talawas blog

Chuyên mục:

Roger Cohen – Những vị thánh 70% của Châu Á

05/03/2010 | 6:40 sáng | 8 Comments

Tác giả: Trần Quốc Việt

Category: Chính trị - Xã hội, Thế giới
Thẻ: > >

Trần Quốc Việt dịch

Bắc Kinh – Tôi đã có dịp đến thăm các vị thánh Châu Á trong những lăng tẩm có hàng dãy cột của họ và lòng tự hỏi họ sẽ nghĩ gì về các xã hội đã được kiến tạo nhân danh họ. Tương lai của các vị thánh này rồi ra sao sẽ là một câu hỏi trọng tâm trong thế kỷ 21.

Trước tiên, ở Hà Nội, có Hồ Chí Minh, con người phiêu bạt khắp thế giới (có một dạo đã dừng chân ở Brooklyn), một khắc tinh quỷ quái của quân đội Pháp và Mỹ, người thống nhất một nước Việt Nam độc lập, “Bác” của cả nước, giờ bị ướp xác ngược lại ý nguyện của ông là muốn tro mình được đem rải. Cậu con trai 15 tuổi của tôi, lóng ngóng vụng về như thường thấy ở Brooklyn, bị khiển trách là đã đút hai tay vào túi vì làm như thế là thiếu tôn kính.

Tôi nghĩ con tôi chưa từng bao giờ nhìn thấy một xác chết, lại càng chắc chắn chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy một xác chết đã được ướp suốt trong bốn thập niên. Những người lính Việt Nam bảo vệ lăng lại lầm tưởng sự vụng về là thái độ. Đầu óc ta cứ quay cuồng theo ý nghĩ miên man về vị thánh đã không còn dương khí ở ngay trước mặt.

Rồi, ở đây trong một Bắc Kinh lạnh như cắt thịt, vào một buổi sáng trời đầy nắng ở quảng trường Thiên An Môn, sau khi đi ngang qua một tiệm McDonald, tôi chợt nhận ra rằng chỉ có mỗi mình tôi với Mao Trạch Đông, Người Cầm Lái và Người Thầy Vĩ Đại, người trông hơi hồng hào hơn so với Hồ. Thấy chẳng có ai khác xung quanh, tôi định nấn ná thêm, nhưng người lính bảo vệ không cho phép.

Tưởng chừng như mấy phút với các vị thánh Châu Á im lặng ngàn thu này đều được bấm giờ chi li như mấy phút với một luật sư ở New York.

Nói nhiều người chết vì các tư tưởng của Mao và Hồ là cách nói nhẹ nhàng lịch sự. Theo ước tính, chỉ riêng nạn đói tại Trung Quốc diễn ra từ năm 1958 đến năm 1961 đã cướp đi sinh mạng của 35 triệu người. Đó là trước “thập niên kinh hoàng” của Cuộc Cách mạng Văn hoá, khởi đầu vào năm 1966, đã làm tan nát bao tâm hồn giống như cái đói đã làm tan nát bao hình hài.

Hồ, mà những chuyến lang thang dài qua khắp Châu Âu và Mỹ là sự gợi nhớ rằng các tư tưởng cách mạng được nhen nhúm lên trong thời gian tha hương ở Phương Tây không có gì là mới (dù có khác với Hồ là những kẻ theo đuổi thánh chiến chống Tây Phương ngày nay trưởng thành ở London hay Hamburg), đã không làm những chuyện tầm cỡ như Mao. Nhưng hơn ba thập niên chiến tranh, rồi tiếp đến là chương trình tập thể hoá toàn diện, đã gây ra cái chết cho hàng mấy triệu người.

Những vị thánh này một thời đã có quyền lực tuyệt đối và các đòi hỏi của họ về sự tuân phục rất lớn. Vậy tại sao họ vẫn được tôn kính? Tôi nghĩ trước hết là vì họ đã khẳng định sự kiến quốc, mối đoàn kết, lòng tự hào và nền độc lập của quốc gia của họ chống lại nạn thực dân hoá Tây Phương hay chống lại nạn ngoại xâm và qua đó giải thoát đất nước họ ra khỏi những hình thức tủi nhục.

Thật ra ta phải chấp nhận sự thực là, ở một mức độ  nào đó, Mao và Hồ là những vị thánh chống Tây Phương trong một thời đại khi quyền lực và thẩm quyền đạo đức của Tây Phương đang bị chất vấn khắp nơi, một khuynh hướng mà lòng hâm mộ toàn cầu dành cho tổng thống Obama cũng chẳng vớt vát được gì.

Tất nhiên, Mao và Hồ cũng duy trì được ảnh hưởng thống trị của mình như hiện nay vì các đảng cộng sản mà họ đã lãnh đạo vẫn còn đang cai trị những nhà nước theo chế độ độc đảng, và vì các đảng này đã viết lại ý thức hệ của hai người. Tư tưởng của Mao không chấp nhận tiệm McDonald đó.

Giờ đây, về cơ bản, họ chỉ còn là các vị thánh 70 phần trăm, tức những vị thánh đã bị rút nhỏ lại. Đặng Tiểu Bình đưa Trung Quốc theo con đường phát triển nhanh chóng, đã và đang thay đổi thế giới qua việc thừa nhận rằng Mao đã sai lầm (khoảng độ 30 phần trăm) và rằng một cuộc cách mạng vô sản để cho người dân đói nên nhường chỗ cho một cuộc cách mạng qua đó người dân có thể làm giàu theo kiểu hơi giống tư bản. Tương tự như vậy, khi Việt Nam rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng, tầng lớp cộng sản cai trị ở Việt Nam chợt khám phá ra, hay có lẽ đã chế ra, một lời kêu gọi của Hồ là “người nghèo nên giàu và người giàu nên giàu hơn” để biện minh cho việc ngả sang nền kinh tế thị trường.

Những vị thánh 70 phần trăm này là những con người hấp dẫn. Họ đã buông dao đồ tể. Họ không bắt giam tập thể. Họ không cố gắng tiến nhanh lên thiên đường không tưởng.

Không, họ xây tường lửa thay vì thành quách. Họ sợ phản đối ôn hoà hơn sợ các phong trào bạo lực. Họ cấm Facebook thay vì lưu đày người dân đến các trại tù. Họ ít tàn bạo hơn nhưng lại gây phiền toái nhiều hơn. Tóm lại, họ đã trải qua nhiều lần son phấn lại dung nhan trong thế kỷ 21.

Những lớp son phấn mới này đã thành công. Tuy vẫn có thể, nhưng thật khó mà tưởng tượng sự tồn tại của các nhà nước độc đảng Việt Nam và Trung Quốc nếu không có sự phát triển thần kỳ do chủ nghĩa cộng sản thị trường tạo ra.

Tuy nhiên, có điều là những xã hội năng động như thế ắt sản sinh ra nhiều người có giáo dục hơn, giàu có hơn; rồi theo thời gian chính những người này sẽ trăn trở về những điều xa hơn chuyện tậu được cái nhà lớn hơn hay mua được chiếc xe hơi. Họ bắt đầu trăn trở xem họ nên chọn ai làm lãnh đạo. Họ trăn trở về tự do ngôn luận. Họ lấy làm bất mãn trước tệ nạn tham nhũng. Họ lấy làm lạ tại sao họ không thể Twitter.

Cho nên một nghịch lý rất lớn là những kẻ chăm sóc các vị thánh 70 phần trăm này trong lòng lại thấy rất bất an ở ngay chính thời điểm khi mà mọi thứ đều diễn ra theo như ý họ, khi họ có sự phát triển mà Tây Phương nằm mơ cũng không thấy, khi ai ai cũng nói về sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Chỉ khi xét đến sự bất an như thế người ta mới có thể hiểu được việc kết án quá nặng tới 11 năm tù của Trung Quốc dành cho Lưu Hiểu Ba, một nhà văn và cũng là nhà hoạt động chính trị. Ông Lưu là nhân vật chính đằng sau một văn bản kêu gọi nên tự do hoá về chính trị có tên là Hiến Chương 08 trong đó tuyên bố: “Chúng ta nên chấm dứt thói quen xem lời viết là tội.”

Và cũng chính sự bất an tương tự giải thích việc Việt Nam bắt giam Lê Công Định, một luật sư có sức lôi cuốn. Hành động thúc đẩy sự đa nguyên của ông Định khiến ông bị kết tội cấu kết với “các thế lực phản động trong và ngoài nước.”

Các vị thánh của Châu Á đã chứng tỏ là biết thích nghi theo thời thế. Nhờ đó thành quả tạo ra thật choáng ngợp, cho xã hội của họ và cho thế giới. Nhưng những lời viết của những người tù này, hoàn toàn, không phải là tội, và tình cảnh của họ là một sự định lượng về mức độ căng thẳng ẩn dưới các lớp son phấn làm đẹp của chế độ.

Nguồn: New York Times ngày 7 tháng Giêng năm 2010; http://www.nytimes.com/2010/01/08/opinion/08iht-edcohen.html

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Quốc Việt

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Bình luận

8 Comments (bài “Roger Cohen – Những vị thánh 70% của Châu Á”)

  1. Trương Đức viết:

    Vâng, xin cám ơn bác Trần Quốc Việt đã cho tôi biết đích danh của các “cậu đéo lào mà lịnh thế” ấy và vài giây phút “hoài niệm” về cái “thời chúng ta đã sống tại một nơi mà kỳ diệu thay có đến hai mặt trời”. Đang định viết vài dòng tâm sự với bác thì tôi đọc được bài “Tản mạn đôi dòng về cái “sự văn nô…”” của tác giả Nguyễn Chính. Mạn phép tác giả, tôi xin trích ra đây để chia sẻ cùng với bác, bởi vì nó cũng giống với suy nghĩ của mình khi đọc “lời ca ru ngủ… rất đỏ”:

    “Nhưng đến cái sự văn “nô” hướng thượng, xun xoe, tới mức có cả một câu cửa miệng của người đời “thằng đéo lào mà lịnh thế?”, thì không biết còn có nền văn học thời hiện đại nào của nhân loại trên hành tinh này, nảy nòi ra được những văn sỹ như thế? Vâng! Trăm năm bia đá cũng phải mòn. Nhưng những câu thơ “lịnh” mà tôi dẫn ra dưới đây của ông Tố Hữu, thì không biết đến kiếp nào “bia miệng” thế gian mới hết nói lời xấu hổ? Quả thật, bất cứ người Việt Nam nào có lòng tự trọng với nguồn cội con Rồng cháu Tiên của mình, đều cảm thấy bị xúc phạm, khi phải lướt mắt thôi (đọc lên là nhục lắm, xấu hổ lắm). (Nguyễn Chính)

  2. Trần Quốc Việt viết:

    Thân gởi anh Trương Đức,
    Mời anh xem lại lời thơ và tiếng ca sau để ” hoài niệm” về một thời chúng ta đã sống tại một nơi mà kỳ diệu thay có đến hai mặt trời:

    VIẾNG LĂNG BÁC

    Nhạc: Hoàng Hiệp – Thơ: Viễn Phương

    Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác
    Đã thấy trong sương hàng tre bát bát,
    Ơi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
    Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng
    Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ
    Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

    Bác nằm trong giấc ngủ bình yên,
    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
    Dẫu biết trời xanh là mãi mãi
    Mà sao nghe nhói ở trong tim?

    Mai về miềm Nam thương trào nước mắt
    Mai về miền Nam nhớ Bác khôn nguôi
    Muốn làm con chim ca hót quanh Lăng
    Muốn làm bông hoa tỏa hương đâu đây
    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

    Nghe ở đây: http://www.vnmusic.com.vn/music/uploads/media/707.wma

  3. Trương Đức viết:

    “Rồi có một ngày mặt trời dân chủ chung của nhân loại sễ mừng vui hơn như bao ngưòi dân khi không còn nghe lời ca ru ngủ bao thế hệ:
    “Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng
    Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ”.”(Trần Quốc Việt)
    Ờ, đã hơn 1/4 thế kỷ rồi tôi không bị/được nghe “lời ca ru ngủ” này. Hình như nó bắt đầu bằng câu “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác…” thì phải? Bác Trần Quốc Việt ơi, cái cậu nhạc sĩ sáng tác bài hát này thật biết cách “chăm sóc các vị thánh 70 phần trăm”! Tiện thể đây, xin hỏi bác: “Cậu nhạc sĩ đéo lào mà lịnh thế!”.

  4. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Đúng vậy, anh Trần Quốc Việt. Mặt trời đỏ đã nhuốm màu tang tóc. Để được “phong thánh”, họ đã vay quá nhiều từ dân tộc của họ, cả máu và nước mắt. Và, đám đồ đệ đã chơi trò “áp-phe” trên những “thánh thể” này. Đến lúc, “trả lại Cesar những gì của Cesar”, trả họ về những giá trị thực, đúng như những nhân vật lịch sử phải chịu sự phán xét công tội của Lịch sử.

  5. Trần Quốc Việt viết:

    Thân gởi anh Nguyễn Việt Thanh,
    Câu hỏi của anh rất xác đáng, chứ không có “tào lao”. Tại sao Đặng Tiểu Binh cho phép Mao sai chỉ 30%? Tôi không biết. Tôi nghĩ lịch sử và nguyên nhân từ đâu có con số 30% là không quan trọng. Điều quan trọng là lãnh tụ như Mao và Hồ đều có thể được nhào nặn, hay tái xử lý để phục vụ cho mục đích trước mắt. Các vị thánh này có thể sẽ trở lại 100%, hay có thể rút xuống còn 20% . Tất cả đều tuỳ thuộc vào thời tiếc của chế độ. Sự bóp méo hay xét lại hay sửa sai lãnh tụ chứng minh rằng chế độ coi lãnh tụ cũng chẳng ra gì, hay cùng một lãnh tụ họ cho mang nhiều mặt nạ làm đẹp tuy theo mùa của thời tiết chính trị.
    “Các vị thánh của Châu Á đã chứng tỏ là biết thích nghi theo thời thế” là câu mở đầu cho đoạn kết thúc bài. Chữ “thích nghi theo thời thế” là tôi dich từ tiếng Anh “elastic” (có nghĩa là “có giãn” như cao su). Tôi tin rằng sự triệt tiêu phần trăm của các vị “thánh” này là hoàn toàn có thể. Sau khi bị rút xuống thành số không, họ may mắn được trở lại người bình thương, trở về cát bụi như bao người bình thường khác. Và lúc đó nhân đân Việt Nam và Trung Quốc sẽ được giải thoát khỏi các vị “thánh” của họ. Rồi có một ngày mặt trời dân chủ chung của nhân loại sễ mừng vui hơn như bao ngưòi dân khi không còn nghe lời ca ru ngủ bao thế hệ:
    “Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng
    Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ” .

  6. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Chào anh Trần Quốc Việt,
    Trước hết cảm ơn anh về một số bản dịch gần đây trên talawas.

    Tôi có một thắc mắc (hơi tào lao!) muốn tham vấn anh: Bằng cách nào mà ông R. Cohen “khấu trừ” đi khoảng 30% (sao không nhiều hoặc ít hơn?) “hàm lượng thánh” của các vị thánh đề cập trong bài viết? Có phải “hàm lượng thánh” này luôn giảm theo thời gian hay là tăng giảm bất thường? Liệu có “phương pháp” nào để dự đoán đến lúc nào “lượng thánh” sẽ triệt tiêu không? Và, khi đó các thánh còn lại gì?

    Cảm ơn anh và chúc anh khỏe.

  7. Nguyễn Việt Thanh viết:

    “Lý tưởng chính trị của tôi là lý tưởng dân chủ. Mỗi người cần được tôn trọng như một nhân cách và không ai được thần thánh hóa. […]. Thực ra tôi cũng biết rằng, để đạt được một mục đích tập thể, nhất thiết phải có ai đó đứng ra nghĩ, sắp xếp và chịu trách nhiệm chung. Nhưng không được ép buộc người khác đi theo, mà phải để họ có quyền chọn cho mình người cầm lái. Một hệ thống độc đoán dựa trên sự cưỡng bức sẽ sớm bị thoái hóa trong một thời gian ngắn[…]. Bởi bạo lực luôn hấp dẫn những kẻ thấp kém về đạo đức, và tôi tin rằng đã thành quy luật: nối nghiệp những tên bạo chúa thiên tài luôn là những tên khốn kiếp. Vì lý do đó, tôi luôn là người quyết liệt chống lại những hệ thống như vậy […]”
    (Albert Einstein, trong “Thế giới như tôi thấy”, Đinh Bá Anh dịch)

  8. Trương Đức viết:

    “Cho nên một nghịch lý rất lớn là những kẻ chăm sóc các vị thánh 70 phần trăm này trong lòng lại thấy rất BẤT AN ở ngay chính thời điểm khi mà mọi thứ đều diễn ra theo như ý họ, khi họ có sự phát triển mà Tây Phương nằm mơ cũng không thấy, khi ai ai cũng nói về sự trỗi dậy của Trung Quốc.

    Chỉ khi xét đến sự bất an như thế người ta mới có thể hiểu được việc kết án quá nặng tới 11 năm tù của Trung Quốc dành cho Lưu Hiểu Ba, một nhà văn và cũng là nhà hoạt động chính trị. Ông Lưu là nhân vật chính đằng sau một văn bản kêu gọi nên tự do hoá về chính trị có tên là Hiến Chương 08 trong đó tuyên bố: “Chúng ta nên chấm dứt thói quen xem lời viết là tội.”

    Và cũng chính sự bất an tương tự giải thích việc Việt Nam bắt giam Lê Công Định, một luật sư có sức lôi cuốn. Hành động thúc đẩy sự đa nguyên của ông Định khiến ông bị kết tội cấu kết với “các thế lực phản động trong và ngoài nước.””(Roger Cohen)

    Đọc những dòng này, ngoài việc rút ra một nhận định là cả hai phía, độc tài và những nhà đấu tranh cho dân chủ, đều “bất an”, tôi nhớ đến “nỗi bình an” giữa Hội nghị Việt kiều của triết gia hú còi Nguyễn Hữu Liêm. Rồi tự hỏi: Sao “những kẻ chăm sóc các vị thánh 70% của Châu Á” và những nhà đấu tranh cho dân chủ không đi hỏi ông NHL cái cách làm sao có được “nỗi bình an” đi, ông triết gia này đã từng khoe là “người cộng sản sẽ lắng nghe, nếu chúng ta biết cách nói” cơ mà. Thực tế cho thấy, những “kiểu” đấu tranh đòi dân chủ của các ông Lưu Hiểu Ba, Lê Công Định,… như hiện giờ là không đúng “cách”, hay cái “cách” đàn áp đấu tranh dân chủ của Trung cộng và Việt cộng là quá đúng “kiểu”: “sắc bén và chủ động”?

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>