talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (5)

02/03/2010 | 3:50 chiều | 3 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Đời sống
Thẻ:

Xem các kỳ 1, 2, 3 và 4

Theo quy định của chính phủ Anh, những người tỵ nạn Việt Nam định cư trên 5 năm, không vi phạm pháp luật, không có tiền sự tiền án đều có quyền nhập quốc tịch. Chính vì thế, từ năm 1986 chúng tôi ồ ạt làm đơn xin nhập tịch. Thời kỳ ấy, người tỵ nạn Việt Nam nhập tịch thật dễ, từ 18 tuổi trở lên, điền form, kèm theo hồ sơ của LHQ cấp ở Hong Kong (United Kingdom Visa). Ngoài ra, chính phủ Anh không đòi hỏi bất cứ giấy tờ nào, kể cả giấy “từ bỏ” quốc tịch Việt Nam, chỉ cần ký xác nhận lời khai trong form đúng Sự Thật. Đợi từ 3 đến 6 tháng, nếu hội đủ điều kiện, Bộ Nội vụ gửi giấy đi tuyên thệ. Chúng tôi có thể đến văn phòng luật sư hay nhà thờ để tuyên thệ, lệ phí rất tượng trưng (vợ chồng tôi chỉ phải trả £5 bảng cho văn phòng luật sư gần nhà). Có lẽ số người nhập tịch đông, gia đình tôi phải đợi thêm gần 6 tháng mới có quyết định của Bộ Nội vụ được nhập tịch (Certificate of registration as a British Citizen). Mừng lắm, từ nay chúng tôi đã là công dân chính thức, là thần dân của Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị, có đất nước để tự coi đó là tổ quốc thứ 3 sau những năm tháng tha phương. Cũng từ nay, chúng tôi, các con các cháu tôi sau này có thể tự hào, mình là người Anh gốc Việt như những người Anh sắc tộc khác, định cư tại Vương quốc Anh, hưởng quyền lợi và nghĩa vụ như người dân bản xứ.

Sau 4 tuần điền form gửi đi, chúng tôi nhận được passport (United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland Passport). Hồi ấy, passport màu đen, tên tuổi, nơi sinh… đều viết tay, có giá trị 10 năm. Những lần đổi sau, passport có màu đỏ, nhỏ gọn, người Việt (rơm) gọi là sổ đỏ, phân biệt với Travel Document hay passport Việt Nam màu xanh (sổ xanh).

Trong tay có passport, các bà vợ người Việt gốc Hoa bắt đầu nghĩ chuyện về thăm thân nhân. Thời bấy giờ, đường bay từ Anh về Việt Nam rất nhiêu khê. Việt Nam vẫn trong tình trạng bị bao vây kinh tế, chưa bang giao với các nước ASEAN nên không có hãng hàng không Thái (Thai Airway) hay Singapore… bay sang Việt Nam, muốn về, buộc phải qua các nước cộng sản Đông Ấu hoặc Liên Xô, chuyến bay nghỉ nhiều chặng, từ phi trường Heathrow về Nội Bài khoảng 20 đến 24 giờ bay, rất mệt.

Hãng hàng không Aeroflot (Liên Xô) giá khá rẻ so với các hãng Tiệp Khắc. Chị H. than, chỉ vì tham rẻ (£450 bảng/return ticket, hãng Tiệp £650 đến £700) mà thấy dại. Của rẻ là của ôi, chị bảo:

“Nhân viên hàng không Aeroflot kiểm tra passport của khách xong, ném ngay vào thùng, không trao tận tay cho khách.”

“Máy bay rất xóc.”

“Nghỉ quá nhiều chặng.”

“Thái độ phục vụ và bữa ăn rất kém.”

“Có cầu tất có cung”, khi số người muốn về Việt Nam tăng lên, dịch vụ bán vé máy bay, xin visa bắt đầu hoạt động. Nhiều người làm dịch vụ này, nhưng chỉ có hai gia đình làm ăn có uy tín nên đông khách. Đó là anh chị L.Ph, mấy năm đầu, anh chị mở dịch vụ tại nhà, Acton Town, South West London, sau này trở thành East-West Travel. Năm 2004, anh làm đại diện cho Vietnam Airlines, Vương quốc Anh, ở Hammersmith, London. Dịch vụ của chị Ng.Th. B. lại khác, chị đến tận nhà phục vụ, theo đường điện thoại. Tuy vậy nhiều người chưa có passport cũng muốn về Việt Nam. Đây là loại khách hàng béo bở, lời nhiều. Ng. th. B. lập một danh sách những người chỉ có sổ xanh (Travel Document), nộp đại sứ quán Việt Nam, 12 Victoria Road, Kensington, W12, London, xin visa tập thể. Những người này dưới danh nghĩa, đoàn du lịch Châu Âu do Ng. th. B. hoặc người thân của chị làm trưởng đoàn, đưa đi đưa về. Ban đầu, dịch vụ khá kín đáo, nhằm vào những gia đình người Việt miền Bắc, người nọ truyền tai người kia bằng đường dây điện thoại, thì thào to nhỏ, tìm mọi cách tránh sự tò mò những người làm việc trong cộng đồng và người miền Nam.

Vợ chú S, cô B. , cô T. vợ anh H. phôn cho vợ tôi, hỏi, có về Việt Nam không? Chưa có passport đi sao được. Yên tâm, khu nhà em mấy chị đi về rồi, an toàn lắm. Họ kể con đường bí mật về Việt Nam qua Ng. th. B. như sau. Gọi điện thoại theo số xxxx , chị B. sẽ đến tận nhà trao đổi cụ thể. Nộp tiền, sổ xanh (Travel Document), hẹn ngày giờ cụ thể, đến điểm hẹn, sẽ có người đưa ra phi trường Heathrow, hết hạn người nhà ra phi trường đón về. Đã có nhiều chuyến “du lịch” đi về an toàn. Đi không? Đăng ký ngay chứ tết ta này (1987) đông lắm, hết chỗ. Năm 1987, bố vợ tôi bị ung thư, bệnh tình nặng dần, tuy vậy chúng tôi từ chối, không về theo đường dây chui, chờ có passport sẽ tính sau, dù vợ tôi rất nóng ruột. Chúng tôi không muốn vi phạm pháp luật dù nhỏ nhất.

Dịch vụ du lịch Việt Nam đã giúp Đại Sứ quán Việt Nam vươn bàn tay bẩn thỉu tới cộng đồng người tỵ nạn Việt Nam ở UK. Ngày lễ, ngày tết, nhiều gia đình được tòa đại sứ kín đáo gửi giấy mời. Gọi là đến dự liên hoan do tòa đại sứ chiêu đãi, nhưng hầu hết người tỵ nạn mang đồ ăn và đóng tiền “hụi chết” cho chúng. Ít cũng 20 bảng, nhiều 100 bảng, kẻ mắc bệnh sĩ còn đóng cao hơn. Nhân ngày 02-9-1988, Đại sứ quán Việt Nam mời “Vịt cừu yêu nước” đến dự lễ, không ngờ người đến dự bị người chống cộng la ó, chửi mắng, ngăn cản. Có người ném cả chất bẩn (phân người) vào đám Vịt Cừu đang khệ nệ bưng cơm, bia lạnh… cống nộp. Một cuộc ẩu đả lộn xộn xảy ra ngay trước tòa đại sứ. Không có cái ngu nào giống cái ngu nào, tên bí thư thứ 2 cầm khẩu súng ngắn, đứng trước cửa tòa đại sứ, giơ ra dọa bà con biểu tình. Nó làm như London này là Hà Nội của nó không bằng, muốn dọa nạt, muốn bắn ai thì bắn chắc. Một hành động côn đồ không thể tha thứ ở xứ tự do, dân chủ này. Hôm sau, tất cả báo chí trong nước cũng như các đài truyền hình BBC 1, BBC 2, ITV, Channel 4 trong bản tin thời sự nhất loạt đưa tin và bình luận. Ảnh bí thư đại sứ quán Việt Nam, mặt mày bặm trợn, giơ súng đe dọa người biểu tình chống cộng tại London được bêu trên trang nhất với lời bình luận, châm biếm sâu cay. Đại sứ quán Việt Nam bị triệu tập, phải giải trình vụ việc, nguồn gốc khẩu súng với Bộ Ngoại giao UK. Ban đầu viên đại sứ bào chữa “súng giả”, nhưng khi phân tích bức ảnh trên máy vi tính, cãi láo không xong. Tuần sau, tên bí thư bị trục xuất, mấy tháng sau viên đại sứ Việt Nam bị triệu hồi, thay ngựa khác.

Cũng vì chuyện ném phân vào người, vào sân đại sứ quán, chính phủ Anh ra thông báo, từ đó đoàn biểu tình chống cộng không được đi ngang qua Victoria Road.

Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng lòi ra. Chuyện người tỵ nạn về Việt Nam bằng Travel Document gây sốc cho cộng đồng, nhất là những người chống cộng cực đoan. Họ tìm mọi cách ngăn cản, tố cáo với nhà chức trách bằng mọi cách, chờ những đoàn người từ Việt Nam về, đem theo biểu ngữ tiếng Anh và tiếng Việt tại phi trường Heathrow tố cáo sự gian lận, hô khẩu hiệu đả đảo… Tất cả những cuộc biểu tình lẻ tẻ, không làm cho Ng. Th. B. chùn bước. Kinh doanh là kinh doanh, tiền là tiên là Phật… không chỉ Ng. Th. B. mà Đại sứ quán Việt Nam liên kết với một gia đình ở Camberwell Green làm dịch vụ này, nhưng làm ăn thiếu chữ tín, cơ sở này sập tiệm sau một thời gian ngắn.

Tháng 11-1987, cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập một số sĩ quan VNCH, đa số cấp úy, (khoảng trên dưới 30 người) họp tại số nhà 7/72 Crytal Palace Park Road, South East London, nội dung thảo luận thành lập chính phủ lâm thời Hải ngoại. Trước ngày họp, chúng tôi, trung tá bác sĩ C., chủ tịch cộng đồng ông T, và tôi đang ngồi tại văn phòng cộng đồng quận C tán gẫu, đại úy X. đến, đưa giấy mời trung tá bác sĩ C. và ông chủ tịch T. tới dự, đại úy X còn nói thêm, “được gặp tổng thống là điều vinh hạnh”. Cả hai đều từ chối tham dự, bác sĩ C., bảo, “Cám ơn, tôi không muốn vinh hạnh này”, ông nói tiếp “ông Thiệu không còn là vị thổng thống của tôi, ổng đã từ chức trước khi ông đào tẩu.” Trung tá bác sĩ C., nói với tôi, “tốt nhất ông Thiệu nên đứng phía sau, ủng hộ lớp trẻ thành lập tổ chức, số vàng 17 tấn, ông nên trao lại cho tổ chức chống cộng chân chính khác”. Chuyện 17 tấn vàng ồn ào từ lâu, mọi người tin rằng, trước khi đào tẩu, ông Thiệu đã chuyển số vàng sang Đài Loan. Tiếng oan ấy mãi đến năm 2007 (?) chính phủ CHXHCN Việt Nam mới xác nhận, cố tổng thống Thiệu không (kịp) chuyển đi, 17 tấn vàng vẫn trong ngân khố quốc gia. Tiếng oan được giải, ông đã trở về cát bụi.

Kinh thành London, nơi có rất nhiều các chính trị gia, vua chúa, thủ tướng, tổng thống… thất thế, sống lưu vong ở khu Kensington, Wimbledon, cũng là nơi có nhiều cuộc vận động chính trị của những chính trị gia đó. Hè 1988, tại Hội chợ Việt-Miên-Lào, tổ chức tại vườn hoa quận Lambeth, London, vô tình tôi đã gặp và nói chuyện với cựu Quốc Vương Norodom Sihanuc, thời ấy ông đang sống lưu vong tại Pháp. Báo chí miền Bắc đưa tin, năm 1969, khi ông Hồ qua đời, ông thắp 79 ngọn nến và cầu siêu 79 ngày để lấy lòng Bắc Việt. Ấy thế, tháng 5-1970, trong khi viếng thăm Paris, ông bị người cậu ruột đảo chính, lật đổ ngai vàng. Theo như cụ Nguyễn Văn Hoàng Đạo[1] kể, ông từng ăn chực nằm chờ tại nhà khách của Nguyễn Duy Trinh, bộ trưởng Bộ Ngoại giao VNDCCH thời bấy giờ, nhờ giúp đỡ, nhưng bị từ chối. Gặp và nói chuyện, tôi thấy đôi mắt ông thường xuyên đảo nhìn 4 phía. Không biết có phải ông cảnh giác sợ bị ám sát hay vì lý do nào đó không rõ, nhưng tôi thật sự không có cảm tình với người có đôi mắt đảo nhiều như vậy. Người ta bảo, gia đình ông Thiệu sống trong một biệt thự ở Wimbledon từ năm 1982 sau đó chuyển sang Hoa Kỳ cho đến khi ông qua đời (2002).

Sau cuộc họp do cố tổng thống Thiệu chủ trì, phong trào đấu tranh chống cộng lan rộng, bùng phát ở một số quận ở London. Nhiều cuộc họp kín, quyên góp, những tin đồn về tổ chức A, tổ chức B… đã về Việt Nam yểm trợ phong trào trong nước lan rộng. Nhiều tờ báo, tập san ra đời ủng hộ phong trào chống cộng. Trong khi đó, Ng. th. B., vẫn tổ chức những chuyến du lịch về Việt Nam qua hệ thống “sổ Xanh” visa chui vẫn phát triển, không chỉ ở những thành phố đông người Việt như London, Birmingham, Leed… mà lan đến cả Scotland.

Hầu hết cộng đồng tỵ nạn Việt Nam ở các quận công khai phản đối những người về Việt Nam, họ không cần biết vì sao, lý do gì, tại sao phải về. Cứ về Việt Nam là bị chửi rủa, lên án, bằng nhiều hình thức, viết thư nặc danh đe dọa, chửi bới cá nhân, qua đường bưu điện hay trực tiếp bỏ vào nhà. Họ không dám công khai, luật pháp Vương quốc Anh không cho phép bất cứ ai xâm phạm, can thiệp đời tư của người khác, việc này có thể bị truy tố trước pháp luật.

Chị T. năm 1988 về Việt Nam đón cha già sang định cư. Anh chị xin bảo lãnh cho cha mẹ từ năm 1977, sau hơn 10 năm mới được chính phủ Việt Nam cho xuất cảnh, cụ ông đã ngoài 80, rất yếu. Cụ bà qua đời ba năm về trước, không đủ sức chờ ngày đoàn tụ. Chị phải về Sài Gòn đón cha già. Ấy thế, chồng chị, anh T., chủ tich cộng đồng quận tôi, đi đến đâu cũng bị đồng hương chống cộng, xua đuổi với những lời khiếm nhã. Họ không cần biết tại sao chị về Việt Nam, chỉ biết Tỵ Nạn Cộng Sản mà lại về Việt Nam! Họ coi những người về Việt Nam là người xấu, con cừu đen trong đàn cừu trắng. Năm 1988, vợ tôi về chịu tang, mấy tháng sau, một tối thứ Bảy sau tết âm lịch 1989, chúng tôi đang xem film khuya, cạch một tiếng, như ai đụng cửa, tôi vén rèm che cửa sổ phòng khách, nhìn thấy cô X. vợ thiếu úy Z chui vội vào chiếc xe Ford màu đỏ, động cơ rít lên lao vụt đi. Một lá thư nặc danh vất vào nhà. Nội dung, lời lẽ khiếm nhã: chửi vợ chồng tôi thậm tệ, vì vợ tôi đã về Việt Nam. Cô X. là ai? Là vợ thiếu úy Z cách nhà tôi không xa. Vợ chồng từ Brixton chuyển xuống quận tôi từ năm 1988, làm nghề may tại gia, vợ tôi cũng may, hai nhà cách nhau con phố nên khá thân thiết. Chính tôi là người giúp 2 đứa con lớn cô chú học võ thuật, nhiều lần cô chú bận, tôi đón 2 cháu đến võ đường cùng con tôi. Hai người vượt biên, định cư ở UK năm 1978, Z. là thiếu úy lái trực thăng không lực VNCH (theo như tự kể), sau vượt biên lấy nhau, chưa đăng ký, tháng Sáu 1988, chính hai người nhờ chúng tôi đến dự buổi kết hôn tại phòng Đăng Ký kết hôn quận C… Thế mà chỉ vài tháng sau, nỡ nào cô X. ném thư nặc danh vào nhà sỉ vả chúng tôi! Để khỏi ngờ oan, làm như vô tình, tôi đã kiểm tra được nét chữ và xác nhận lá thư nặc danh, nét chữ nguệch ngoạc, chưa hết cấp I của cô X., chứ không phải thiếu úy Z. Vợ tôi uất lắm, định khởi kiện, nhưng tôi cho qua, không chấp.

Không biết có phải do áp lực của các cộng đồng, của cựu chiến binh VNCH, của những người chống cộng cực đoan hay không, anh L.T.T. thay mặt Cộng đồng Tỵ nạn Việt Nam Vương quốc Anh, viết đơn lên Bộ Nội vụ tố cáo những người tỵ nạn về Việt Nam theo ngả chui do Ng.Th. B. tổ chức, yêu cầu tước quyền tỵ nạn của họ. Thay mặt cho Bộ Nội vụ, ông C. Marsh trả lời bằng văn bản, trong đó có đoạn như sau:

I must stress that Vietnamese who do visit Vietnam are in no way breaking any law in this country.

Bức thư này được sao làm nhiều bản, gửi tới tất cả văn phòng cộng đồng tỵ nạn Việt Nam ở UK. Chuyện vỡ lở, gây chia rẽ khối đoàn kết cộng đồng tỵ nạn người Việt ở London. Những năm 1980, 1990 người tỵ nạn Việt Nam ở Anh trên 60% là người miền Bắc, trong đó đa số là người Việt gốc Hoa, vì thế một vài quận tách ra, thành lập Cộng đồng tỵ nạn người Việt gốc Hoa, xin kinh phí và tài trợ riêng của Council.

Từ cuối thập niên 1990, số người tham gia cộng đồng Việt Nam giảm dần, trong khi cộng đồng Hoa kiều tăng nhanh và sát nhập với Hội Hoa Liên ở China Town. Lý do, người Hoa có truyền thống đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau từ lâu đời, hơn nữa có nhiều hình thức sinh hoạt hấp dẫn hợp với mọi lứa tuổi. Thanh thiếu niên tập võ Thiếu Lâm Tự, người già tập Thái cực quyền, chơi mạt-chược, cờ tướng… và hầu như không tham gia, bàn tán chuyện thời sự chính trị.

Ngày nay, đại sứ quán Việt Nam, vươn bàn tay tới nhiều nước, nhưng tại London này, họ chỉ mới “túm tóc, sờ gáy” được du học sinh, dăm mống hội viên “Vịt cừu yêu nước”, một số doanh nghiệp có cơ sở kinh doanh ở Việt Nam… con số này rất nhỏ so với >40 ngàn người Việt định cư tại Vương quốc Anh.

Cuối năm 1988, chúng tôi nhận được điện khẩn, bố vợ tôi qua đời. Chúng tôi lên Đại Sứ quán Việt Nam xin visa gấp. Theo hẹn, đúng 10 giờ sang thứ Bảy, tôi bấm chuông, một người đàn ông trên dưới 50, quần dài, áo may ô ba lỗ, dáng ngái ngủ, mở cửa đi ra sân. Tôi lên tiếng qua cổng sắt:

“Chào bác, theo hẹn, hôm nay tôi đến gặp ông Ng. H. Ph.”

Vừa làm động tác tập thể dục, tay đưa lên đưa xuống, ông đi dần ra cổng, giọng ngái ngủ, bảo:

“Anh Ph. đi vắng.”

Tôi không tin vào tai mình, hỏi lại:

“Ông Ph, hẹn tôi 10 giờ, sao lại đi vắng?”

“Ừ, thế vầy đấy!”

Hẹn khách mà lại đi vắng, có cán bộ sứ quán nước nào làm ăn cà-chớn như thế không? Tôi hỏi lại:

“Bác biết ông Ph. Bao giờ về không?”

“Chịu, tôi không biết. Hay thế vầy, lát nữa anh chị quay lại.”

Chúng tôi rất thất vọng, chửi thầm, đi ra xe, vừa lúc đó, chiếc xe Ford cà-tàng màu đỏ, cửa mở, một người đàn ông Việt khoảng 40 tuổi bước ra, tươi cười, hỏi:

“Có phải anh chị M. không?”

“Vâng, anh là anh Ph.?

“Xin lỗi, tôi có chút việc, nên về muộn. Xin mời anh chị vào”.

Anh đưa chúng tôi vào phòng khách, trong phòng trang trí đơn giản. Một bộ sô-pha, bàn uống nước, cốc chén, giữa phòng sát tường treo cờ đỏ và bức tượng thạch cao bán thân hình ông Hồ. Tôi đưa anh xem bức điện tín, vợ tôi nộp hai đơn xin về Việt Nam kèm 2 ảnh và tờ bạc mệnh giá £50. Thái độ anh vui vẻ, cởi mở, sau vài câu hỏi xã giao, anh bảo chúng tôi ngồi chờ, anh lên gác đóng dấu, ký tên cấp visa vào passport cho vợ tôi. Theo quy định, lệ phí visa 1 lần 25$ Mỹ kim, khẩn cấp 30$/lần, nhưng ở London, họ thu £25 Anh kim hay 30 Anh kim, mặc dù có thời kỳ hối đoái, 1 bảng=2 Mỹ kim, họ cứ tỉnh bơ như không biết quy định. Anh trả passport cho vợ tôi, trước khi ra về, vợ tôi nhắc khéo:

“Anh chưa thối lại tiền thừa!”

Hơi đỏ mặt, rút ví, anh bảo:

“Xin lỗi, mải nói chuyện tôi quên khuấy. Xin lỗi chị nhé.”

Ra ngoài đường, vợ tôi bảo:

“Không nhắc, nó có trả khối ra đấy. Hai chục, chứ đâu có phải ít.”

Năm 2001, chúng tôi lại đến xin visa vì mẹ vợ tôi ốm nặng, lần này vào chiều thứ Tư, khách nước ngoài rất đông. Sau khi dán tem visa (không đóng dấu nữa), ký tên, người bí thư thứ 3 ra tận ngoài trao passport cho vợ tôi và hỏi chuyện thân mật. Chị tâm sự, sắp hết hạn, phải về nước nhận nhiệm vụ khác, nhưng có thằng con đang học, nếu có thể được, giúp chị cho cháu tá túc đến nghỉ hè (gần 6 tháng), mọi chi phí chị xin thanh toán đầy đủ. Tôi từ chối, lý do, nhà chật, không có dư buồng, muốn giúp lắm nhưng “lực bất tòng tâm” mong chị thông cảm.

Ngày xưa, CBCNVC toà đại sứ, cuối tuần thường đi Car Boot Sale mua đồ second hand như máy giặt, tủ lạnh, ti vi màu… đóng hòm gửi về kiếm chác. Theo quy định, mỗi quý (3 tháng) toà đại sứ được gửi 1 container miễn thuế, vì thế bí thư Ph. đi chợ Jumble Sale về chậm, tí nữa làm chúng tôi lỡ việc.

Ngày nay, các bà các chị làm việc tòa đại sứ có chiêu mới, gửi con ở lại, nhờ “Vịt cừu” giúp nơi ăn chỗ ở miễn phí, lý do hết hạn phải về nước, nhiều người bùi tai và nhẹ dạ cả tin đã giúp miễn phí.

Có lẽ trên thế giới này chỉ có Việt Nam đi du lịch phải làm đơn xin. Ai muốn về Việt Nam thăm thân nhân hay du lịch đều phải điền Đơn Xin Về Việt Nam. Chế độ Xin-Cho đã quá lỗi thời, ấy thế trong đơn xin còn có những câu hỏi mách qué: Lý do rời Việt Nam? Lý do về Việt Nam? Ngoài ra còn hỏi họ tên tuổi thân nhân còn ở Việt Nam.Tờ đơn xin visa chẳng khác gì Bản Sơ yếu Lý lịch, kể lai lịch, nguồn gốc người đi du lịch! Chúng tôi đi du lịch nhiều nước, không có nơi nào phải làm đơn Xin Du lịch như nhà nước Việt Nam. Một thủ tục quái đản cần phải xóa bỏ.

Sau gần 10 năm (1988), vợ tôi về chịu tang, chúng tôi đến đại lý bán vé máy bay High Street quận C. đều không có vé đi Việt Nam. Vào một đại lý Pakistan đầu phố, sau gần 1 giờ bấm computer, cô nhân viên bán vé, báo giá £500/return ticket. Tôi hỏi lộ trình bay, ngày giờ cất cánh… mụ Pakistan làm tôi lộn ruột, bảo:

“Từ Heathrow bay đến Seoul, đến Seoul mua vé đi về Việt Nam”.

Thế có điên không chứ. Nhìn tấm bản đồ thế giới to đùng dán trên tường, hình chữ S ghi An-Nam, chả trách bà ta định bán vé cho vợ tôi bay sang Nam Hàn rồi đi mua vé tiếp bay về Việt Nam.

Cuối cùng cũng mua được vé về Nội Bài, hãng hàng không Tiệp, giá £650/return ticket, qua Praque, Karachi, Bombay. Sau gần 20 giờ bay, mệt lử, đến sân bay Nội Bài lại bị hải quan Việt Nam gây khó dễ. Hai chiếc va-li bị nhân viên hải quan cất (hay giấu?) vào văn phòng. Vợ tôi tìm vàng mắt không thấy ở băng dây chuyền, mọi người đã ra hết, băng chuyền không còn hành lý nào. Còn trơ lại một mình, vợ tôi đành hỏi một nhân viên hải quan. Anh ta tủm tỉm cười, rồi dẫn vợ tôi vào văn phòng, chỉ vào 2 chiếc va-li, hỏi:

“Có phải của chị không?”

“Sao lại ở đây?”

“Chúng tôi quan tâm cất hộ vì sợ bị thất lạc, chị không cám ơn mà lại còn hỏi.”

Vừa mệt, vừa tức lộn ruột, nhà tôi buông một câu:

“Cám… ơn…!”

Hồi ấy Vịt Cừu về Việt Nam ít lắm, danh sách chắc đã được báo trước nên mới có chuyện này. Cả chuyến bay qua ngả Tiệp Khắc có mỗi vợ tôi từ Anh quốc.

Kéo hàng lý ra khu kiểm tra, không kẹp tờ 20 dollar xanh, chúng tôi không quen hối lộ, chẳng có hàng gì phạm pháp, quá quy định mà phải đút lót, được nhân viên kiểm tra hàng hóa, buông một câu vu vơ:

“Bồi dưỡng cho anh em uống cà-phê chứ.”

Bực mình và tức đến nổ ruột vì hơn tiếng đồng hồ tìm hành lý, nhà tôi nói:

“Các anh thông cảm, về chịu tang nên không kịp mua quà!”

Con mẹ này láo, sẽ biết tay chúng ông!

Đúng thật, sau 4 tuần hết hạn, vợ tôi ra sân bay Nội Bài làm thủ tục xuất cảnh. Nộp đủ 3 tờ khai cho nhân viên hải quan mà lần trước đã gặp. Y nhìn hộ chiếu, nhìn trừng trừng như thể (có đúng con mẹ này không?), nhà tôi cũng không vừa, cũng chằm chằm nhìn lại (3 nhân viên hải quan). Tay nhận giấy nói:

“Chị thiếu giấy chứng nhận tạm trú. Chúng tôi phạt chị mỗi ngày 10 đô, 28 ngày cứ thế mà nhân lên.”

Nói xong, y thủng thẳng đứng lên, đút tay túi quần, đi bách bộ xung quanh quầy kiểm tra ra chiều đắc ý.

Nhà tôi cũng đáo để, nói to:

“Tôi nộp đủ 3 tờ giấy cho anh. Anh giấu đi đâu, bây giờ định phạt vạ tôi. Xin lỗi nhé, tôi chả có đồng xu dính túi nào mà cho các anh. Tôi nói thật, chuyến máy bay này thiếu tôi cũng không thể bay được. Cho tôi gặp người lãnh đạo sân bay.”

Rồi nhà tôi làm ầm lên, bao nhiêu người xúm lại xem. Một vài du khách nước ngoài thấy to tiếng cũng lại gần. Gặp con mẹ tai quái này không khéo thua trắng bụng! Cho nên y giả vờ cúi xuống:

“Đây rồi, giấy của chị rơi xuống sàn!”

Không những thế, ở Việt Nam 4 tuần, tất cả hàng hoá dịch vụ đối với Việt kiều đều bị “chém đẹp”, các cửa hàng, nhà ga, bến xe họ công khai niêm yết giá cả gấp đôi. Bởi vì Việt kiều thời ấy vẫn (phải) khoác áo “bọn lưu vong phản quốc”, chưa được khoác áo gấm “Việt Kiều yêu nước”, không được đón tiếp rầm rộ, có cả còi hụ dẹp đường đưa về khách sạn như ngày nay.

Chuyến bay trở về từ Nội Bài – Praque toàn thanh niên Việt Nam lao động xuất khẩu sang Tiệp trả phép, va-ly túi xách của họ căng phồng hàng mỹ phẩm (son, phấn…) buôn lậu của Thái Lan, Singapore. Nhà tôi kể, khu ngồi chờ lên máy bay để một số chai nước suối cho hành khách, các thanh niên này hò nhau vơ hết, có đứa lấy 4 chai, khát nước đành chịu. Ngồi cùng hàng ghế, hai thanh niên nói với nhau những mẩu chuyện buôn lậu, hàng gì ăn khách, bán cho ai… và chuyện bẩn thỉu trai gái, đĩ điếm. Một tên trên 30 tuổi, nói nhỏ:

“Vừa rồi tao lừa được con vợ già nhà quê, làm giấy ly hôn giả, kỳ này sang, tao sẽ lấy con Tây để ở lại”! Nói xong, nó cười đắc ý.

Nghĩ đến chuyến đi Việt Nam năm 1988, vợ tôi ớn đến tận cổ, ghê tởm sự đểu giả, gian manh của bọn quan chức cộng sản Việt Nam. Sự gian manh đểu cáng bắt đầu ngay từ khi xuống máy bay. Từ bọn hải quan làm thủ tục xuất nhập cảnh, bọn kiểm tra hành lý ở băng truyền đến UBND xã khi đến trình báo tạm trú đã gây một ấn tượng rất xấu, một đi không muốn trở lại.

Hơn 10 năm sau, 2001, khi nhạc mẫu tôi ốm nặng, vợ tôi mới lại về chăm sóc thuốc thang, trước khi bà qua đời. Năm 2004 chúng tôi về sang cát, đến nay vẫn chưa biết có nên về Việt Nam du lịch lần cuối cùng, trước khi “đi xa” hay không. Tôi vẫn nặng lòng với đất Cảng, nơi tôi sinh ra, lớn lên, nơi in dấu biết bao kỷ niệm vui buồn của thời niên thiếu. Nơi đầy nắng và gió biển, nơi phượng vĩ đỏ rực trời mỗi khi tiếng ve sầu rả rích báo hiệu hè về.

Nhưng không phải vì nỗi niềm đau đáu ấy mà chúng tôi trở về thăm viếng Việt Nam với mọi giá.

© 2010 Lâm Hoàng Mạnh

© 2010 talawas


[1] Chú thích: Nguyễn Văn Hoàng Đạo, đảng viên cộng sản 1930, cựu tình báo cộng sản cỡ bự, trá hàng Pháp 1949, làm Quốc Vụ Khanh cho Quốc trưởng Bảo Đại. Năm 1951 đã lừa được chính phủ Bảo Đại cướp 1 tàu hải quân đem về cho Việt minh. Bị thất sủng khi ông Hồ qua đời.

Bình luận

3 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (5)”)

  1. nguoiyeunuoc viết:

    Qua sông nên phải lụy đò
    Muốn thăm quê mẹ, phải lo đút tiền.

  2. Lê Văn viết:

    Đọc những bài viết vừa vui vừa buồn của bác Lâm Hoàng Mạnh bấy lâu nay, bây giờ mới có dịp viết vài chữ cám ơn bác đấy.

    Riêng lần này tôi xin đồng cảm với câu kết: “Nhưng không phải vì nỗi niềm đau đáu ấy mà chúng tôi trở về thăm viếng Việt Nam với mọi giá.”

    Lâu lắm rồi – gần 40 năm – tôi cũng chưa về thăm viếng Việt Nam cũng vì không đủ lý do, cho dù cũng có lúc nhớ quê hương đến đau cả lòng!

  3. vantruong viết:

    Những chuyện bố láo bố lếu của những nhân viên nhà nước CHXHCN ở bên Anh sao mà giống tuồng bên Paris – Pháp quá vậy bác Lâm Hoàng Mạnh? Vậy là họ có bài bản hết rồi chỉ cần thay đổi diễn viên và giọng hót cho tùy thời những lúc trở mùa thôi ạ.
    Năm 1994 lần đầu xin về VN sau gần ¼ thế kỷ đi xa, vì gấp tôi có lên thẳng TĐS CHXHCNVN tại Paris xin visa và xin được giải quyết nhanh chóng, mấy anh phán ỏng chê eo tôi cảm thấy mất thì giờ và vì cũng không có thói quen uốn lưỡi tôi liền lấy lại passport rồi mang ra quận 13 nhờ cái “Agence de voyage” của người gốc Hoa cho họ chạy giấy hộ.
    Hai ngày sau họ téléphone về tận nhà gọi ra lấy visa/passport và vé máy bay. Lâu ngày tôi không nhớ chính xác số tiền phải trả cho visa là bao nhiêu nhưng đâu vào khoảng 200 Francs thời đó và tương đương với giá hai thằng đi ăn couscous và uống rượu đỏ thoải mái phê phê để có thể thành tự nhiên như người Hà Nội rồi.
    Về tới Tân Sơn Nhất (thời đó) trong khi khoanh tay chờ đợi lấy con dấu qua cửa hải quan và lấy lại hành lý (đang qua máy ngắm) tôi chứng kiến tận mắt màn đút lót tiền sau lưng cho mấy anh cán.
    Năm 1998 về chơi cùng với đám bạn người Pháp, lúc ra phi trường về mấy quan đòi kiểm soát mấy cuốn vidéo 8 tụi nó quay cảnh lúc đi chơi. Gặp đám trời đánh đã từng lăn lóc tứ xứ Phi Châu, Trung Đông, Ấn Độ, chúng bô bô kháo với nhau nhao nhao bằng tiếng Pháp: “Thì mày cứ lấy cuộn phim kéo băng ra đưa cho nó kiểm soát, giữ lõi phim lại làm chứng,” và lập tức chúng chơi liền. Thấy gặp phải đám “Chí Phèo” mặt trắng khó nhá quan ta đành phải xua tay cho đi qua. Mà những lần đó và sau toàn là dân gốc Bắc mới khổ chứ. Bên Pháp vẫn còn những tay cán ra nhờ “Vịt cừu” (như bác gọi) tìm mua nhà cửa cho con cái chúng và trả cash đấy.
    Tôi vẫn nghĩ có những chi tiết trong những chuyện bác kể có thể là những đề tài để đào sâu mà dựng thành phim được. Cám ơn bác nhiều.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>