Lê Xuân Khoa – Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?
01/03/2010 | 1:28 sáng | 23 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: Hiểm họa Trung Quốc
Sang năm mới Canh Dần, tình hình chính trị Việt Nam đáng bi quan hơn trước. Ngoài “quốc nạn” tham nhũng tiếp tục hoành hành, tình trạng xuống cấp đến mức báo động của giáo dục, và sự gia tăng các tệ nạn xã hội, người Việt Nam trong và ngoài nước còn phải đối diện với hai mối quan tâm hết sức nghiêm trọng:
- Tiếp theo những vụ lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải đã được chính thức hoá bằng những văn bản thoả hiệp với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc vẫn ngang nhiên tiến hành kế hoạch thôn tính Việt Nam bằng những hành động xác lập quyền sở hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực hiện những dự án khai thác tài nguyên mang tính chiến luợc trên cả hai mặt kinh tế và quân sự.
- Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam vừa tiếp tục ca ngợi mối quan hệ tốt với Trung Quốc qua những khẩu hiệu “bốn tốt” và “16 chữ vàng”, vừa gia tăng ngăn cấm những quyền tự do căn bản của con người, đồng thời mạnh tay trừng phạt những công dân dám công khai bày tỏ lòng yêu nước hoặc yêu cầu cải thiện chế độ chính trị và thực hiện công bằng xã hội.
Nhiều nhà bình luận ở hải ngoại đã phân tích và nhận định khá chi tiết về hai mối quan tâm đặc biệt này, nhưng phần đông vẫn chỉ nhằm kể tội lãnh đạo cộng sản, hô hào đoàn kết chống cộng và cầu mong chế độ sớm bị sụp đổ. Gần đây mới có một số trí thức đề cập đến những phương thức cụ thể và tích cực hơn, như thành lập cơ quan nghiên cứu chiến lược dân chủ và phát triển (think tank), vận dụng các nguồn lực vào tiến trình dân chủ hoá Việt Nam, nhấn mạnh vào vai trò xây dựng xã hội công dân của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hay vai trò của cộng đồng hải ngoại như một lực lượng đối lập. Đây là những kế sách lâu dài có hiệu lực chuyển hoá chế độ chính trị ở trong nước, nhưng công cuộc thực hiện đòi hỏi nhiều thời gian, phương tiện tài chánh và nhân sự, nhất là sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng.
Trong khi theo đuổi những mục tiêu lâu dài, chúng ta cần gấp rút tìm cách đối phó với những vấn đề trước mắt, ưu tiên là hai mối quan tâm nghiêm trọng đã nêu trên. Xét cho cùng, mối quan tâm thứ hai có liên quan với mối quan tâm thứ nhất và những biện pháp mạnh của nhà cầm quyền đối với mọi tiếng nói phát biểu lòng yêu nước và nguyện vọng chính đáng của người dân đều là hệ quả của tinh thần lệ thuộc Trung Quốc, với mục đích bảo vệ quyền lực và quyền lợi của Đảng và Nhà nước. Những biện pháp này đều rập theo khuôn mẫu của Trung Quốc, từ những phiên toà “kangaroo” với những bản án đã có sẵn dành cho những người bất đồng chính kiến và những người đòi đối xử công bằng cho những nạn nhân bị chính quyền tước đoạt đất đai, cho đến những hành động đàn áp tín đồ các tôn giáo không nằm trong hệ thống kiểm soát của nhà nước. Nếu không có gì thay đổi bất thường, đại đa số trong bộ máy lãnh đạo Đảng sau Đại hội XI vào tháng Giêng 2011 sẽ là những đảng viên thân Trung Quốc.
Để có thể tồn tại với chế độ độc tài đảng trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn Trung Quốc làm mô hình trị nước và hội nhập với cộng đồng quốc tế “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Việc giao thiệp với Hoa Kỳ và các nước dân chủ khác trên căn bản “đôi bên cùng có lợi” chủ yếu là làm giàu cho Đảng để củng cố bộ máy nhà nước. Chính phủ tìm mọi cách ngăn chặn mọi nguồn thông tin mở rộng sự hiểu biết của người dân và đưa đến những đòi hỏi dân chủ hoá chế độ. Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động Diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá” đã đích danh kết tội “các thế lực thù địch”, đặc biệt là chính phủ Mỹ và các tổ chức “phản động” của người Việt ở nước ngoài. Những chương trình viện trợ phát triển của USAID, chương trình học bổng Fulbright và Vietnam Education Foundation (VEF), chương trình giao lưu văn hoá và hợp tác văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, cùng với các chương trình nhân đạo của các tổ chức phi chính phủ (NGO), đều bị tố cáo là nhắm mục tiêu “xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hoá Việt Nam” (?). Đáng chú ý là Bản Chỉ thị này đã báo động về “xu hướng tự diễn biến, tự chuyển hoá” đang “có chiều hướng gia tăng, có mặt trầm trọng, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân”.
Để cho cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình có thể thành công, Đảng và Nhà nước cần phải dựa vào Trung Quốc, hiện đang là quốc gia phát triển kinh tế nhanh nhất trên thế giới và cũng là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Vì cùng chung chế độ và cùng chung chí hướng, cộng sản Việt Nam coi Trung Quốc là đồng minh vững chắc và điểm tựa an toàn nhất để chống lại mọi nỗ lực dân chủ hoá chế độ. Lãnh đạo Việt Nam không phải không biết đến hiểm hoạ Trung Quốc nhưng họ đã ưu tiên đặt quyền lợi và sự sống còn của Đảng lên trên vận mệnh tương lai của đất nước. Cộng sản Việt Nam luôn luôn giữ lễ với Trung Quốc cho nên mọi lời tuyên bố của lãnh đạo và phát ngôn viên chính phủ đều chỉ dừng lại ở chỗ xác nhận chủ quyền và kêu gọi Trung Quốc đối xử tử tế với ngư dân Việt Nam. Không có một viên chức chính quyền nào lên tiếng phản đối Trung Quốc và đòi hỏi công lý cho những ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắt giữ, đánh đập, và bắt nộp tiền chuộc tàu thuyền và ngư cụ. Những tàu tuần Trung Quốc hành động trái phép và vô nhân đạo ấy đều được gọi là “tàu lạ”, một từ ngữ lần đầu tiên được sử dụng trong lịch sử bang giao giữa hai nước.
Hiểm hoạ Trung Quốc
Truyền thống bá quyền của người Hán bắt đầu trễ nhất là từ hai ngàn ba trăm năm trước, ngay sau cuộc thống nhất trung nguyên của Tần Thuỷ Hoàng vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Quân nhà Tần đã mở cuộc nam tiến chinh phục các bộ tộc Bách Việt và đồng hoá dân bị trị bằng những cuộc di dân vĩ đại của người Hán. Số dân Bách Việt không chịu bị đô hộ phải chạy xa xuống phía Nam, tản mát trong các nước Đông Nam Á ngày nay. Riêng dân Lạc Việt đất Văn Lang đã kháng cự mãnh liệt, đẩy lui được nhiều đợt tấn công của các tướng nhà Tần như Đồ Thư, Nhâm Ngao, Triệu Đà và ngay cả của Tần Thuỷ Hoàng, rốt cuộc Đồ Thư bị chặt đầu, Tần Thuỷ Hoàng lâm bệnh phải rút quân về nước mà chết (210 tr.TL). Anh hùng chiến thắng quân Tần là Thục Phán lên ngôi vua, xưng hiệu là An Dương Vương, thay tên nước Văn Lang là Âu Lạc, chấm dứt triều đại Hùng Vương đã tan rã dưới sức mạnh của quân Tần. Nước Âu Lạc tồn tại được 30 năm thì mất do việc An Dương Vương gả con gái là Mị Châu cho Trọng Thuỷ, con trai của vua nước Nam Việt là Triệu Đà. Qua sự thông đồng của Trọng Thuỷ, Triệu Đà đã đánh bại An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt.
Năm 111 tr. TL, triều đại nhà Hán đem quân chinh phục nước Nam Việt. Các triều đại kế tiếp đã thay nhau thống trị dân tộc ta trong suốt mười thế kỷ, nhưng mọi cố gắng đồng hoá dân tộc Việt và biến lãnh thổ của ta thành một tỉnh của Trung Quốc đều thất bại. Tuy nhiên, sau khi Khúc Thừa Dụ lật đổ sự thống trị của nhà Đường năm 905, khôi phục nền độc lập cho dân tộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc vẫn tiếp tục xâm lược nước ta cho đến khi toàn bộ quân nhà Thanh bị vua Quang Trung đánh tan năm 1789.
Những năm sau đó, vì phải lo chiến tranh với các nước Tây phương và vì Pháp đã chiếm đóng Đông Dương, Trung Quốc không có cơ hội trở lại Việt Nam cho đến khi Mao Trạch Đông ủng hộ Hồ Chí Minh trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ với thâm ý kéo Việt Nam vào quĩ đạo của Trung Quốc. Dã tâm đó thể hiện rõ rệt qua sự kiện Chu Ân Lai ép buộc Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng phải chấp nhận Hiệp định Genève chia đôi đất nước. Sau đó họ Chu đã làm mất mặt các đồng chí Việt Nam khi mời đại diện Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Luyện đến dự tiệc chung với Phạm Văn Đồng và thông báo ý muốn thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và chính phủ Ngô Đình Diệm.
Mưu đồ của Trung Quốc thôn tính Việt Nam và dùng Việt Nam làm bàn đạp để tiến chiếm toàn vùng Đông Nam Á đã được cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tiết lộ cho các đồng chí lãnh đạo sau chuyến đi Bắc Kinh hội kiến với Mao Trạch Đông năm 1963, khi họ Mao không thuyết phục được Lê Duẩn và Trường Chinh ra tuyên bố chung chống chủ nghĩa xét lại của Khrushchev. Từ đó, Bắc Kinh biết Hà Nội đã chọn kết thân với Moscow, nhưng vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho Hà Nội vì nhu cầu chống Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Sau 1975, quan hệ Việt-Trung xấu hẳn đi cho đến khi Đặng Tiểu Bình quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học” trong cuộc chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979. Sau khi các nước cộng sản Đông Âu theo nhau sụp đổ năm 1989 và khi Gorbachev giải tán Đảng Cộng sản và Liên Bang Xô-viết năm 1991 thì Cộng sản Việt Nam phải quay về với Trung Quốc để có khả năng bảo vệ Đảng và chế độ. Kể từ đó, Trung Quốc đã có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc dùng Việt Nam làm cứ điểm để tiến hành kế hoạch kiểm soát Biển Đông và toàn thể các nước Đông Nam Á.
Vào thời điểm đó, tinh thần yêu nước trong giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam còn cao, cho nên mặc dù phải trở lại với Trung Quốc, họ cũng ráo riết vận động Mỹ bỏ cấm vận và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Dần dần, chính sách nước đôi ấy đưa đến hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Do sự suy giảm thế lực vả ảnh hưởng quốc tế của Hoa Kỳ trong khi Trung Quốc phát triển mau chóng và xác lập đuợc vị thế của một siêu cường, phe bảo thủ Việt Nam giành đuợc ưu thế và sẵn sàng nhượng bộ Trung Quốc để đổi lấy sự bảo vệ quyền lực và quyền lợi riêng của Đảng. Ngoài hai bản hiệp ước phân định biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ bất lợi cho Việt Nam, việc Trung Quốc xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa và công bố bản đồ hình lưỡi rồng (còn gọi là lưỡi bò) ở Biển Đông là những hành động phi pháp, ngang ngược không chỉ đối với Việt Nam mà còn với tất cả các nước trong khu vực. Sự nhượng bộ của Việt Nam lên đến mức báo động khi Nhà nước quyết định để cho Trung Quốc khai thác bô-xít trên Tây Nguyên, bất chấp những cảnh báo khẩn cấp của các nhà khoa học, chính trị và quân sự, đặc biệt là ba lá thư gửi lãnh đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu Chính phủ ngưng thực hiện các dự án khai thác bô-xít vì đây là “vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng.” Mới đây, hai vị cựu tướng lãnh Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh lại phát hiện được hành động bất chính của lãnh đạo mấy tỉnh biên giới đã âm thầm cho doanh nghiệp nước ngoài thuê 300 ngàn héc-ta (ha) rừng đầu nguồn để khai thác dài hạn (50 năm) trong đó 264 ngàn ha được dành cho Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Các ông đã viết thư cho Bộ Chính trị, báo động nguy cơ về an ninh quốc phòng, ô nhiễm môi trường và tai nạn cho nhân dân miền hạ du, và yêu cầu huỷ bỏ những hợp đồng bất chính ấy nhưng chưa có kết quả.
Người Việt hải ngoại có thể làm gì?
Trước viễn ảnh giang sơn mấy ngàn năm của tổ tiên bị biến thành một tỉnh của Trung Quốc, trước những biện pháp đe doạ và trừng trị tàn nhẫn của chính quyền, người dân trong nước vẫn còn phải cắn răng chịu đựng, ngoại trừ tiếng nói dũng cảm của một số trí thức và đảng viên có uy tín nhưng luôn luôn bị bộ máy công an sách nhiễu và bọn tin tặc tìm cách bóp nghẹt. Trước tình thế ấy, cộng đồng nguời Việt hải ngoại hết sức lo ngại và nóng lòng tìm cách đối phó. Nhiều phương cách tranh đấu đã được đưa ra, từ ôn hoà tới cực đoan, nhưng phần lớn chỉ là những điều mơ ước (wishful thinking) thiếu tính khả thi. Ngoài ra, trong cộng đồng vẫn chưa có sự thảo luận thẳng thắn, tôn trọng ý kiến khác biệt dù cùng theo đuổi một mục tiêu, do đó không đạt được sự đồng thuận, nhiều khi còn chụp mũ và mạt sát nhau thậm tệ, một hiện tượng được gọi là “quân ta đánh quân mình”.
Trở lại với nhận định ở trên là cần phải gấp rút tìm cách đối phó với những vấn đề quan tâm trước mắt được nhận diện về đối nội là tinh thần lệ thuộc Trung Quốc của phe nhóm bảo thủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam, và đối ngoại là nguy cơ tổ quốc Việt Nam bị sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc và dân tộc Việt Nam bị đồng hoá trước những đợt di dân khổng lồ của người Hán. Trong khi cuộc tranh đấu của nhân dân cho tự do dân chủ vẫn có thể tiến hành dù còn bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính quyền, cuộc tranh đấu chống hiểm hoạ Trung Quốc sẽ khó khăn gấp bội vì đồng thời phải đương đầu với cả thù trong lẫn giặc ngoài. Trong khi đó, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện dễ dàng hơn, tự do hơn để hỗ trợ cho nhân dân trong nước, nhất là khả năng vận động quốc tế cho một giải pháp “chung sống hoà bình, hợp tác và phát triển” giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á mà chủ yếu là quan hệ bình đẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nếu một thoả hiệp ASEAN-Trung Quốc có thể đạt được, chủ quyền Việt Nam sẽ được bảo đảm. Trước tình hình cấp bách hiện nay, cộng đồng hải ngoại cần gia tăng nỗ lực vào cuộc vận động quốc tế này. Dù thoả hiệp với Trung Quốc có đạt được hay không, sự đóng góp quan trọng của cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ được ghi vào lịch sử.
Riêng tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Mỹ gốc Việt cần tập trung chiến dịch vận động vào Chính quyền và Quốc hội, các toà Đại sứ của các nước ASEAN, các tổ chức quốc tế liên quan đến Trung Quốc và khu vực Á châu-Thái Bình Dương. Ngoài ra, cần kêu gọi sự hợp tác của giới trí thức và cộng đồng người Mỹ gốc Á, vì họ cũng rất quan tâm về tham vọng bành trướng của Trung Quốc và họ không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo của một siêu cường cộng sản độc tài. Một nhóm trí thức trẻ vùng thủ đô Washington DC đã bắt đầu mở cuộc tiếp xúc thăm dò với lãnh đạo của những tổ chức người Mỹ gốc Á châu-Thái Bình Dương để lập kế hoạch vận động chung. Tiếng nói của cộng đồng người Mỹ gốc Á châu chắc chắn sẽ được các nhà làm chính sách của Hoa Kỳ và các nước ASEAN trân trọng lắng nghe. Cộng đồng người Việt khắp nơi cũng cần có những hoạt động tương tự ở quốc gia sở tại và nối kết với cuộc đại vận động ở Hoa Kỳ.
Cuộc vận động của người Việt hải ngoại cho một giải pháp hoà bình ở Biển Đông chắc chắn sẽ được đồng bào trong nước vui mừng đón nhận. Đây cũng là cơ hội thuận tiện cho sự trao đổi và hợp tác giữa trí thức trong nước và trí thức ở ngoài nước về những vấn đề có lợi ích cho đất nước và dân tộc. Nhà nước sẽ không có lý do gì để ngăn cấm, trái lại còn cần phải ủng hộ vì đây cũng chính là cơ hội cho chính phủ có thể thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà vẫn có thể tồn tại. Dĩ nhiên, sự tồn tại này còn tuỳ thuộc vào những quyết định cởi mở của chính phủ về những quyền tự do, dân chủ căn bản của người dân trong một khung cảnh địa lý-kinh tế-chính trị mới của toàn vùng. Ngược lại, nếu Đảng và Nhà nước cứ tiếp tục ngăn cấm sự hợp tác chính đáng và hoà bình của người Việt Nam trong và ngoài nước thì sẽ không khỏi bị dư luận trong nước và quốc tế lên án và sẽ không tránh khỏi sự chống đối quyết liệt của các tầng lớp nhân dân có thể dẫn đến bạo động. Đến lúc này, nhân dân đã có nhiều cơ hội hiểu biết hơn về thế giới bên ngoài và nhận rõ được nhu cầu chuyển hoá chế độ từ độc tài sang dân chủ để đất nước có thể tồn tại và phát triển trong khung cảnh hội nhập toàn cầu.
Tất nhiên cuộc vận động của người Việt hải ngoại chỉ có thể thành công nếu ASEAN, với hậu thuẫn của Hoa Kỳ và các quốc gia Thái Bình Dương, có thể thuyết phục được Trung Quốc chấp nhận giải pháp chung sống hoà bình, hợp tác và phát triển. Kết quả mong ước này còn tuỳ thuộc vào vai trò cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ và khả năng đạt được đồng thuận giữa các nước ASEAN, đặc biệt là những nước đang tranh chấp chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Việt Nam với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2010. Trong mười tháng còn lại, liệu Việt Nam có đủ khả năng điều động các nước thành viên tạm giải quyết những dị biệt song phương để tiến đến hợp tác đa phương hầu có đủ tư thế đối thoại với Trung Quốc hay không? Đây là cơ hội và cũng là thử thách mới cho Việt Nam trong năm nay. Lịch sử sẽ phán xét khả năng và tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo Việt Nam. Đây cũng là thử thách và cơ hội cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong vai trò chủ xướng cuộc vận động của cộng đồng người Mỹ gốc Á châu-Thái Bình Dương với chính phủ Mỹ và quê hương gốc của họ. Mong rằng cộng đồng sẽ không bỏ lỡ cơ hội đóng góp vào những nỗ lực xây dựng hoà bình trong khu vực và bảo vệ chủ quyền của đất nước.
Nói đến cơ hội và thử thách của cộng đồng, đã đến lúc cần đề cập đến một vấn đề nhạy cảm có khi được coi như vấn đề cấm kỵ không nên đụng tới, đó là quan hệ giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với chính quyền và một số thành phần nhân dân trong nước. Vấn đề này không nên và không thể né tránh vì nó là một thực tế đang diễn ra rất phức tạp, từ thái độ hồ hởi hợp tác của những người có thiện cảm với chế độ, những chương trình nhân đạo và giáo dục của các tổ chức NGO, đến thái độ thù nghịch một còn một mất với chính quyền cộng sản. Quan hệ phức tạp này cần được bình tâm thảo luận và giải quyết thích hợp vì không thể biến thái độ chống cộng cực đoan thành một mối thù truyền kiếp cho đến các thế hệ về sau. Nếu mối quan hệ này có thể giải quyết một cách hợp tình hợp lý và trở thành một đồng thuận lớn trong cộng đồng hải ngoại thì mọi thành phần nhân dân trong nước, kể cả những đảng viên cộng sản thật tình yêu nước và có đầu óc tiến bộ, sẽ vui mừng đón nhận và sẽ trở thành một khối áp lực có khả năng thay đổi chính sách và ngay cả chế độ, nếu cần.
Trong phạm vi bài này, tôi chỉ muốn nêu lên một số nhận định và đề nghị do sự hiểu biết của cá nhân để độc giả cùng xem xét và góp ý:
- Đa số nhân dân trong nước đều chán ghét chế độ nhưng cũng đã trở nên quen với những lề lối trong xã hội cộng sản từ trên nửa thế kỷ nay, nhất là khi đời sống vật chất theo kinh tế thị trường đã dễ chịu hơn nhiều so với thời bao cấp. Họ cũng rất chán ghét chiến tranh và rất dè dặt đối với những biến động chính trị vì chưa thấy có lực lượng nào có thể chuyển hoá được chế độ; ngoài ra, họ rất hoài nghi và thờ ơ với các lực lượng “chống cộng” và những lời kêu gọi nổi dậy từ bên ngoài.
- Đa số nhân dân trong nước bị che giấu thông tin về những quyết định sai lầm của lãnh đạo có hậu quả nguy hại về kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng. Các cơ quan truyền thông quốc doanh chỉ trình bày những tin tức và hình ảnh có lợi cho chính phủ, chẳng hạn những thông tin về sự hợp tác và ủng hộ của quốc tế, những cuộc viếng thăm Việt Nam của nguyên thủ các cường quốc, những hội nghị APEC và ASEAN được tổ chức rầm rộ ở Hà Nội.
- Đối với mối lo ngại của nhân dân về mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, Nhà nước một mặt trấn an dân chúng bằng những lời tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt đề cao quan hệ hữu hảo và bền vững giữa hai nước, che đậy những điểm nhượng bộ Trung Quốc trong các thoả hiệp song phương, và làm giảm thiểu tính nghiêm trọng của những hành động ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông.
- Đối với những nỗ lực dân chủ hoá và đòi hỏi công bằng xã hội, Nhà nước thi hành các biện pháp ngăn chặn những lời khuyến cáo hay phản biện xây dựng của giới trí thức, khoa học gia, và thẳng tay đàn áp những cá nhân hay tổ chức tranh đấu cho tự do, dân chủ, những người bênh vực cho dân oan và lao động bị bóc lột. Những tội danh phi lý và những bản án quá đáng đối với những trí thức tranh đấu bất bạo động cho thấy mục đích của nhà cầm quyền là răn đe và gieo rắc sự nghi ngại trong dân chúng đối với ảnh hưởng từ bên ngoài.
- Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26.3.2004 về “công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.” Đây là một kế hoạch toàn diện nhằm vận động ba triệu nguời Việt Nam ở nước ngoài thành “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc” với những đóng góp quan trọng về tài chính và trí tuệ rất cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước. Mặc dù mục đích này không thể đạt được chừng nào đất nước còn bị áp đặt dưới một chế độ độc tài toàn trị, những biện pháp thuận lợi hơn cho “Việt kiều” về nước du lịch, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, hoạt động nghề nghiệp hay định cư lâu dài, cũng có khả năng hấp dẫn được một thiểu số nhất định trong cộng đồng hải ngoại.
Để vô hiệu hoá công tác tuyên vận một chiều của Nhà nước cộng sản, nhất là để có thể xoá bỏ những ý nghĩ và hình ảnh tiêu cực về số đông người Việt ở nước ngoài mà bộ máy tuyên truyền của nhà nước đã nhồi sọ nhân dân trong nước, cộng đồng hải ngoại cần phải thay đổi quan niệm và phương cách chống cộng đã lỗi thời. Qua những chuyến về thăm thân nhân và bằng hữu, những hoạt động cứu trợ nạn nhân bão lụt, những chương trình giúp đỡ y tế, giáo dục, hoặc cho vay vốn nhỏ của người Việt hải ngoại, đồng bào trong nước không cần bị tuyên truyền cũng nhận ra được thiện chí và ước vọng chính đáng của người Việt ở nước ngoài đối với quê hương nguồn cội. Niềm tin tưởng của đồng bào trong nước là điều kiện thiết yếu cho những nỗ lực tranh đấu chung cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Tình đoàn kết và hợp tác của người Việt trong và ngoài nước càng cần thiết hơn nữa cho những nỗ lực bảo vệ quê cha đất tổ, chống lại hiểm hoạ xâm lược và đồng hoá của Trung Quốc.
Đảng Cộng sản lo sợ và kết tội “diễn biến hoà bình” là chống phá chính phủ và dân tộc. Người Việt hải ngoại sẽ chứng tỏ là diễn biến hoà bình chỉ chống Nhà nước độc tài để đem lại lợi ích cho dân tộc.
Đảng Cộng sản kêu gọi cán bộ và toàn dân học tập “đạo đức Hồ Chí Minh”. Người Việt hải ngoại sẽ chứng tỏ là Nhà nước độc tài chỉ mượn uy danh của “Bác Hồ” với nhân dân trong nước để duy trì chế độ, vì thực tế là họ đã làm ngược lại tất cả những lời ông đã dạy cho cán bộ cầm quyền. Ngoài ra cũng rất dễ chứng tỏ rằng chế độ cộng sản độc tài đã huỷ hoại các giá trị văn hoá và đạo đức của dân tộc, biến công dân thành công cụ của nhà nước khiến cho họ chỉ có cơ hội thăng tiến bằng những thủ đoạn gian dối để tỏ lòng tuyệt đối trung thành với chế độ.
Bằng mọi cách, cần phổ biến sâu rộng đến mọi giới nhân dân và quân đội những tin tức và tài liệu chính xác về tình hình Biển Đông, về những nguy hại của việc khai thác bô-xít Tây nguyên, khai thác rừng đầu nguồn, xây dựng đập nước ở thượng nguồn sông MeKong, những làng Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam, v.v. Đó là những thông tin bị Nhà nước bưng bít và ngăn cấm. Để có sức thuyết phục, cần sử dụng những tài liệu khách quan khoa học, nhất là những bài viết của chính những đảng viên và tướng lãnh có uy tín ở trong nước và của các quan sát viên quốc tế.
Cần tách rời những người cộng sản yêu nước ra khỏi những người cộng sản hại nước. Cần hỗ trợ cho những tài năng trẻ ở trong nước có thêm cơ hội học hỏi, phát triển khả năng sáng tạo và luôn luôn tự hào là dòng giống của con Hồng, cháu Lạc. Cần sẵn sàng tiếp xúc, trao đổi và tạo cơ hội hợp tác giữa những trí thức tiến bộ, những đảng viên sáng suốt, những nhà văn hoá và nghệ sĩ nổi danh trong và ngoài nước.
Gần đây, vì cần phải xoa dịu dư luận bất mãn của nhân dân, vì những động thái mới của Hoa Kỳ và các nước ASEAN nhằm bảo vệ an ninh và quyền lợi chung tại Biển Đông, chính quyền trong nước đã có thái độ mạnh dạn và có trách nhiệm hơn, như gia tăng lực lượng phòng thủ bằng việc mua tàu ngầm và phi cơ chiến đấu của Nga. Thủ tướng chính phủ cũng vừa lưu ý báo chí phải “lắng nghe ý kiến của người dân,” và thông tin nhanh nhạy hơn về vấn đề “bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc.” Với kinh nghiệm về cách “nói một đàng, làm môt nẻo” của chính quyền cộng sản, mọi người Việt Nam trong và ngoài nước sẽ tiếp tục theo dõi những bước đi của Đảng và Nhà nước trong những tháng ngày sắp tới.
Tóm lại, vì nhu cầu thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì nhu cầu đại đoàn kết dân tộc trước nguy cơ bị Trung Quốc thôn tính và đồng hoá, cả chính quyền trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đều cần phải có những quyết định đột phá, biến thử thách thành cơ hội, kết hợp được sức mạnh cần thiết cho sứ mệnh phát triển và cứu nguy đất nước. Trong tư thế của nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam có hai lựa chọn: dọn đường mở lối hay xây chướng ngại vật?
Trong bất cứ trường hợp nào, cộng đồng người Việt hải ngoại cũng vẫn tiếp tục hỗ trợ thích hợp cho tiến trình dân chủ hoá và những nỗ lực bảo vệ độc lập và vẹn toàn lãnh thổ của đồng bào trong nước.
© 2010 Lê Xuân Khoa
© 2010 talawas
Bình luận
23 Comments (bài “Lê Xuân Khoa – Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?”)
1 2 Trang sau »
Kính thưa ông Hòa Nguyễn và ông Tri Ngộ.
Tôi rất cảm kích về những lời góp ý của hai ông. Ông Hòa Nguyễn thường có những cái nhìn xác đáng. Ông Tri Ngộ là người thành khần, sẵn sàng rút lại ý kiến của mình khi thấy có điều gì không ổn.
Tôi xin phép dài dòng để nói lên vài ý tưởng của mình.
Tôi không đồng ý với chủ trương “lật đổ” chính quyền trong nước vì những lý do sau:
Khi mưu toan lật đổ, chính quyền trong nưóc đương nhiên chống lại, bạo lực chết chóc sẽ xảy ra. Lật đổ như vậy có tính cách phản dân chủ. Lịch sử Việt Nam chúng ta phải lật đổ sự đô hộ của người Trung Hoa vì chúng ta không có con đường thương thuyết với họ. Trước 75, miền Nam không còn cách nào khác hơn phải dùng chiến tranh để tự vệ chống lại quân đội Miền Bắc.
Ngày hôm nay, tình hình đã đổi khác. Chúng ta không còn chiến tranh nữa. Lãnh đạo Hà Nội đã mở cửa đất nước và giao thiệp với nưóc ngoài. Họ đang bị ràng buộc bởi các quy chế ngoại giao quốc tế ở một mức độ nào đó, cho dù họ không muốn. Tiếc rằng cộng đồng ngưới Việt hải ngoại chưa nhận ra điểm này. Các vị lãnh đạo cộng đồng vẫn mơ hồ đi theo chính sách 4 không của ông Nguyễn Văn Thiệu, cực lực không thèm nói chuyện với chính quyền trong nước, lên án những ai tiếp xúc với chính quyền trong nước là phản bội lý tưởng “chống cộng”.
Chúng ta thiếu ý thức rằng trong cuộc vận động cho dân chủ, chúng ta phải nên dùng các phương pháp đối thoại, thương thuyết với chính quyền, đồng thời kêu gọi đồng bào trong ngoài nước, các thế lực chính trị quốc tế ủng hộ chúng ta để làm áp lực lên chính quyền trong nước. Đây là những phương pháp đân chủ, chắc chắn sẽ đươc sự đồng tình của ngưòi dân và các thế lực chính trị quốc tế. Nếu bỏ qua những phương pháp vận động dân chủ này mà kêu gọi những chiêu bài lật đổ bạo động thì chúng ta là những nhà “phản dân chủ” thứ thiệt.
Chúng ta chưa gạt bỏ được tàn tích của chiến tranh. Những chính quyền dân chủ thứ thiệt trên thế giới nhìn chúng ta với con mắt kỳ cục. Chẵng ai ủng hộ ta hết. Chúng ta không thể lấy cứu cánh dân chủ để biện hộ cho phưong tiện thiếu dân chủ. Nếu phưong tiện đã phản dân chủ rồi thì còn ai cấm chúng ta quay ra đàn áp những ngưòi chống lại chúng ta bằng những phương pháp bạo lực sau này.
Chúng ta có thể lý luận là người Cộng Sản chẳng bao giờ thèm nói chuyện với chúng ta. Nếu có nói chuyện thì lời nói của bọn nó chẵng bao giờ tin nổi.
Thực dân Anh ngày xưa ban đầu chẵng bao giờ ngu dại gì thèm nói chuyện với ông Ghandi. Nhưng sau khi ông Ghandi, với chủ trương dân chủ bất bạo động hoàn toàn đứng đắn, đã có một đoàn thể cả trăm ngàn người biểu tình đứng sau lưng mình rồi thì người Anh phải nói chuyện thôi.
Cái khó không phải là bọn Cộng Sản không nói chuyện với chúng ta. Cái khó là chúng ta có chủ trương đứng đắn hay không, và chúng ta có sự ủng hộ đong đảo của quần chúng và các chính quyền quốc tế hay không.
Thành ra, việc xây dựng lực lượng có chủ trương đúng đắn, cán bộ đàng hoàng là điều cần thiết. Nếu trong nước làm chưa được vì sự đàn áp thì chúng ta tạm thời đặt cơ sở tại nước ngoài rồi chuyển cơ sở về nước. Tôi xin tạm ngưng tại đây vì đã hết hạn chữ.
Bản chất của vấn đề là sự đấu tranh giữa TQ và VN qua bao thế kỷ. Ngày trước Đặng Tiểu Bình đã nháng cho Mỹ và thế giới tự do cái thị trường to tướng và là muốn thay đổi chính trị của chúng tôi thì thay đổi kinh tế chúng tôi trước để hưởng lợi; chúng tôi cũng chẳng muốn CS đâu cứ nhìn tên nước chúng tôi “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” (so với “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”). Do đó TQ dành được “ưu tiên” (most favorite country) trong kinh tế đối với các nước tự do mà chủ yếu là Mỹ. Đối với VN, TQ lúc nào cũng nói chuyện XHCN anh em (kể cả chiêu bài “hợp tác kinh tế và quân sự”) mặc dù chính lãnh đạo VN (ngoại trừ một số nhỏ thân TQ) cũng chả tin “tình anh em” chút nào, nhưng chiến lược là chiến lược. Do đó thế giới tự do sẽ nhìn thà là để TQ kềm chế hay nuốt luôn thằng cực đoan CS này (TQ cho thế giới thấy rõ ràng CS VN lấy xong miền Nam rồi kế tiếp là Cam Bốt) còn tốt hơn cho thế giới tự do. Và do đó Việt Nam tụt hậu và bị đào thải và mất nước chỉ là thời gian. Chính phủ VN rất bị động và thiển cận là “đánh không lại thì vạch đất (mất chút ít cũng được) mà giữ” và càng ngày càng đưa đất nước đến thua thiệt càng nhiều.
Dĩ nhiên lãnh đạo VN cũng muốn kềm đất nước vì quyền lợi cá nhân và gia đình. Khi cái kiểu “kinh tế thị trường định hướng XHCN (Cơ hội chủ nghĩa cho chính xác hơn)” đến một giai đoạn chuyển tiếp họ cũng sẽ theo chân TQ và cho những thành phần làm ăn làm chủ (mafia hay không mafia) gia nhập đảng để củng cố lực lượng nắm quyền.
VN phải thừa cơ hội là thế giới lo sợ sự bành trướng của TQ; và VN nên đưa ra một chiến lược mới (cũng cũ thôi) là dân chủ hóa (sẽ trình bày rõ hơn đoạn sau), đổi tên ngược trở lại “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” cũng không phải tệ và chứng minh cho thế giới là đi đến dân chủ như họ, nghĩa là xây dựng một vị trí được “ưu tiên” như Đài Loan và Đại Hàn đã trải qua lúc đầu và sau đó TQ đã được. Cứ tưởng tượng cả Mỹ và Âu châu đều cho VN “ưu tiên” thì vượt nhanh biết mấy.
Một khi VN đã vào vị trí tuyệt đối thì một khi hàng sản xuất chất lượng đi ngược qua TQ thì lúc ấy sự phát triển trên bong bóng lao động rẻ của TQ đó sẽ xẹp và TQ sẽ vỡ ra như Liên Bang Sô Viết vì khác dân tộc và tiếng nói mà động cơ là những tỉnh phía nam. Chính Thượng Hải cũng không phục Bắc Kinh chút nào cho đến bây giờ vì họ nghĩ họ giỏi hơn mấy anh phía bắc. Nên nhớ Việt Nam phải thay đổi càng sớm chứ cơ hội không chờ lâu đâu, TQ cũng sẽ không nằm như vậy hoài đâu.
Tiến trình dân chủ hóa lấy tinh thần Diên Hồng đoàn kết chỉ có thể thực hiện được bởi chính những người CS thật sự yêu nước đặt quyền lợi đất nước lên trên lý tưởng CS đại đồng và quyền lợi cá nhân. Nước Việt cần một hiến pháp vững chắc dựa trên dân chủ, một quốc hội Diên Hồng của quyền lực nhân dân, một nhà nước pháp quyền tuân thủ luật pháp khi điều hành quốc gia (tất cả cán bộ công nhân viên chức hành pháp thi hành nhiệm vụ không được tham gia một đảng phái chính trị nào cả), một hệ thống tòa án độc lập (tất cả cán bộ công nhân viên chức ngành tư pháp thi hành nhiệm vụ không được tham gia một đảng phái chính trị nào cả) và một lực lượng báo chí tự do độc lập trên tình thần đạo đức của nghề làm báo. Nếu nước Việt có hệ thống hiến pháp luật pháp mạnh mẽ như trên thì việc bán rừng bán đất đâu có xảy ra dễ dàng như vậy.
Người nước ngoài đem thông tin nhiều hơn cho dân trong nước và càng nhiều đảng viên cầm quyền qua những blog như Talawas và những thông tin phương tiện của internet. Lịch sử VN tràn đầy kinh nghiệm và sự thật về những lãnh đạo bất tài trong quá khứ đã đưa đất nước thua thiệt cho đến ngày nay sẽ giúp cho người trong nước nhận thức và tự thay đổi, “hồi ký hèn” bây giờ sẽ là những “hồi ký can đảm yêu nước” sau này. Người Việt nước ngoài ngay hiện tại cũng muốn giúp nước qua nhiều lãnh vực như công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục, khoa học kỹ thuật v.v… và không tham gia vào kinh tế mafia của gia đình hay bạn bè của cán bộ nắm quyền, nhưng cũng rất khó vì tham nhũng gần như bất cứ ở đâu cũng có và gần như bất trị vì được bảo kê như mạng lưới.
Chỉ có dân chủ tiến bộ trong một tinh thần Diên Hồng là con đường đúng đắn cứu vãn dân tộc và cho Việt Nam tương lai. Và người Việt nước ngoài phải làm đủ mọi cách cho người đảng viên CS trong nước thay đổi chính trị đúng đắn để có lợi cho đất nước lâu dài.
Góp ý với ông Truong Giang.
Thật ra, tôi chỉ có góp ý nhỏ, nhân đọc hai phàn hồi khác trước đó về bài viết khá dài của giáo sư Lê Xuân Khoa. Cho đến bây giờ, tôi chưa (dám) có ý kiến gì về bài chủ này, mà tác giả là người tôi kính trọng, và khi đọc xong tôi thật sự xúc động vì lý do khác: ở vào cái tuổi mà nhiều bạn bè của ông đã lặng tiếng vì cần nghỉ ngơi, ông vẫn nói lên sự quan tâm rất mực của mình về hiện tình đất nước, và tương lai dân tộc. Dù những điều ông nghĩ và trình bày ở đây có thật chính xác hay khả thi hay không, nhưng nhiệt tình đối với quê hương (không gọi là “cố quốc”) như thế đáng được truyền qua cho thế hệ trẻ, nhất là ở hải ngoại.
Thiện ý của ông Truong Giang chắc phải có, nhưng tôi thấy ông nêu cao hai điểm:
1/ không thể phá bỏ chế độ hiện tại, dù chỉ còn là căn nhà đổ nát, vì e sẽ rơi vào tình trạng tệ hại hơn (nhà sẽ không còn mái, hay nền).
và 2/ những người định làm như thế, dù đang đấu tranh cho dân chủ trong nước, hay gọi là “chống Cộng” ngoài này, đều không đủ sức, nếu không phải là bất xứng, bất tài.
Bằng cảm tính (không chắc đúng), tôi nhận thấy đây là quan điểm biện minh cho cái hiện có, hay cho hiện trạng, tất nhiên chống lại đòi hỏi thay đổi, và điều này phù hợp với chủ trương của giới lãnh đạo trong nước. Hoặc ít ra nhằm gây nghi ngờ cho những ai đang muốn, hay chỉ mơ ước, vài đổi mới trước tình trạng chính trị ù lỳ với những tham nhũng, tham quyền, đàn áp, phản dân chủ, nhượng bộ Trung Quốc ngày càng trầm trọng.
Lý lẽ Việt Nam khi tách khỏi vòng cương toả, hay cái bóng đè chính trị nặng nề của TQ, sẽ có khả năng tự vệ chống lại Trung Quốc tốt hơn, có thể đứng vững khi quan sát tình hình chung trên thế giới. Trung Quốc rất muốn nuốt gọn Đài Loan (như Hongkong) mà không được, vì tuy chế độ dân chủ của Đài Loan có khiếm khuyết, nhưng người dân Đài Loan quyết liệt chống chế độ CS, và được nhiều nước dân chủ ủng hộ. Đài Loan vẫn giữ được các đảo nhỏ, như Ba bình ở Trường Sa, vài đảo gần Hongkong, không kể Kim Môn sát bờ biển Phúc Kiến… Mới đây, Georgia (hay Gruzia) nhỏ bé không bị Nga khổng lồ (vẫn còn là nước thiếu dân chủ) xoá tên trên bản đồ thế giới, vì nhờ Georgia có chế độ dân chủ, hay ít ra dân chủ hơn Nga. Không ai thấy ở Ba Lan, Hung, Ukraine khi trở thành nước dân chủ phải bị nhiều đổ máu, hay tàn phá. Nhân đây, Ukraine gắn bó về lịch sử (và kinh tế) với Nga nhiều hơn Việt Nam với Trung Quốc, vậy mà chưa thấy Ukraine thời gian qua chịu khuất phục Nga nhiều hơn VN đối với TQ, và dù tổng thống Ukraine vừa mới được bầu cho là nhiều cảm tình với Nga, nhưng theo một nhận xét trên Washington Post mới đây, ông ấy muốn củng cố quan hệ với Mỹ (và Liên Âu) hơn với Nga. Chắc là cách mạng Cam không chết oan uổng (dù có những phản cách mạng).
Chuyện ông Truong Giang cho mình từng hoạt động gần gũi với Cộng đồng người Việt ở Mỹ, nên biết rõ họ và do đó chỉ trích họ nhiều điều, thì không lạ vì đã có nhiều người làm như thế, hay họ có cách nói giống như thế. Riêng về thâm lạm thì quỹ của CĐNV không nhiều như ngân quỹ quốc gia trong nước, nên chuyện “tham nhũng” nếu cả hai bên đều có cũng không thể so sánh mức độ tham nhũng với nhau. Gần đây, có những cuộc quyên góp tiền giúp thương phế binh miền Nam trước kia (và lén gửi về nước), với số tiền lên đến nhiều triệu Mỹ kim, nhưng không nghe lời than phiền về thâm lạm. Việc ông Truong Giang gián tiếp chỉ trích hai chính phủ ở miền Nam trước kia , là Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, không biết với dụng ý hay dùng cho luận điểm gì. Miền Nam bị sụp đổ, theo nhiều người thấy, là do bị Miền Bắc tấn công bằng quân sự, với sự giúp đỡ vũ khí của cả khối CS thời đó, trong khi miền Nam lúc đầu được Mỹ giúp nhưng sau cùng bị bỏ rơi. Có thể đồng ý về sự yếu kém khả năng quân sự, nhưng về các mặt khác như dân chủ, nhân quyền, giáo dục, kinh tế miền Nam lúc đó tiến bộ hơn miền Bắc, và do bị “giải phóng” mà miền Nam đã mất cơ hội để trở nên phú cường như Nam Hàn, Đài Loan, hoặc ít ra như Mã Lai hiện nay.
Tất cả điều chỉ nói lược qua ở trên nếu phân tích thêm sẽ trở thành rất dài và rộng, không thể gói ghém trong mục góp ý ngắn, và tôi cũng không muốn bị đưa ra khỏi ý chính của bài chủ này.
Bài viết (PH) của ông Trương Giang đưa ra một vấn đề lớn khác: chúng ta chưa có đội ngũ, đoàn thể sẵn sàng để lật đổ chế độ hiện tại. Chúng ta (người Việt hải ngoại) chưa đủ khả năng (và có thể chưa đủ tư cách, tôi thêm vào chỗ này) để đạp đổ căn nhà cũ và xây căn nhà mới.
Tôi lại nghĩ khác : đợi đến ngày cộng đồng người Việt hải ngoại đạt được vai trò lãnh đạo có khả năng dân chủ đó chắc có thể phải đợi rất lâu và ngoài ra chưa chắc các cộng đoàn người Việt hải ngoại sẽ có vinh dự hoặc may mắn được mời lãnh đạo việc xây nhà mới này. Việc xây nhà mới là chuyện của người dân trong nước.
Người dân trong nước vẫn phải cân nhắc giữa miếng cơm manh áo trong chế độ độc đảng hiện tại và việc tranh đấu cho quyền tự do chính trị và các quyền tự do căn bản khác của mình. Tiến trình đi từ quá khứ lam lũ nghèo đói đến hiện tại hay ngay cả tương lai gần, có thể, người trong nước vẫn phải chọn cơm áo và đời sống tạm ổn định trước tự do dân chủ.
Tuy nhiên cuộc vận động dân chủ cho VN vẫn phải được tiếp tục. Giá trị của quyền tự do dân chủ trong một nền pháp trị nghiêm minh cần được thông tin sâu rộng nhiều hơn nữa để người dân có đủ dữ kiện, và sẽ một ngày không xa, họ sẽ tự chọn lấy con đường tự do dân chủ cho chính mình và cho cả dân tộc.
Chúng ta cộng đồng người Việt hải ngoại chỉ có thể tiếp sức, khai thị, và thông tin (việc này bài của GS LXK đã nói lên quá đầy đủ). Rồi sẽ đến ngày người dân trong nước tự chọn đứng dậy đòi quyền sống và quyền làm chủ đất nước để từ đó sẽ tiến tới tranh đấu giành lại chủ quyền quốc gia.
Tôi hoàn toàn đồng ý với Bạn Hòa Nguyễn. Chúng ta cần tiến hành hai mặt cùng một lúc: bảo vệ lãnh thổ đất đai, biển cả và đòi hỏi dân chủ đa nguyên đa đảng cho Việt Nam. Việc bảo vệ đất đai cho Việt Nam sẽ làm tăng thêm uy tín của người nưóc ngoài với quần chúng trong nước. Tôi nhận thấy bài viết của Giáo Sư Lê Xuân Khoa cũng có những ý chính như vậy.
Có một ý nhỏ tôi muốn nêu ra ở đây. Thí dụ chúng ta có một cái nhà dơ dáy, cũ kỹ, mục nát. Chúng ta ghét nó. Chúng ta muốn đập đổ nó đi để xây lên cái nhà mới. Chúng ta có quyền ước muốn là cái nhà mới xây sẽ đẹp đẽ, khang trang, đồ sộ hơn cái nhà cũ.
Tuy nhiên, muốn có một cái nhà mới đẹp hơn, chúng ta cần có bản vẻ cái nhà mới, có kỹ sư giám sát công trình xây cất, có công nhân làm việc, có thanh tra giám sát chất lượng của công việc, và cần nhất là phải có tiền.
Nếu chúng ta không có tiền, không có bản vẽ, không có đội ngũ công nhân, kỹ sư, thanh tra làm việc, có lẽ chúng ta nên tạm thời chấp nhận căn nhà đó vả tìm cách sửa đổi từ từ. Nhà cũ sập rồi mà không có khả năng xây nhà mới thì nguy lắm.
Thành ra bạn Hoà Nguyễn có thể ước mơ là căn nhà mới sẽ đẹp gấp bội căn nhà cũ. Bạn kêu gọi chúng ta đập đổ chế độ thối nát hiện nay và “giả thiết” chế độ dân chủ mới sẽ đẹp hơn và sẽ chống Trung Quốc một cách hiệu quả hơn là nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay.
Tôi phản đối chế độ Mafia Tư bản đỏ tại Việt Nam. Nhưng tôi xin được phép nghi ngờ “giả thiết” của bạn Hòa Nguyễn. Trong lịch sử thế giới, có bao nhiêu phần trăm các cuộc cách mạng lật đổ mang lại một thể chế tốt đẹp hơn. Hay là các cuộc cách mạng lật đổ phải đi qua nhiều năm, nhiều chục năm xưong máu mới đi tới kết quả tốt đẹp.
Tôi không phản đối cuộc vận động dân chủ, nhưng tôi nghĩ, điều cần thiết là chúng ta cần có một đoàn thể chính trị tốt đẹp, có sự lãnh đạo tốt đẹp, có đuớng lối rõ ràng đặt quyền lợi lâu dài của dân tộc trên hết, có đội ngũ cán bộ có khả năng và đạo đức tốt. Có được đoàn thể đó, chúng ta mới nên nói đến lật đổ chính quyền trong nước. Nếu chưa có đoàn thể đó, việc kêu gọi lật đổ chỉ là lời kêu gọi để mà kêu gọi. Chẵng có gia đình, vợ chống con cái khôn ngoan nào lại đi phá căn nhà, dù là dột nát, hư hỏng của mình khi họ chưa có kế hoạch,khả năng và thực lực để xây căn nhà mới. Chỉ có những người bàng quang, coi thường cơm áo và hạnh phúc của những đứa trẻ trong nhà mới đòi phá bỏ căn nhà, và giả thiết là căn nhà mới sẽ đẹp hơn trong khi họ chưa xây dựng được đoàn thể, thực lực gì cả.
Vấn đề quan trọng theo tôi, chúng ta nên bỏ thì giờ năng lực để tìm cách xây dựng một đoàn thể có tính dân chủ, trong sáng ngay trong tổ chức của chúng ta. Nếu có được đoàn thể như vậy, thì chúng ta sẽ tạo được niềm tin của quần chúng trong nước. Việc kêu gọi đồng bào trong nước sẽ dễ dàng hơn.
Tôi đã tham dự nhiều đoàn thể “quốc gia”, “chống cộng” của ngưới Việt tại hải ngoại. Mỗi năm, họ bỏ ra một số tiền lớn, quy tụ hàng trăm ngưòi để biểu tình kêu gọi lật đổ chế độ, đòi hỏi dân chủ tự do cho Việt Nam. Bề ngoài rất đẹp, rất yêu nưóc. Những người tham dự ai cũng vui vì làm tròn bổn phận của ngưòi công dân có trách nhiệm đối với Việt Nam. Nhưng đi sâu vào tổ chức mang tên là Cộng Đồng, Đoàn thể cúa họ, tôi cảm thấy buồn man mác. Ban lãnh đạo cũng lem nhem về tiền bạc, làm việc có tính cách phe nhóm, móc ngoặc với nhau. Lãnh đạo chẳng có chủ trương sách lược mới mẻ gì cả, cứ theo đuờng lối “chống cộng” đã được vạch ra từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Ông Ngô Đình Diệm, hay đưòng lối “4 Không” của ông Nguyễn Văn Thiệu. Quần chúng người có lòng thỉ đóng góp, người thờ ơ thì nói xấu sau lưng. Chẵng có quần chúng nào biết rằng mình có nghĩa vụ phải tìm hiểu chuyện cộng đồng và mình phải đóng góp với lãnh đạo để đoàn thể tốt đẹp hơn.
Nếu cộng đồng, đoàn thể ở Hải Ngoại chúng ta chưa có dân chủ, còn lem nhem về tiền bạc thì ai sẽ lắng nghe những đòi hỏi dân chủ, tự do cho Việt Nam.
Viên đá nền tảng của nền dân chủ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là bản hiến pháp được thông qua cách đây hơn hai trăm năm. Biết bao giờ người Việt Nam chúng ta mới hiểu ra rằng: Muốn có một nền dân chủ, tự do, chúng ta cần có một bản hiến pháp rõ ràng, và chúng ta kiên quyết tôn trọng và thực hành bản hiến pháp đó. Nếu nguòi dân Việt Nam chúng ta không có thói quen tôn trọng luật pháp, thì chúng ta cần có một lực lưọng chính trị mạnh để lôi cuốn mọi người và các đảng phái khác đi theo con đuờng dân chủ pháp trị.
Bác Dương Danh Huy,
Như vậy thì rất rõ rệt, cảm ơn Bác đã nói rõ ràng hơn.
Nhưng sau khi đọc lại thật kỹ các phản hồi trên diễn đàn và đọc đi đọc lại bài của GS Lê Xuân Khoa, tôi xin rút lại những cảm nhận của tôi. Theo tôi Bác Hoà Nguyễn có lý: chúng ta phải “đánh” tích cực trên cả hai mặt: chống đối TQ một mặt thật tích cực và mặt kia, song song với việc chống đối TQ, tìm mọi cách giúp người dân VN thoát khỏi ách cai trị độc đoán của ĐCSVN.
Bác Tri Ngộ,
Cám ơn sự nhắc nhở, khuyến cáo và “chụp mũ” rất nhẹ nhàng, khéo léo mà cũng không kém phần “bắn mũi tên độc” của ông DDH (ông DDH cho tôi vào cùng phe với những người ủng hộ công hàm Phạm Văn Đồng)
Khi tôi nói
Tôi cho rằng không thể chấp nhận một con dao hai lưỡi nếu một trong hai lưỡi đó cắt đi lãnh thổ Việt Nam.
Cổ động cho một con dao hai lưỡi như thế không hơn gì ủng hộ Công hàm Phạm Văn Đồng.
thì những câu đó không có nghĩa, mà tôi cũng không có ý, cho bác vào cùng phe với những người ủng hộ Công hàm Phạm Văn Đồng.
Bác Trần Văn Tích,
Khác với ông Dương Danh Huy, tôi không sợ lưỡi dao Tri Ngộ. Tôi đã thấy lưỡi dao đó cắt ngang nước Pháp trong Đệ Nhị Thế Chiến. Tôi đã thấy lưỡi dao đó chém treo ngành Nam Triều Tiên. Cho nên tôi hy vọng ông Huy nghĩ lại và yên tâm. Pháp và Nam Triều Tiên cuối cùng rồi cũng bảo vệ được lãnh thổ.
Một đất nước bị chia đôi thì vẫn có thể thống nhất được. Thậm chí nếu TQ chiếm toàn bộ VN thì chúng ta vẫn có thể giành độc lập được. Nếu Đức chiếm một phần của Pháp thì Pháp có thể giành lại được.
Nhưng nếu TQ chỉ chiếm một số phần của Việt Nam thì khó giành lại lắm.
Vì vậy tôi thấy khó có thể yên tâm về đề nghị “Xin cứ để TQ tiếp tục chiếm biển Đông”.
Khác với ông Dương Danh Huy, tôi không sợ lưỡi dao Tri Ngộ. Tôi đã thấy lưỡi dao đó cắt ngang nước Pháp trong Đệ Nhị Thế Chiến. Tôi đã thấy lưỡi dao đó chém treo ngành Nam Triều Tiên. Cho nên tôi hy vọng ông Huy nghĩ lại và yên tâm. Pháp và Nam Triều Tiên cuối cùng rồi cũng bảo vệ được lãnh thổ.
Trong phần hai phản hồi của mình, ông Hoà Nguyễn kể thiếu một thành phần sẽ hết mình ủng hộ : đó là cộng đồng Việt Nam lưu vong, cũng còn được gọi là cộng đồng tỵ nạn Việt Nam. Ngoài ra xin ông vui lòng tìm cho chữ khác nhằm thay thế chữ “hủi” trong nhóm chữ “hai thằng hủi”. Phung, hủi, cùi chỉ là một thứ bệnh. Người bệnh không hề rước vi trùng gây bệnh vào cơ thể mình để rồi thắp hương vái lạy con vi trùng đó. Đành rằng có thành ngữ “dây với hủi, không dây với hủi” nhưng thiết nghĩ không phải thành ngữ nào cũng đáng dùng.
@ Dương Danh Huy
Cám ơn sự nhắc nhở, khuyến cáo và “chụp mũ” rất nhẹ nhàng, khéo léo mà cũng không kém phần “bắn mũi tên độc” của ông DDH (ông DDH cho tôi vào cùng phe với những người ủng hộ công hàm Phạm Văn Đồng). Nhưng tôi nghĩ ông cũng có lý do của ông và tôi không giận ông vì ông đã phang cho một câu nặng nề đó, tôi xem đây như một bài học cho tôi.
Dĩ nhiên là nếu để TQ đi xa quá thì có thể quá trễ và nước VN sẽ bị thiệt thòi khá nhiều và theo cái nhìn này thì ông DDH hoàn toàn có lý (DDH: bao giờ chúng ta mới lấy lại được).
Theo tình hình hiện nay thì việc lấy lại Hoàng Sa Trường Sa không phải dễ. Việc làm lại bản đồ biên giới Việt Trung cho công bằng hơn chưa chắc đã xảy ra trong thời gian tôi với ông còn sống trên quả đất này. Quân đội TQ rất hùng mạnh, có thể gọi họ là một cường quốc về sức mạnh quân đội và võ trang. Nhà cầm quyền VN nhu nhược và hèn yếu (mà nước VN hiện tại không có quân đội và võ trang đầy đủ để đối đầu với TQ). Ngày nào chế độ CS còn ở VN, việc chống đối TQ sẽ không thể xảy ra. Thêm vào đó dân trong nước bị bưng bít về tin tức và sự đoàn kết của dân tộc VN (từ trong nước cho đến hải ngoại) rất lỏng lẻo vì có tư duy khác biệt (Quốc Cộng, vết thương sau 1975 vẫn còn chưa được chữa lành). Nước VN còn hàng vạn vấn đề xã hội, an sinh và môi sinh chưa giải quyết được mà đó là chưa kể đến việc cai trị độc đoán thiếu tự do và dân chủ hiện tại gây ra rất nhiều khổ đau. Thanh niên trẻ ở VN thì số đông chỉ thích ăn chơi và nhậu nhẹt. Tóm tắt: cái dân tộc VN hùng mạnh ngày xưa đó có thể ngày nay không còn nữa, tâm não tê liệt vì những lý do vừa kể trên.
Mà dù cho cả 3 triệu người VN ở hải ngoại có làm thật giỏi theo những gì giáo sư LXK đề nghị, theo tôi cũng không đi đến đâu (mặc dù tôi hoàn toàn ủng hộ lòng yêu nước của giáo sư LXK). Nhưng tôi vẫn nghĩ là nếu đánh đổ được chủ nghĩa CS ở VN, cuộc chiến đấu giành lại lãnh thổ VN bị TQ cướp sẽ có nhiều điều kiện tốt hơn để thành công. Mà đánh đổ cái chủ nghĩa CS hiện nay tại VN rất khó và cái khó khăn này tương đương với sự chống đối của VN về những uy hiếp và cướp đất của TQ. Nhưng nếu chúng ta sốt sắng làm theo lời GS LXK và đi đến kết quả là TQ nhượng bộ (trả đất trả đảo v.v…), cái ĐCSVN và nhà cấm quyền độc tài đảng trị đó có thể sẽ vẫn đứng vững vì muốn đánh đổ họ chỉ có người dân trong nước mới đủ sức làm. Chính người dân trong nước là những người làm chủ vận mạng của quê hương mình. Và muốn đánh thức họ dậy (nhất là cho họ ra khỏi cái bưng bít của nhà cầm quyền VN), phải để cho họ được chạm trán và sống thật sự với với tình cảnh quê hương hiện nay trước dã tâm của người Hán. Việc làm của người Việt hải ngoại rất quan trọng nhưng việc làm của chúng ta có tính cách khai thị cho người dân trong nước nhiều hơn là việc vác ngà voi cho họ. Người Việt ở hải ngoại cần đoàn kết chặt chẽ hơn mà có thể nhờ vào những vụ cướp đất đai ấy bởi TQ mà chúng ta lại càng siết tay nhau mạnh hơn.
Và dĩ nhiên là có thể tôi hoàn toàn sai.
Có hai công việc hay mặt trận không thể bỏ ngỏ: bảo tồn lãnh thổ và xây dựng dân chủ cho Việt Nam. Trong tình thế hiện nay, phải làm cả hai việc quan trọng đó cùng một lúc, và hy vọng việc này sẽ tác động tốt lên việc kia.
Chống Trung Quốc đang từng bước âm mựu bành trướng và xâm lược VN ở nhiều mặt (lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hóa) là chính đáng, cần thiết phải làm, nếu không sẽ quá muộn, sẽ phải gánh chịu những hậu quả lâu dài cho dân tộc. Ngoài ra, chống TQ cũng tránh né đòn thù thẳng mặt từ phía nhóm lãnh đạo đang cúi đầu khuất phục và sẵn sàng nhượng bộ TQ vì sợ, vì quyền lợi riêng, hay vì bị ru ngủ bởi lời êm ngọt của Hồ Cẩm Đào: (VN và TQ) “lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan”. Giới lãnh đạo Đảng đã thấy khó, hay cũng phải ngượng khi giải tán, bắt giam những sinh viên, thanh niên, các bloggers phản đối TQ chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của VN, vì vậy họ tìm cách đàn áp bằng tạo ra những cớ quanh co, vô lý (như bắt Điếu Cày vì trốn thuế). Chống mưu đồ bành trướng của TQ ở Biển Đông còn làm lãnh đạo Đảng CSVN vốn thân TQ mất chính nghĩa trước nhân dân VN.
Mặt khác, nếu xóa bỏ được chế độc độc tài đảng trị ở VN, tách được VN ra khỏi vai trò nước phụ thuộc của TQ, và xây dựng thành một nước tự do dân chủ, lúc đó VN sẽ được sự tin tưởng và hợp tác chặt chẽ hơn của thế giới văn minh, tiến bộ, bắt đầu từ khối ASEAN, các nước Đông Á (với Nhật, Hàn), Nam Á (Ấn), Úc, Mỹ, Liên Âu. VN sẽ được sự ủng hộ của đông đảo các nước trên thề giới hơn hiện nay, kể cả tại diễn đàn LHQ, để có thế mạnh hơn trong đề nghị quốc tế hóa cuộc tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc. Lúc đó, cũng hy vọng VN sẽ được dư luận quốc tế ủng hộ nhiều hơn về chính trị và cả quân sự khi TQ làm liều sử dụng vũ lực ở Biển Đông. Trong hiện tình, nếu TQ đánh VN ở Biển Đông hay trên đất liền, chắc nhiều nước sẽ dửng dưng, khoanh tay, không lên tiếng, coi như chuyện riêng giữa hai anh em nhà nó, hay tệ hợn, giữa hai anh hủi.
Theo tôi sự thôn tính của Trung Quốc là một con dao hai lưỡi. Có thể chính nhờ nó mà lòng yêu nước của dân VN sẽ được khơi dậy. Có thể chính nhờ nó mà người dân trong nước sẽ thấy được sự bất tài và sự nhu nhược của nhà cấm quyền VN. Xin cứ để TQ bành trướng. Xin cứ để người Hán sang VN càng lúc càng đông. Xin cứ để TQ tiếp tục chiếm biển Đông.
Theo bác Tri Ngộ thì một trong hai lưỡi của con dao thôn tính của TQ sẽ góp phần cắt đi những gì bác ấy muốn cắt.
Nhưng lưỡi kia thì cắt đi lãnh thổ Việt Nam.
Mà nếu con dao thôn tính của TQ cắt đi lãnh thổ Việt Nam thì bao giờ chúng ta mới lấy lại được?
Tôi cho rằng không thể chấp nhận một con dao hai lưỡi nếu một trong hai lưỡi đó cắt đi lãnh thổ Việt Nam.
Cổ động cho một con dao hai lưỡi như thế không hơn gì ủng hộ Công hàm Phạm Văn Đồng.
Ông Trời vốn có tính tai quái. Ổng sinh ra nhiều hình thức độc tài toàn trị, quân phiệt phát xít theo nhiều kiểu khác nhau rồi mang tặng một số dân tộc. Chúng ta có kiểu Mussolini, kiểu Hitler, kiểu Franco, kiểu Staline, kiểu Honecker, kiểu Mao Trạch Đông, kiểu Gomulka, kiểu Castro, kiểu Ceausescu, kiểu Pinochet, kiểu Videla v.v..Thế rồi ổng lại sinh thêm một mớ những cộng đồng lưu vong; kiểu toàn trị, phát xít nào có cộng đồng lưu vong kiểu đó. Chẳng rõ trong quá khứ và trong hiện tại có chế độ toàn trị, phát xít nào đã sụp đổ vì các cộng đồng lưu vong, do nghĩ đến quyền lợi dân tộc trên hết (?), nên đã biết áp dụng những biện pháp tác giả Lê Xuân Khoa đề nghị hay không. Sao hồi Đệ Nhị Thế Chiến, mấy ông Tây như Saint Ex., Jean Renoir, Alain Bosquet v.v..không biết theo chiến lược Lê Xuân Khoa để đối phó với “hiểm họa” Đức quốc?
Tôi kính trọng bài viết của Giáo sư Lê Xuân Khoa. Lời kêu gọi của ông đặt quyền lợi đất đai lâu dài của dân tộc, hạnh phúc của người dân trong nước lên hàng đầu.
Phần góp ý của bạn Tri Ngộ có lẽ đặt mục tiêu lật đổ chính quyền trong nước lên cao nhất. Tất cả những gì để đạt đưọc mục tiêu này đều đưọc bạn Tri Ngộ ca ngợi. Bạn Tri Ngộ cảm thấy mừng khi thấy ngưòi Hán sang Việt Nam càng đông, khi thấy tàu lạ giết và cướp bóc ngư phủ Việt Nam.
Có lẽ chúng ta nên ý thức được khả năng có giới hạn của ngưòi Việt nước ngoài. Một ngày nào đó dân ta sẽ vận động đề có một chính quyền dân chủ hơn, thay thế chính quyền thối nát hiện nay, không sớm thì muộn. Nhưng đất nứớc mà mất về tay Trung Quốc rồi thì có lẽ còn lâu lắm chúng ta mới thu hồi lại được. Bạn Tri Ngộ có cách nào lấy lại Hoàng Sa, Tháp Bản Giốc từ tay Trung Quốc được không, tôi xin lắng nghe ý kiến của bạn.
Theo ý của tôi, chúng ta nên đặt ưu tiên bảo vệ quyền lợi đất nước của dân tộc mình trước. Tiến trình dân chủ hoá đất nưóc từ từ sẽ đến, không sớm thì muộn. Khi đại đa số con ngưòi Việt Nam trong nước thay đổi nhờ học hỏi tiếp xúc với bên ngoài thì dân chủ sẽ đến. Nếu chúng ta áp đặt một thể chế dân chủ lên một đất nước mà người dân hay người lãnh đạo không có tinh thần dân chủ thì thể chế đó cũng hư hỏng mà thôi.
Kính thưa giáo sư Lê Xuân Khoa,
tôi rất chân thành cám ơn bài viết của giáo sư vì những góp ý rất chân tình của giáo sư. Tuy nhiên tôi cũng có ý kiến như bạn Tri Ngộ. Mỗi tiếng nói cất lên về chính sách hiện hành của nhà nước XHCN Việt Nam đều là tâm tư, suy nghĩ, trăn trở của từng người dân cho dù sắc thái có khác nhau, nhưng đều hướng tới một tựu chung là sự thật và công lý.
Tôi rất phản đối sự nhu nhược và bất tài của nhà cầm quyền, vì mục đích bảo toàn chế độ mà bất chấp mọi giá, hy sinh cho đến từng người ngư dân ngoài biển khơi cho đến từng gốc cây, từng mét khối mỏ quặng tài nguyên đất nước, không coi trọng vinh nhục quốc gia và thể diện dân tộc. Nhưng đồng thời tôi cũng cho rằng, như bạn Tri Ngộ đã phát biểu, chính sự tung hoành của chính quyền Trung Quốc thao túng trên mặt trận chính sự của nhà nước XHCN Việt Nam là sự xúc tác như những quả bom nổ tung vào sự tăm tối u mê thâm cung cố đế của dân tộc Việt Nam trong nước, vốn qua nhiều đời phải chịu đựng cảnh làm kẻ bị nô lệ, bị đàn áp mà muôn đời vẫn không được hưởng sự tự do dân chủ vẹn toàn. Con giun bây giờ chỉ mới đang bị xéo, nhưng con giun vẫn còn đang ngoi ngóp thở, phải chăng ngừng xéo chút ít thì con giun lại thở phào và chờ đợi trong ý thức rằng mình sẽ cầm cố đến giây phút tiếp tục bị xéo nữa. Sự chịu đựng gian khổ lâu quá, dàn trải qua nhiều thời kỳ lịch sử quá, và nó khiến người dân mẫn cảm với những sự đàn áp tiếp theo, và sự cam phận với số phận giúp họ thêm khả năng chịu đựng cái gian khổ, và tạo cơ hội cho các ác tiếp tục hoành hành. Thà một phút huy hoàng để mở ra một trang sử khác cho dân tộc, còn hơn le lói suốt trăm năm trong kiếp nô lệ ngàn đời, từ thời các vua Hùng dựng nước cho đến thế kỷ 21 này.
Hôm nay tôi vừa xem một vài tập trong phần 1 của phim “lập trình trái tim” trên mạng tỏng một trang web xem phim online của người Việt, tôi thấy cảnh nhân vật Vũ Vũ ngồi khóc rưng rức khi bị tình địch cướp mất người yêu, đau khổ ko biết làm gì , bất lực đến nỗi bỏ cả việc để mà ngồi khóc. Người tốt khi gặp rắc rối thì chỉ biết ngồi than vãn, tự kỷ, chẳng biết làm gì để vượt qua khó khăn rắc rối trong cuộc sống. Người ác khi gặp khó khăn thì ngồi bày mưu tính kế để đối phó lại đối phương, kẻ mà theo họ là đã gây hại cho mình. Qua đây nói lên điều gì: đã vấp ngã mà không gượng dậy để bắt đầu lại,phấn đấu tiếp để xây dựng lên cái mới, chỉ biết ngồi khóc lóc đau khổ thì bị thua cũng là đáng lắm. Hầu hết phim Việt Nam đều có nội dung gần như vậy, để đến cuối phim phép lạ xảy ra.
Đây là tư duy cổ hủ và chậm tiến có hệ thống. Từ truyền thống của nàng Tấm trong truyện Tấm Cám, nhân dân Việt Nam đã được dạy từ nhỏ cách tư duy thiển cận này. Khi gặp khó khăn thì ngồi khóc và để một nhân vật thần thánh là Bụt hiện ra để ban phép lạ, cứu rỗi khỏi số phận nghiệt ngã. Hỡi ôi! Đời đâu phải truyện cổ tích , và tương lai của con người đâu phải phụ thuộc vào phép lạ thần thông nào.
Muốn mở mắt ra hoặc không muốn chịu đựng khó khăn trong nước mắt nữa, hay còn có thể gọi sự chịu đựng khó khăn chịu đựng bất công của người Việt Nam trong nước theo một cách khác nữa là tính ỉ lại trông chờ vào phép lạ trước khó khăn của người Việt là quyền được khôn ai cũng có, nhưng không phải ai cũng có nhận thức đủ để nắm giữ nó làm của riêng cho mình.
@ Giáo Sư Lê Xuân Khoa
Kính thưa giáo sư,
Cảm ơn giáo sư đã viết cho một bài rất quý báu.
Theo tôi mình không nên sốt sắng quá như thế, vì mình càng làm theo lời giáo sư nói, mình càng giúp ĐCSVN đứng vững thêm. Thật thế nếu mình “đẩy lui” được sự thôn tính của Trung Quốc qua những phương cách giáo sư chỉ dẫn, ĐCSVN sẽ mãi mãi sống còn.
Theo tôi mình chỉ nên tiếp tục đưa tiếng nói yêu nước của mình lên, nói lên tất cả những bất công về sự cai trị độc đoán và bất tài của Đảng và nhà nước và để tự dân Việt trong nước vùng lên làm một cuộc cách mạng thật sự : cách mạng hữu sản với mục đích mưu cầu hạnh phúc và phục hồi những quyền tự do căn bản cho người dân (dân sinh và dân quyền để mượn hai chữ thường được giáo sư dùng).
Theo tôi sự thôn tính của Trung Quốc là một con dao hai lưỡi. Có thể chính nhờ nó mà lòng yêu nước của dân VN sẽ được khơi dậy. Có thể chính nhờ nó mà người dân trong nước sẽ thấy được sự bất tài và sự nhu nhược của nhà cấm quyền VN. Xin cứ để TQ bành trướng. Xin cứ để người Hán sang VN càng lúc càng đông. Xin cứ để TQ tiếp tục chiếm biển Đông. Xin cứ để những tàu lạ và những kẻ lạ này dùng vũ khí uy hiếp ngư dân VN. Đây là một cơ hội lớn cho dân tộc VN thức tỉnh.