc những hư thực mà anh biết về phong trào kháng chiến thời đầu thập niên 1980 mà sau đó đã làm nhiều người mất mạng ở Đông Dương, trong đó có anh Ngô Chí Dũng cũng là sinh viên du học Nhật.
© Buivanphu 03.2010
Bình luận
12 Comments (bài “Bùi Văn Phú – Tân hôn, tân niên và giao duyên”)

@Bùi Văn Phú:
1 . “Cụm từ “bảo trọng” tôi không nghe ở miền Nam trước năm 1975.”
Trong bài viết BVP nói : “cùng e ngại cho sự mai một của một số từ vựng, thí dụ như “bảo trọng” nếu trở nên thông dụng thì “giữ gìn sức khoẻ” chẳng bao lâu sẽ không còn nữa.”
Đã không nghe thì làm sao có thể sử dụng phép so sánh “nếu trở nên thông dụng HƠN”?
Vậy BVP nghe “cụm từ” “bảo trọng” bao giờ và tại sao lại phải “e ngại cho sự mai một” của nó?
Cấu trúc câu này phức tạp (lủng củng), nên tôi phải hỏi thêm: Cái gì “chẳng bao lâu sẽ không còn nữa” (đồng nghĩa với “mai một”)?
2. BVP viết: “Một số từ tôi cho là phổ thông thời Việt Nam Cộng Hòa, sau ngày 30.4.1975 không thấy còn dùng, xin đưa ít thí dụ: ghi danh, ghi tên (đăng kí), Thủy quân Lục chiến (lính thủy đánh bộ), trực thăng (máy bay lên thẳng), hỏa tiễn (tên lửa), xa lộ (đường cao tốc).”
Vậy ra BVP cho rằng những từ như: ghi danh, ghi tên, TQLC, trực thăng, hỏa tiễn, xa lộ là từ “phổ thông thời VNCH”. BVP có cái nhìn thật hạn hẹp, thời VNCH là từ năm 1955-1975, làm sao BVP có thể chứng minh được những từ mà BVP nêu ra là được sinh ra trong thời này?
Các từ mà BVP ví dụ rồi cho rằng “không thấy dùng nữa” là hết sức chủ quan. BVP cứ thử search các tờ báo online, hay báo giấy xem.
3. BVP: “Tên của nhiều quốc gia cũng là trường hợp mà những từ phổ thông ở miền Nam trước đây mà nay không còn sử dụng: Tân Gia Ba,..”
Bây giờ thì BVP chuyển hẳn tông, lại nói đến “từ phổ thông ở miền Nam trước đây”. Nhưng ở đây BVP cũng rất chủ quan khi cho rằng những từ đó “không còn sử dụng”. Không cần tìm nhiều, BVP đọc vài bài viết của Đỗ Kh. trên talawas này thôi cũng thấy ngay.
4. “Tôi nghĩ những từ phổ thông đó mai một là vì lí do chính trị.”
Đây chỉ là một ý kiến tham khảo nên tôi chỉ mạn phép xin hỏi: Hoàn cảnh chính trị như thế nào và làm những từ nào bị mai một? Câu này chắc khó, vậy chỉ xin nêu ra một ví dụ về lí do chính trị làm mai một “từ phổ thông”.
Cám ơn các bạn đã góp ý. Mỗi ý kiến đều đem lại cho tôi ít nhiều hiểu biết thêm. Trong tuần bận rộn với công việc nên cuối tuần mới đóng góp, thảo luận được.
Có ý kiến của bạn đọc Hưng Quốc tôi thấy cần trả lời.
Cụm từ “bảo trọng” tôi không nghe ở miền Nam trước năm 1975. Cũng trước năm 1975 tôi không biết đến những phim kiếm hiệp hay phim tầu lồng tiếng lan tràn ở miền Nam vì thời đó chưa có vi-đi-ô hay DVD. Sách truyện kiếm hiệp thì có nhiều bộ như Anh Hùng Xạ Điêu, Lộc Đỉnh Ký, Tề Thiên Đại Thánh đã được dịch ra tiếng Việt.
Một số từ tôi cho là phổ thông thời Việt Nam Cộng Hòa, sau ngày 30.4.1975 không thấy còn dùng, xin đưa ít thí dụ: ghi danh, ghi tên (đăng kí), Thủy quân Lục chiến (lính thủy đánh bộ), trực thăng (máy bay lên thẳng), hỏa tiễn (tên lửa), xa lộ (đường cao tốc). Nếu cho rằng những tiếng cũ vì mang nặng tính Hán-Việt thì không dùng, nhưng còn vô số từ Hán-Việt vẫn được dùng, như ‘tổng thống”, “thống đốc”, “công nghệ”, “thương mại”.
Tên của nhiều quốc gia cũng là trường hợp mà những từ phổ thông ở miền Nam trước đây mà nay không còn sử dụng: Tân Gia Ba, Phi Luật Tân, Úc, Nam Dương, Mã Lai, A Phú Hãn, Thổ Nhĩ Kì, Tích Lan, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Á Căn Đình, Tây Ban Nha, Bảo Gia Lợi, Lục Xâm Bảo, Đại Hàn.
Tôi nghĩ những từ phổ thông đó mai một là vì lí do chính trị.
Hôm qua em ra tỉnh về
Hương đồng gió nội ít nhiều bay đi
Bạn đọc Hưng Quốc ơi, mới ra tỉnh thôi đã bay đi ít nhiều. Huống chi lại phải vượt cả đại dương đi xứ khác. May mà còn giữ được chút hương hoa đất nước để lại cho con cháu.
– Bùi Văn Phú
Ông Lê Văn,
(Ông gọi tôi lúc là “đ/g”, “độc giả”, lúc là “bác”, lúc “ông” làm tôi phân vân quá, thôi thì tôi vẫn gọi ông như thế này vậy)
Người Việt ta nhiều khi nói rất hăng, nhưng khi rơi vào những tình huống “không mấy thích hợp” thì lại im lặng, ở ngoài đời thì thêm… cười trừ. Tôi không thích như vậy, thế nên tôi rất vui được hồi đáp của ông và cũng xin được trả lời ông như sau:
1. Theo ông thì tôi nên dùng các “tính từ” để trong nháy nháy nháy (ngoặc kép) giống như ông làm là “ăn thua đủ”? Vậy trong PH này tôi sẽ thử dùng vậy, và xin được giải thích những từ trong nháy nháy mà ông có tổng kết lại:
2. Ông Lê Văn viết: “ “Hán-Việt” (tiếng Việt có gốc từ tiếng Hán/Tàu – nhưng vẫn là tiếng Việt) ”.
Xin minh họa: Ông Văn (người Việt) đi mượn cưa (từ Hán) nhà hàng xóm (người “lạ”), mang về nhà mình dùng,dùng cùn hết cả lưỡi, ông lại sơn thêm vào cho “đẹp” rồi giữ lại dùng riêng cho mình (từ Hán-Việt). Như vậy cái cưa không thể “vẫn là của ông Văn” (“nhưng vẫn là tiếng Việt” ) được. Mà phải định nghĩa tình trạng cái cưa thế này: Cái cưa này được sử dụng ở nhà ông Văn, theo ý của ông Văn, nhưng có nguồn gốc từ nhà ông Người Lạ.
Ông không hiểu (và đúng là không hiểu thật nên “nhấn mạnh lại” cũng vẫn sai như thế) nên tôi phải dùng đến tính từ “lơ mơ”.
3 Ông Lê Văn viết: “trong khi “chúng” (dân?) gần với “State” hơn. Theo tôi biết, ý của ông ĐTM là thế.”
Việc giải thích lại cụm “hợp chúng quốc” tôi có giải thích ngay sau khi có sách, “chúng” là từ Hán-Việt nghĩa là “nhiều” chứ không phải ““chúng” (dân?) gần với “State” hơn” . Ông “gán” từ “chúng” cho “States” rồi thì từ “quốc” sau đó ông giải nghĩa ra làm sao?
Việc ông giải thích hộ ông ĐTM thông qua ông BVP trước khi người ta lên tiếng, mà lại giải thích sai, tôi gọi đó là “lanh chanh”, đây là “trạng từ” để chỉ cách thức hành động chứ không phải “tính từ” như ông nói.
4. Tôi đang hỏi ông BVP xem thứ tiếng : “phổ thông thời VNCH” là thứ tiếng nào, thế mà ông lại giải nghĩa với nào là “Tiếng Việt Sài Gòn”, “tiếng Việt miền Nam” rồi “tiếng Hà Nội”, rồi phân biệt “trí thức Bắc Nam”… Nhiều thứ “hầm bà lằng” (từ dân gian Bắc Bộ) như thế thì ngôn ngữ dân gian Nam Bộ gọi là “tùm lum tùm la”. Ông tự ý giải nghĩa cho cái “tiếng phổ thông thời VNCH” mà không đúng tôi gọi đó là hành động “tự tung tự tác”, nếu ông thấy không đúng thì theo ông tôi nên sửa thế nào?
Hôm nay mới được đọc ý kiến trả lời của độc giả Hưng Quốc dưới đây. Nhưng vô tình tôi lại có lời nhắn nhủ đ/g Hưng Quốc ở dưới một bài khác rồi. Ở đây tôi chỉ xin nhấn mạnh một ý: bác Hưng Quốc không những thích “ăn thua đủ”, còn thích dùng nhiều “tính từ” cho người khác.
Trong ý kiến dưới đây ông HQ dùng: “lơ mơ”, “lanh chanh”, “tự tung tự tác”, “tùm lum”… Công nhận ông nhiều chữ thật!
TB. Ông HQ viết: “Ông định nghĩa từ Hán-Việt “tiếng Việt có gốc từ tiếng Hán/Tàu – nhưng vẫn là tiếng Việt”, đoạn “nhưng vẫn là tiếng Việt” cho thấy ông lơ mơ chả hiểu đâu là Hán – Hán-Việt – thuần Việt.” Không hiểu ông định nói cái gì, nhưng tôi xin nhấn mạnh lần nữa: từ ngữ Hán-Việt vẫn là tiếng Việt. “Thuỷ quân lục chiến” là một từ Hán-Việt và là tiếng Việt. “Identification” gốc La-tinh nhưng vẫn là tiếng Anh (Pháp, Đức…)
Về nguồn gốc của từ “Hợp chúng quốc” (合衆国) xin mời quý độc giả xem PH của tôi (my two cents)tại
http://www.talawas.org/?p=17409&cpage=3#comment-11352
眾 chúng
众 zhong4
——————————————————————————–
(Tính) Đông, nhiều. ◎Như: chúng sinh 眾生 các loài có sống có chết, có cảm giác, chúng hoạn 眾患 các bệnh tật. ◇Vương An Thạch 王安石: Phù di dĩ cận, tắc du giả chúng; hiểm dĩ viễn, tắc chí giả thiểu 夫夷以近, 則遊者眾; 險以遠, 則至者少 (Du Bao Thiền Sơn kí 遊褒禪山記) Chỗ phẳng mà gần thì kẻ đến chơi nhiều; chỗ hiểm mà xa thì người đến chơi ít.
(Tính) Thường, bình phàm, phổ thông. ◇Khuất Nguyên 屈原: Chúng nhân giai túy ngã độc tỉnh 眾人皆醉我獨醒 (Ngư phủ 漁父) Người đời đều say, riêng mình ta tỉnh.
(Danh) Mọi người, nhiều vật, nhiều sự vật. ◎Như: quần chúng 群眾 mọi người, quan chúng 觀眾 khán giả. ◇Tả truyện 左傳: Chúng bạn thân li, nan dĩ tể hĩ 眾叛親離, 難以濟矣 (Ẩn công tứ niên 隱公四年) Mọi người phản lại, người thân chia lìa, khó mà nên thay.
@Nam Phan
1. Cứ hễ vội vàng là người ta lại giở ngay wiki ra mà dọa nhau. Nam Phan có biết wiki nó là cái gì không, hãy bỏ chút thì giờ đọc định nghĩa về wiki trước khi dùng nó để biết mình đang sử dụng nguồn tư liệu nào, có được kiểm chứng hay không, có khả tín hay không:
http://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia :
“Wikipedia’s 15 million articles (3.2 million in English) have been written collaboratively by volunteers around the world, and almost all of its articles can be edited by anyone with access to the site”
Lược dịch: wiki viết bởi người tình nguyện khắp thế giới và có thể được sửa chữa bởi bất cứ người nào.
Ở phản hồi đầu tiên của tôi khi đó tôi không có sách nên cũng đã “thú thật tôi chưa hiểu.” và sau đó, khi có tra sách tôi cho rằng đó là hợp lý. Vì “hợp chúng quốc” là từ Hán-Việt được dịch nôm là “Tập hợp nhiều quốc gia” (“chúng” là nhiều chứ không phải như ông Lê Văn láu táu cho là chúng vì “chúng dân” gần với States).
2. “…Đọc sách này cho tôi hiểu biết thêm về sự phong phú của tiếng Việt, cùng e ngại cho một số từ vựng, thí dụ “bảo trọng” NẾU TRỞ NÊN THÔNG DỤNG thì “giữ gìn sức khoẻ” CHẲNG BAO LÂU SẼ KHÔNG CÒN NỮA”.
Tôi có thể công nhận Nam Phan đọc kỹ, thậm chí có thể nhai từng từ một nhưng Nam Phan không hiểu gì về câu văn của BVP và phản hồi của tôi:
“bảo trọng” và “giữ gìn sức khỏe” là hai cách nói rõ ràng khác nhau. Và chính BVP cũng đã khẳng định “bảo trọng” được sử dụng trong tiếng Việt (cái này Lê Văn lại cho là từ Hán 100% thì thật ngô nghê) tuy nhiên mức độ có ít, chính vì lý do như tôi đã nói: người Việt thì nên tránh dùng Hán-Việt nếu có thể. Và “giữ gìn sức khỏe” mới là thông dụng. Từ “nếu trở nên” cho thấy BVP không hiểu sự khác nhau và cách sử dụng giữa hai cách đó và từ đó tôi đã phản hồi. Và cũng thật may, BVP khẳng định sự không hiểu biết đó bằng: “CHẲNG BAO LÂU SẼ KHÔNG CÒN NỮA”. “bảo trọng” có được sử dụng rộng rãi bao giờ đâu mà “CHẲNG BAO LÂU SẼ KHÔNG CÒN NỮA” hở Nam Phan?
Mong rằng Nam Phan lần sau đọc cho thủng một câu văn rồi hẵng chấp bút.
3. “Đơn giản là Phim Tàu Hồng Kông thì xài “tiếng Tàu” là phải quá rồi!”
Những người dịch phim, truyện Tàu Bắt nguồn từ Sài Gòn trước ’75 đa phần là tiếng Việt yếu, họ không dịch được thoát ý sang tiếng Việt. Chính những người này do lười biếng (vì muốn dịch nhanh, nhiều) nên lạm dụng từ Hán mà làm xâm hại đến TIẾNG VIỆT, ảnh hưởng không tốt đến khán/độc giả. Nhiều người Việt ở Hải ngoại do không ý thức được nên vẫn thuê những cuốn phim kiếm hiệp, truyện chưởng Tàu được dịch láu và (vô tình) lấy những ngôn ngữ trong đó làm “tiếng Việt” và con cái của họ cũng theo đó mà học theo thứ tiếng Việt méo mó này, đây là một điều rất đáng tiếc. Và cũng thật nực cười khi người ta lại đổ thừa sự yếu kém về ngôn ngữ cho.. “chính trị”.
Học tiếng Việt không chỉ ở sách vở trường lớp mà còn học ở báo chí, phim ảnh, tiểu thuyết..Hãy thử vận động trí não xem, những phim , truyện kiếm hiệp Tàu “xài “tiếng Tàu” thì ích lợi gì về ngôn ngữ? Các bài thơ chữ Hán vẫn được các nhà thơ dịch xuôi sang tiếng Việt mà vẫn rất hay đấy, Nam Phan hiểu chút nào không? Nếu không, cho Nam Phan một ví dụ nhỏ dễ hiểu hơn: Hãy thử so sánh một bộ phim Tàu do US lồng tiếng và VTV/HTV lồng tiếng.
@Lê Văn
1. Về “Hợp chủng” hay “hợp chúng”:
Tôi đã tra sách, và thấy “hợp chúng” cũng có lý nhưng dù sao vẫn chờ thêm ý kiến khác.
2. Về “bảo trọng”:
Ông định nghĩa từ Hán-Việt “tiếng Việt có gốc từ tiếng Hán/Tàu – nhưng vẫn là tiếng Việt”, đoạn “nhưng vẫn là tiếng Việt” cho thấy ông lơ mơ chả hiểu đâu là Hán – Hán-Việt – thuần Việt.
3. “phổ thông thời VNCH”
Tôi chỉ hỏi tiếng “phổ thông thời VNCH”, sao ông lại tự tung tự tác gán thêm vào “Tiếng Việt Sài Gòn”, “tiếng Việt miền Nam” rồi “tiếng Hà Nội”, trí thức Bắc Nam tùm lum là ra làm sao hở ông Lê Văn?
Và tôi vẫn để ngỏ: “Phải chăng là thứ ngôn ngữ bị ảnh hưởng bởi sách truyện phim ảnh kiếm hiệp một thời được dịch một cách lười biếng, cẩu thả?”
Chắc ông không biết SG một thời đầy rẫy các truyện, phim kiếm hiệp của Tàu được dịch láu sang tiếng Việt? Cũng không sao, ông ra tiệm băng đĩa ở hải ngoại thuê (mướn) dăm ba cuốn phim kiếm hiệp, hay xã hội đen HK về mà coi xem thứ ngôn ngữ trong đó là thứ ngôn ngữ thế nào.
4. “không hề có nguy cơ mất tiếng hay mất nước”
Vâng, với một người lanh chanh như ông thì tôi cho rằng ông nói thật lòng.
5. “Đó là một hiện tượng “văn hóa – ngôn ngữ” đáng kể, chẳng may bị chặt đứt bởi biến cố tháng Tư 1975!”
Ông có giải thích cái “hiện tượng “văn hóa – ngôn ngữ” ấy nó là cái gì được không?
Văn hóa Việt Nam có những cái hay sâu đậm của nó, tiếc rằng thời “kinh tế thị trường” văn hóa “fastfood” lấn áp quá chừng chừng. Ngay ở trong nước nếu không để ý thì mọi chuyện sẽ trở thành dởm hơn của dởm của mấy ông khách lạ.
Cây đàn Việt Nam “thứ thiệt” là cây đàn đáy. Xem đọc và nghe ở những đường dẫn sau.
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0n_%C4%91%C3%A1y
http://vietsciences.free.fr/vietnam/amnhac/dandaychicoovn.htm
http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Doc-Tau-Dan-Day-NSND-Xuan-Hoach-Le-Cuong.IW6WB7DA.html
http://www.youtube.com/watch?v=XUtmTtKZN2M
Hễ cứ vội vàng là y như rằng… Muốn biết Hiệp Chúng Quốc hay Hiệp Chủng Quốc là đúng, nên bỏ chút thì giờ đọc Wikipedia (tiếng Việt). Sau đó “GùGồ”: “Hiệp Chủng Quốc hay Hiệp Chúng Quốc?” Người ta sẽ chỉ cho tường tận và còn cho biết Chính quyền VN hiện nay đã công nhận phải dùng Hiệp Chúng Quốc mới đúng (sau bao nhiêu năm dùng không đúng).
Lại cũng vì vội vàng, không đọc kỹ nên… Hãy đọc lại xem ông Bùi Văn Phú viết gì về chữ “bảo trọng” và “gìn giữ sức khoẻ”: “…Đọc sách này cho tôi hiểu biết thêm về sự phong phú của tiếng Việt, cùng e ngại cho một số từ vựng, thí dụ “bảo trọng” NẾU TRỞ NÊN THÔNG DỤNG thì “giữ gìn sức khoẻ” CHẲNG BAO LÂU SẼ KHÔNG CÒN NỮA”. Ông Phú lo ngại người ta dùng bừa phứa chữ “bảo trọng” mà không chịu dùng chữ tương tự thuần việt là “giữ gìn sức khoẻ”, chứ ai lo cho chữ “bảo trọng” đâu?
Còn nếu mê phim bộ và nghe mấy anh chị em lồng tiếng Việt vào phim Tàu (trước kia) và phim Hàn (bây giờ) để mà nói bậy về tiếng Việt trước 1975 ở Miền Nam thì có đáng mất thì giờ thảo luận không?(cũng nên tìm hiểu tại sao nhóm lồng tiếng phim bộ hay dùng tiếng Hán hay Hán-Việt! Đơn giản là Phim Tàu Hồng Kông thì xài “tiếng Tàu” là phải quá rồi! Cứ hỏi nhóm Tuý H., Việt Th. thì rõ).
@ Hưng Quốc
– “Hợp Chủng (hay Chúng) Quốc” là để dịch “United States”. “State” không hề có nghĩa “chủng tộc”, trong khi “chúng” (dân?) gần với “State” hơn. Theo tôi biết, ý của ông ĐTM là thế.
– “Bảo trọng” là chữ Tàu “trăm phần trăm” (phiên âm) chứ không phải “Hán Việt” (tiếng Việt có gốc từ tiếng Hán/Tàu – nhưng vẫn là tiếng Việt). Tôi không ưa ai dùng chữ đó khi nói chuyện, trừ khi để cho vui.
– Tiếng Việt (Sài Gòn) ““phổ thông thời VNCH” sao lại là sách truyện, phim ảnh kiếm hiệp dịch ẩu ra tiếng Việt được nhỉ?!
Theo tôi, Tiếng Việt Sài Gòn (trước 1975) có nhiều đặc tính của “tiếng Hà Nội” trước đó. Nó quy tụ tinh hoa khắp nước – cả từ Hà Nội qua làn sóng di cư 1954 – tụ về, sàng lọc dần dần gần như đã trở thành tiếng “chuẩn” cho cả nước.
Đó là một hiện tượng “văn hóa – ngôn ngữ” đáng kể, chẳng may bị chặt đứt bởi biến cố tháng Tư 1975!
Ngay trên talawas, tôi đã từng đọc những ý kiến thiển cận, một chiều không thể tượng tưọng của một vài trí thức miền Bắc. Thí dụ, một học giả nổi tiếng miền Bắc (mà tôi rất quý mến) đã ví von tiếng Việt miền Nam giống như rổ rá đan bằng sợi ny-lông! Một trường hợp khác, một quan chức cao cấp (?) từ Bắc vô Sài Gòn, nhất định là “Institution” phải dịch là “tổ chức”, còn dịch là “định chế” như miền Nam là sai v.v.
Ở đây tôi không hề muốn so sánh “trình độ văn hóa” Nam – Bắc (đâu chả là nước Việt), nhưng chỉ muốn chỉ rõ ràng KHÔNG PHẢI mọi chuyện đang diễn tiến TỰ NHIÊN, không hề có nguy cơ mất tiếng hay mất nước!
@ Tác giả BVP
Tôi có dịp trò chuyện với anh ĐTM nửa ngày chỉ về đề tài “Kháng Chiến HCM”. Phải nói anh ĐTM là người duy nhất tôi gặp đã nói chuyện về đề tài này một cách hiểu biết, khách quan, cởi mở, không giấu giếm…
Nhưng tôi cũng có cảm tưởng anh ĐTM không muốn viết về chuyện đó (có lẽ sợ có nhiều người hiểu sai, không có lợi cho “đại cục”?), nhưng anh cũng không muốn che đậy. Khi tôi xin phép anh cho tôi viết lại để phổ biến những điều anh kể, thì anh vui vẻ nhận lời mà còn khuyến khích. (Nhưng sau đó, vì bận bịu tôi đã không hoàn thành bài viết, thật có lỗi với anh ĐTM).
Thân kính
Xin được góp đôi lời:
Tôi những tưởng “Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ” mới là đúng, vì “hợp chủng” có nghĩa là “tập hợp nhiều CHỦNG tộc? Còn “hợp chúng” là gì thì thú thật tôi chưa hiểu.
“bảo trọng” hay “giữ gìn sức khoẻ” :
“Bảo trọng” là từ Hán-Việt, vẫn thường thấy trong truyện, phim kiếm hiệp (ảnh hưởng nhiều đến ngôn từ sử dụng ở SG), việc dùng nó không thường xuyên là đúng, vì là người Việt thì dùng từ Hán Việt nhiều quá đâu hay (nếu không muốn Hán hóa), chứ không phải là “mai một”. “giữ gìn sức khoẻ” là cách chúc sức khỏe nhau theo cách nói của người Việt, nói cách này tốt hơn là “bảo trọng” để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
“nhiều cụm từ phổ thông thời Việt Nam Cộng hòa nay cũng đang mất dần vì hoàn cảnh chính trị.”
Tiếng nào là tiếng “phổ thông thời VNCH”? Phải chăng là thứ ngôn ngữ bị ảnh hưởng bởi sách truyện phim ảnh kiếm hiệp một thời được dịch một cách lười biếng, cẩu thả? Và chẳng có “hoàn cảnh chính trị” nào làm nó “mất dần” đâu, đó là sự tinh lọc theo thời gian, đó là sự yêu thương âm thanh tiếng Việt tỏ rõ sự khác biệt với người Hán.
Không hiểu ông Bùi Văn Phú rời VN lâu chưa nhưng tôi thấy “hương đồng gió nội ít nhiều bay đi” rồi đấy.
Thân mến,
Hưng Quốc