Phong Uyên – Không gì vui thú bằng đầu năm được tiếp tục bàn về triết học và đạo giáo
27/02/2010 | 2:30 sáng | 5 Comments
Category: Tôn giáo, Tư tưởng
Thẻ: Phật giáo
1. Tôi xin nói thêm một chút với ông Nguyễn Việt Thanh về Trần Đức Thảo
Với trình độ triết học không quá bằng Tú tài lượm ở Sorbonne, tôi hoàn toàn không đủ khả năng để phân định thắng thua giữa Trần Đức Thảo và Sartre mà chỉ dám kể lại những gì báo chí Pháp nói về những cuộc tranh luận, trước tiên là giữa Trần Đức Thảo và Kojève về Hiện tượng học tinh thần của Hégel, sau đó là giữa Sartre và Trần Đức Thảo cũng về Hiện tượng học. Theo báo chí Pháp thì Trần Đức Thảo đưa nhiều lí lẽ thuyết phục hơn, và “thắng cuộc” phải được hiểu theo nghĩa đó. Tôi nói về học trình của Trần Đức Thảo là có ý để các bạn biết thêm về cuộc đời của triết gia này chứ không phải để coi Trần Đức Thảo và Sartre như 2 anh học trò lớp 12 tranh nhau đứng nhất nhì. Tôi xin nhắc lại câu tôi nói không có gì là quá đáng cả: “Triết học Pháp sau Thế chiến thứ Hai sở dĩ nổi tiếng hơn Triết học Đức là vì biết pha hoà Hiện tượng học Đức với tư tưởng Marxiste. Trần Đức Thảo là nhân vật chính trong sự pha trộn này làm Sartre mất độc quyền (Sartre pha hoà Thuyết Hiện sinh của Kierkegaard, Karl Jaspers, Heidegger vói Marx). Vì vậy mà Sartre ghen ghét…” Đọc bài “Một kiếp người” của Trần Đạo nói về cuộc phỏng vấn Trần Đức Thảo (chắc chắn là trong thời kỳ Trần Đức Thảo còn ở bên nhà), bạn đọc không thể nào không ngậm ngùi cho số phận “nàng Kiều” của Trần Đức Thảo. Và chắc chắn là những “trước tác” mà Trần Đạo hỏi đến là những trước tác “máy móc” được chỉ đạo, được còm măng, (ông khoát tay như muốn gạt chúng đi), chứ không phải những trước tác khi còn ở Pháp, nổi tiếng trên thế giới.
Tôi cũng xin kể sơ lại những ghi nhận về Trần Đức Thảo của nhà văn Pháp F. Marmande trong cuốn La mémoire d’un chien (Trí nhớ của một con chó) về buổi họp báo của Trần Đức Thảo khi trở lại Pháp (1992): “Cả hội trường đầy nghẹt người. Trần Đức Thảo nhà triết học thân cận Sartre và Merleau Ponty, nhà normalien (từ được dùng thông thường để chỉ những ai tốt nghiệp Sư phạm Ulm) lỗi lạc mới thoát khỏi Việt Nam sau một thời gian dài bị quản thúc. …viết trên bảng 11 điểm trong lí thuyết Lêninít (theo nghĩa Marxiste chứ không phải nghĩa Mácxít-Lêninít) mà các nhà cầm quyền Việt Nam đã không đếm xỉa đến nên đã đưa họ tới thất bại…” Cần phải hiểu là ngoài vụ Nhân Văn, con “rắn độc” Trần Đức Thảo sở dĩ bị đày đọa là vì đã dám nói lí thuyết Mácxít chỉ đầy đủ khi “cá nhân giai cấp” (Klassenindividuum) được hoà tan vào trong “cá nhân nhân cách” (persönliches Individuum). Triết lí của Trần Đức Thảo là như vậy: nằm ở khoảng nào giữa Học thuyết nhân bản (chứ không phải độc tài vô sản Stalinít) của Marx và Hiện tượng luận của Husserl.
Chắc chắn là các bạn cũng như tôi, không thể không nghĩ trường hợp Trần Đức Thảo là một phí phạm, cũng như bao nhiêu phí phạm khác mà dân tộc Việt Nam vẫn phải tiếp tục trả nợ từ 65 năm nay.
2. Trở về Phật giáo có lẽ vui hơn. Nhưng nghĩ lại, chưa chắc gì đã vui hơn, vì sự hiểu về Phật giáo cũng vẫn là cách hiểu theo chữ nghĩa Tàu.
Tôi xin bắt đầu bằng những khái niệm tiếng Hán trong kinh Duyên Khởi được Hoà Nguyễn giảng giải từ tiếng Phạn.
Vô tình Hoà Nguyễn đã mặc nhiên công nhận sự nhận xét của tôi là đúng khi tôi nói dịch những từ đa tiết tiếng Sanskrit, ra những từ đơn tiết tiếng Hán rất khó chính xác nên mỗi người hiểu một cách.
Trong một Từ Ấn- Âu đa tiết nghĩa gốc nằm trong căn tố. Lấy căn tố đó ghép với một tiền tố (prefix) hay một tiếp tố (suffix), có thể tạo ra những Từ mới mà muốn hiểu nghĩa phải phân tách ra để tìm lại căn tố. Lấy lại thí dụ của Hoà Nguyễn về Từ Avidya gồm prefix A ghép với căn tố Vidya (vision trong tiếng Âu): Hán ngữ đơn tiết không có prefix nên phải lấy Từ “Vô” để dịch prefix “A” để cạnh Từ “Minh”. Nhưng “Vô” hơi khác nghĩa với “A” nên dịch Avidya là Vô Minh thì đúng chữ mà không đúng nghĩa. Hậu quả là Vô minh được hiểu theo nhiều kiểu khác nhau: theo kiểu Tàu như ông bạn Hồ Trung Tú là khi chưa có Minh. Như ông bạn Hoà Nguyễn, dịch đúng nghĩa tiếng Phạn là có Minh nhưng Minh bị che lấp nên không thấy. Ông bạn Kim Sinh lại có ý kiến là Vô Minh có thể hiểu theo nghĩa Inconscient (không phải Inconscience) của Freud, tầng sâu nhất của “thức” được “ngụy trang” khi biểu hiện ở tầng Tiềm thức. Nghĩa nào cũng đúng cả tùy theo lập trường của mỗi người chứ không còn là nghĩa nguyên thủy của Vô Minh trong Kinh chữ Phạn nữa. Lấy một thí dụ khác trong tiếng Âu như Amoral và Immoral có 2 prefix khác nhau là “A” và “Im”: Hán ngữ dịch là Vô luân rồi lại phải giải thích tùy theo mỗi người hay tùy theo mỗi trường hợp “A “= “Vô” = không có luân lí (amoral), hay “A”= “Vô”= biết có luân lí mà làm trái ngược với luân lí (immoral). Người Âu phân biệt ngay Amoral khác với Immoral chỗ nào khi thấy 2 prefix khác nhau. Đó cũng là câu tôi trả lời bác Kim Sinh về cái “phức tạp” của tôi khi phải bàn về “Vô thức” theo Thập Nhị Nhân duyên của Tàu hay theo Pratityasamutpada của tiếng Phạn. Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với Hoà Nguyễn là phải dịch thẳng Kinh luận Phật từ tiếng Phạn ra tiếng Việt và chỉ phiên âm những từ tiếng Phạn như Prajna ra Bát Nhã, Avidya ra Aviđia chẳng hạn rồi phân tách ra để giảng bằng tiếng Việt chứ đừng lấy những bản dịch cũ rích của 2-3 nhà Sư Tàu từ đời Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh có khỉ Tôn Ngộ Không đi theo phò tá, dịch ra tiếng Việt nữa.
Tôi cũng vô cùng tâm đắc với ông bạn Lê Quốc Trinh về những versions của Tàu đã cả nghìn năm đầu độc ta về đạo giáo, về tín ngưỡng, và nay về chính trị. Chỉ riêng cái từ Prolétarius của Marx dịch thành “Vô sản” của Mao cũng đã đủ làm cả triệu người chết rồi. Tôi đã hơn một lần nói “dịch (hán) là cái hoạ”[1].
3. Sau hết tôi xin trở lại với bạn Hồ Trung Tú về bài “Bàn tiếp về vô minh”
1) Con người có thể đã biết suy nghĩ từ khi là con người (Homo sapiens 200 000 -300 000 năm). Nhưng chỉ có thể biểu lộ được sự suy nghĩ của mình và để lại bằng chứng khi phát minh ra chữ viết khoảng chừng 5 ngàn năm. Có người cho là những hình vẽ trong hang đá cách đây khoảng 25-30 ngàn năm cũng là một cách biểu lộ sự biết suy nghĩ.
2) Tất nhiên là con người phải có ý thức (theo nghĩa khoa học nghĩa là biết phân biệt mình với ngoại vật) mới có thể biết suy nghĩ. Đối với các đạo giáo và triết học duy tâm, ý thức là biểu hiện của linh hồn trong cuộc sống. Đối với khoa học, phải chứng minh được là Ý thức có đời sống độc lập với bộ não (nghĩa là khi bộ não chết, ý thức vẫn tiếp tục sống) mới có thể kết luận là có tinh thần (hay linh hồn) được. Cũng như là phải chứng minh cho một đứa con nít là những hình ảnh trên máy truyền hình không phải là máy làm ra mà là những hình từ nơi khác đến, máy chỉ truyền lại thôi. Những kinh nghiệm cận tử đang được thâu thập và thử nghiệm trong một số trung tâm Y khoa trên thế giới là nhằm mục đích đó.
3) Tôi xin nhắc lại một lần nữa là cái “ý thức” mà Trần Đức Thảo phải truy tìm chỉ là đơn đặt hàng. Bắt một triết gia phải khẳng định một điều mà cho tới nay 55 năm sau, mặc dầu có sự tiến bộ thần tốc của y khoa cứ 10 năm là những hiểu biết của mình lại trở thành zéro, chưa một trung tâm nghiên cứu bật nhất trên thế giới nào dám khẳng định là “ý thức là do bộ não đẻ ra và sẽ biến mất khi bộ não chết”. Ông Nguyễn Việt Thanh nhắc lại câu Trần Đạo “Ông (Trần Đức Thảo) khoát tay như muốn gạt chúng đi”, đủ nói lên sự đau đớn và chán chường của Trần Đức Thảo khi phải làm chuyện đó.
4) Tôi cũng xin nhắc lại là MRI không thể nào cho ta biết vì sao con gái thích màu hồng, tại sao tôi sợ ma và tôi là đàn ông mà lại thích đi bát phố mua sắm… Cái đó phải hỏi các nhà phân tâm học, và các nhà xã hội tâm lí học chứ không một bác sĩ điện quang học nào biết được. Tôi cũng xin nhắc lại là bản năng (instincts) của con vật giàu hơn, tinh tế hơn, mạnh hơn của con người nhiều; nhất là bản năng tự tồn (instinct de conservation). Để đền bù lại con người có 2 khả năng mà con vật không có là Trí năng (Intelligence) và Trực giác (Intuition). Các vị chân tu có trực giác phi thường nên dễ đi đến Trực ngộ và Giác ngộ chứ không như chúng mình, chỉ đem lí trí ra mà suy luận dông dài.
5) Tôi cũng xin không nhắc lại Kinh Mười hai nhân duyên nữa vì bản Kinh cổ xưa nhất (nghĩa là gần Đức Phật nhất) chỉ có 8 mối tương quan và tôi cũng không trở lại Đại thừa và Tiểu thừa (danh từ này không còn nữa và được thay thế bằng Từ Nguyên thủy, Từ duy nhất được quốc tế công nhận và có nghĩa là gần khi Phật còn sinh tiền nhất). Tôi cũng xin nói thêm là tuyệt đại đa số những nước và những người theo Phật giáo (chừng 500 triệu người) là theo đạo Phật nguyên thủy. Đạo Phật Đại thừa kiểu Trung Quốc đã mai một, vị sư cuối cùng là Thiền sư Hư Vân bị Hồng vệ binh hành hạ, tra tấn, khảo của, đã chết từ đời tám hoánh, và các “đồ đệ” lấy danh ông đang làm giàu ở mọi nơi trên thế giới kể cả ở Việt Nam. Những cái trò mãi võ “Thiếu lâm” Tàu chỉ là cách kiếm tiền, làm phim, làm ô danh Phật giáo được cộng sản Trung Quốc bày ra để ngăn chặn sự bành trướng của giáo phái Pháp Luân Công.
Về Phật giáo ở Tây Âu, tôi có thể tóm tắt: Đạo Phật Tây Tạng được nói tới nhiều nhất và các nhà sư Tây Tạng giảng thuyết và ra sách nhiều nhất. Sau là Zen Nhật Bản chú trọng vào lối sống nhiều hơn là giáo lí. Vị thiền sư Việt Nam được nhiều người biết tiếng và có nhiều đồ đệ người Âu với Làng Mai của ông là Thiền sư Thích Nhất Hạnh với cách giảng Thiền hợp với người Tây phương hơn và có quan điểm dung hoà mang ít tính Đại thừa Trung Quốc.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
[1] Phong Uyên, “Dịch là cái họa”. talawas, 17-2-06.
Bình luận
5 Comments (bài “Phong Uyên – Không gì vui thú bằng đầu năm được tiếp tục bàn về triết học và đạo giáo”)
Vài góp ý về Vô Minh.
– Vô minh theo tôi hiểu không phải hoàn toàn là không có hiểu biết. Vô minh và Minh giống như ánh sáng và bóng tối, không có ranh giới rõ rệt. Vì vậy mà con đường tu Phật có nhiều cấp bậc, ví dụ Thanh Văn, Duyên Giác, A La Hán,… tuỳ theo bao nhiêu Vô Minh đã được giải tỏa.
Ý thức (thức thứ 6) và ngôn ngữ tuy là yếu tố góp phần phát triển văn minh nhân loại, nhưng Phật giáo đã xếp ý thức và ngôn ngữ vào phạm trù Vô Minh, cho nên phần chánh pháp thực sự dẫn dắt con người giải ô nhiễm từ Vô Minh không phải là phần ‘có lời’ mà lại là phần pháp thực hành ‘không lời’ ví dụ như Sổ Tức, Mật Chú, Trực Chỉ Tâm truyền Tâm, Diện Bích, Quán Đảnh,…
– Hơn nữa, ý thức là thành phần của Lục Căn Lục Trần, thường được người tu gọi là ma chướng. Cho nên Duy Vật Biện Chứng Pháp (DVBCP) tuy có một thời được xem là linh hồn của Cách Mạng, được nhiều người tôn sùng là có khả năng giải phóng, giải thoát cho nhân loại khỏi khổ nạn của bất công xã hội, nhưng dưới ánh sáng của Phật Pháp thì DVBCP chỉ là ma chướng chứ không có khả năng giải khổ vì nó đến từ ý thức và lý luận phân biệt. Thực vậy kết quả sự áp dụng của DVBCP đã mang đến khổ đau cho một phần lớn nhân loại.
Tuy gọi là ma chướng nhưng đạo Phật không hoàn toàn phủ nhận khả năng của ý thức, mà chỉ cố gắng chỉ ra khả năng giới hạn của nó trong hành trình thoát khổ.
Tôi thực sự muốn nghe các bạn Nam tông tranh cãi cái lập luận lạ thường ấy về sự tồn tại có lý về mặt logic của Bắc Tông, Thiền Tông .
Cảm ơn huynh Hòa Nguyễn về thông tin ngắn gọn các lần kiết tập kinh điển. Và qua đó tôi xin có thêm chút ý về đại thừa và tiểu thừa.
Giáo lý dức Phật thuyết giảng trong suốt 49 năm, nếu chỉ có duy nhất “một chân lý” về thực tướng vô ngã của vạn pháp (vạn vật)thì quả thật, chỉ với các kinh sách của Nam tông hiện nay là đủ. Và nó hoàn toàn thuộc về nhận thức, dùng ý thức của con người để nhận thức đầy đủ sự thật này.
Thế nhưng, nếu như, Phật thực sự thuyết giảng điều gì đó không thể dùng nhận thức để hiểu, điều gì đó phải lìa tất cả tri kiến mới có thể “Thể nhập” thì chắc chắn số người tiếp nhận được lời giảng này là số ít trong số các tu sĩ dự kiết tập cả 3 lần.
Rất may rằng cái số ít ấy, có lúc chỉ còn một người, nhưng pháp vẫn được lưu truyền và sau cùng đã tìm được đất sống nhờ sự đi về phương Đông của Bồ Đề Đạt Ma.
Vì vậy, như ngài Huệ Năng nói, người có nam có bắc nhưng Phật tánh không có nam có bắc, xem Phật giáo đại thừa là sản phẩm của Trung Hoa bá quyền tôi nghĩ là bị nhiều định kiến chính trị tác động, điều đó thực sự không cần thiết theo tinh thần Phật giáo.
Ông Phong Uyên viết: “Tôi cũng xin không nhắc lại Kinh Mười hai nhân duyên nữa vì bản Kinh cổ xưa nhất (nghĩa là gần Đức Phật nhất) chỉ có 8 mối tương quan và tôi cũng không trở lại Đại thừa và Tiểu thừa (danh từ này không còn nữa và được thay thế bằng Từ Nguyên thủy,”.
Trước hết, xin nhắc lại trong bài trước ông Phong Uyên cho “từ ngữ Duyên khởi không dịch đúng nghĩa tiếng Phạn Pratityasamutpada: Không có gì khởi và sinh cả, tất cả đều ràng buộc với nhau đều phụ thuộc nhau, không có thứ tự trước sau”.
Khởi ở đây không có nghĩa khởi đầu, mà là dấy lên. Tra từ điển Shambhala thấy ghi ” Pratityasamutpada (Skt, lit.”conditioning arising” or ” independent arising” “.. Tra Wikipedia thấy dịch là ” “dependent co-arising”, “interdependent arising”. Cho nên nhà sư Trung Quốc nào dịch là Duyên Khởi (với ý arising) thì sát nghĩa lắm (cũng có khi người dịch không phải sư TQ, mà là một “Hồ tăng” thông thạo chữ Hán).
Về thuyết Duyên Khởi không nhất thiết phải có 12 Nhân Duyên, kinh sách Phật cũng ghi chép lại , và giải thích nguyên nhân. Trong Đại Tỳ Bà Sa luận cuốn thứ 24 (theo tác giả Nhật Kimura Taiken trong quyển “Phât giáo Tư Tưởng luận” do Thích Quảng Độ dịch), Phật đã trình bày thuyết Duyên Khởi khác nhau trong nhiều kinh, ở nhiều trường hợp (chỉ chép lại một vài trường hợp):
_ 7 Duyên Khởi : Vô Minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục xứ, Xúc, Thọ
_ 8 Duyên Khởi : Thức, Danh Sắc, Lục xứ, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu
– 9 Duyên Khởi: Thức, Danh Sắc, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão Tử (trong kinh Đại Nguyện, Trường Bộ III)
-10 Duyên Khởi :Thức, Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão Tử (kinh Thành Dụ, A Hàm, và kinh Đại Bổn, Trường Bộ kinh III).
Các nhà Phật học giải thích có thể do (kinh chép) thiếu sót, hoặc có thể do (Thich Ca) trình bày thu gọn. Dù sao, chúng ta thấy Vô Minh không luôn luôn phải có , cả Sinh, Lão Tử cũng vậy.
Chuyện kinh ghi thiếu sót cũng dễ hiểu, vì kinh chỉ được ghi chép nhiều trăm năm sau khi Phật diệt độ, và do nhiều người tụng đọc theo trí nhớ. Nhân có lần ông Phong Uyên viết Phật gíáo Đại Thừa có sau Tiểu Thừa 1500 năm (ghi nhầm chăng), nên tôi nhân dịp làm sáng tỏ cả chuyện này.
Theo tài liệu phổ thông Thích Ca Mâu ni, sinh năm 563 trước Công nguyên (TCN), và theo truyền thuyết ngài nhập diệt lúc 80 tuổi, tức năm 483 trước CN.
Ngay trong năm đó, 500 tỳ kheo triệu tập cuộc kết tập lần thứ nhất tại thành Vương Xá, hiệp tụng những lời Thích Ca dạy, dưới sự chủ toạ của Ma Ha Ca Diếp và người tụng pháp là ngài A Nan. Lần kết tập này kéo dài bảy tháng, nội dung là kinh điển A-Hàm, nhưng chưa chép thành văn bản.
Cuộc kết tập lần thứ hai khoảng 100 năm sau tại thành Phệ Xá lỵ (Vesaly), do trưởng lão Da Xá (Yasa) chủ trì với 700 tỳ kheo tham dự, tiến hành thảo luận trong tám tháng. Kết quả giáo đoàn Phật giáo phân liệt thành Thượng Toạ bộ (Theraveda) và Đại chúng bộ (Mahasamghika), do không đồng ý chủ yếu về giới hạnh (giữa quan điểm khổ hạnh và khoan dung). nhưng cũng có bất đồng về giáo lý.
Khoảng hơn 100 năm nữa, kết tập lần thứ ba được triệu tập do sáng kiến của vua A Dục (Asoka). Một ngàn tỳ kheo họp tại thành Hoa Thị (Pataliputra) trong 9 tháng.dưới chủ tọa của Mục Kiều Liên Tử Đế Tu. Chủ đề kết tập là phê phán ngoại đạo. Kinh Phật vẫn chưa thành văn. Sau lần kết tập này, Phật giáo truyền qua Tích Lan (Sri Lanka), khoảng năm 250 TCN.
Trong khoảng từ thế kỷ thứ 3 trước CN đến thế kỷ 2 sau CN, tức khoảng 500 năm, là thời đại Phật giáo Bộ Phái.
Kết tập lần thứ tư do vua Ca Nhị Sắc Ca (Kaniska) khởi xướng, Thế Hữu (Vasumitra) chủ trì, tại Ca Thấp Di la (nay thuôc Kashmir). vào thế kỷ I hoặc II CN. ( thời vua Kaniska khoảng năm 78-120 hay 144-170). Đây là lần đầu tiên có văn bản kinh Phật.
Theo tài liệu của Nam Tông, một vua nước Sri Lanka, ở ngôi năm 103 hay 88-77 trước CN, triệu tập 500 tỳ kheo đọc tụng Kinh, Luật , Tạng và hình thành văn bản Pali của Tam Tạng.
Đại Thừa ra đời phải trước ngài Long Thọ (Nagarjuna, sống khoảng 150- 250 CN), là tác giả Trung Quán Luận của Không tông Đại Thừa. nhưng trước Long Thọ, Đại Thừa đã có bộ kinh Bát Nhã, trình bày tư tưởng Không, và “Chân Không Diệu Hữu”, tư tưởng căn bản của Đại Thừa. Khuynh hướng tín ngưỡng Cực Lạc Tịnh Độ cũng có vào thời Long Thọ.
Nếu cho Tiểu Thừa có từ khi Phật giáo truyền đến Tích Lan, thì Tiểu Thừa thành hình trước Đại Thừa hơn 400 năm. Còn nếu cho Phật giáo Nguyên thủy từ thời Thích Ca là Tiểu Thừa (điều này thật sự không đúng, vì Tiểu Thừa là sự phát triển của Phật giáo Nguyên thủy) , Đại Thừa thành hình sau đó khoảng hơn 600 năm.
fMRI (http://en.wikipedia.org/wiki/Functional_magnetic_resonance_imaging)
Nhờ kỹ thuật trên đưa tới một số khái niệm như brain mapping … Nhưng kết quả cụ thể vẫn chưa có vì quá mới . Đang trong giai đoạn quan sát (observation).
Đọc Trần Đức Thảo nảy sinh một số vướng mắc . Nhìn qua, hình như TDT bỏ qua tính quan trọng của logic, và bảo là xã hội vận động theo mâu thuẫn . Theo tôi thì mâu thuẫn và nghịch lý có một sự khác nhau không rõ rệt lắm, nhưng cũng đủ để gọi là khác nhau . Theo Watzlawick, nghịch lý xảy ra khi thực tế vượt qua giới hạn của một hệ thống giải thích nào đó . Và phần lớn những khủng hoảng trên thế giới đều có điểm xuất phát chung từ những nghịch lý . Như vậy xem nhẹ nghịch lý không phải là cách nhìn tốt nhất . Chính vì vậy, việc TDT dùng tư tưởng nguyên bản của hay bắt đầu từ Hegel để biện hộ cho Marxism hơi không được ổn theo kiến thức hạn hẹp của tôi nếu ta biết rõ Marxism xuất xứ từ Hegel. Những phần tối nghĩa nhất của Marx như Grundisse hoặc German Ideologue … nếu không đọc lại Hegel của Phenomenology và Philosophy of History (bản thân tôi) chưa chắc hiểu rõ được những phần đó nói gì . Theo tôi, phải đọc thêm cả Leibniz, Pascal và Descartes mới gọi là vỡ ra . Khốn khổ cái thân tôi, là sau khi hiểu ra, y như một câu nói thông dụng ở VN “Hiểu chết liền”.
Với một tuyến tính như vậy, tôi e về mặt logic không ổn lắm nếu lấy Hegel đem ra chứng minh rằng Marx đúng, và nếu làm như vậy, tôi không nghĩ TDT sẽ gặp một khó khăn nào .
Đông La đã chứng minh có 2 Marxes, một ông đúng và một ông sai . Muốn chứng minh Marx đúng, chỉ cần chứng minh Marx kia sai . Giờ chỉ thiếu đem Marxism ra để chứng minh Marxism đúng .
Hồi xưa chỗ tôi làm việc có 1 anh chàng giờ nghỉ lúc nào cũng có 2 cuốn Kinh Thánh trước mặt . Tôi hỏi mục đích cuốn thứ 2 để làm gì, câu trả lời là “Để tham chiếu”. Chân lý kiểu này chắc như bắp, còn sai vào đâu được nữa . Như ông Trịnh Hữu Tuệ đã chỉ ra trong một cuộc tranh luận, một lý luận không thể sai .
Tôi không nghĩ triết học Pháp khá hơn vì khi Pháp bắt đầu tiếp thu Marxism, triết học Đức và Áo đã bắt đầu chuyển sang hướng khác, xây dựng trên nền tảng của Freud và Jung. Còn Marx, hình như đã bỏ qua lâu lắm rồi .